Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Thông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 445058
Thông tin Văn Hóa
Thứ 3, Ngày 28/05/2013, 08:14
Dấu ấn lịch sử một bài ca dao được sưu tầm ở Thủ Thừa
28/05/2013

Thủ Thừa là vùng đất được khai phá từ lâu đời. Cuối thế kỷ XVIII,  ông Mai Tự Thừa đến đây khai cơ, mở đất, lập chợ, đào kinh, mở đầu cho sự thịnh vượng của vùng đất Thủ Thừa ngày nay. Ghi nhớ công ơn của ông, tên Thủ Thừa trở thành địa danh chỉ một quận của tỉnh Tân An từ năm 1922. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khu vực kinh Trà Cú Thượng, kinh Bo Bo là vùng căn cứ cách mạng quan trọng, là hành lang chiến lược nối liền phía bắc và phía nam lộ 4 (quốc lộ 1 ngày nay). Nhân dân Thủ Thừa tự hào vì đã đóng góp  nhiều công của, máu xương để góp phần tô điểm cho truyền thống “trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc” của đất và người Long An. Không những thế, Thủ Thừa còn là địa phương giàu truyền thống văn hóa. Câu chuyện tôi trình bày sau đây là một minh chứng cho bề dày về lịch sử và văn hóa của vùng đất Thủ Thừa.

Nhân một chuyến công tác ở Thủ Thừa, tôi được Lương y Lê Văn Chấn, nguyên giáo sư trường Trung học Thủ Thừa trước năm 1975, cung cấp một bài ca dao, nguyên văn như sau: 

“Cầu ông mưa thuận gió hòa,
Cho cây lúa trổ, cho cà đơm bông.
Cùng nhau xúm lại cúng ông,
Có trà, có bánh, có lồng đèn xanh.
Lòng người như bóng trăng thanh,
Vui tình đất nước, dân lành ấm no”. 

Chỉ có sáu câu lục bát, nhưng với lời lẽ trong sáng, giản dị, bài ca dao đã gây ấn tượng mạnh và khơi gợi nhu cầu tìm hiểu trong tôi. Qua chỉ dẫn của các bậc cao niên, tôi đến khảo sát, nghiên cứu tại đình Vĩnh Phong-một ngôi đình cổ, được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX tại thị trấn Thủ Thừa- và được biết thêm  một số vấn đề về lịch sử-văn hóa thú vị xung quanh bài ca dao. Đối tượng mà nhân dân thờ cúng và gọi bằng “Ông”, một cách tôn kính trong bài ca dao chính là tiền hiền Mai Tự Thừa, người có công lập nên chợ Thủ Thừa. Ôâng  quê ở làng Bình Cách, tổng Kiến Thạnh, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường. Khoảng đầu thế kỷ XIX, ông đến làng Bình Lương Tây, huyện Thuận An (nay thuộc Thị trấn Thủ Thừa) để khai khẩn đất đai. Đầu tiên, ông cất một căn nhà lá tại bờ nam kinh Trà Cú bên cạnh vàm Rạch Cây Gáo và khẩn hoang 4 mẫu đất dọc theo kinh Trà Cú- bắt đầu từ rạch Cây Gáo chạy dài về phía đông bắc (phần đất này hiện nay là nơi đóng trụ sở của Huyện ủy, UBND huyện Thủ Thừa). Ôâng còn vét ụ dưới kinh Trà Cú làm bến thuyền và đắp một con đường dọc theo rạch Cây Gáo để nhân dân thuận tiện đi lại. Sau đó, ông mở một ngôi quán nhỏ tại nhà để trao đổi, mua bán với thương thuyền dưới kinh Trà Cú và bà con trong vùng. Quán của ông lập ở bờ kinh, ngay vị trí giáp nước nên ghe thuyền neo đậu rất đông. Vì thế, việc mua bán của ông phát triển rất nhanh, dần dần thu hút nhiều người  đến hai bờ kinh Trà Cú cất nhà sinh sống. Từ đó, đoạn Kinh Trà Cú gần nhà ông còn được gọi là rạch Giang Cư.

Để đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua bán ngày càng cao của nhân dân, ông bèn xin làng Bình Lương Tây cho phép lập một ngôi chợ bằng lá trên phần đất của mình. Đây chính là tiền thân của chợ Thủ Thừa ngày nay. Đầu thế kỷ XIX, kinh Trà Cú là con đường quan trọng để lưu thông từ Sài Gòn xuống miền Tây. Ghe thuyền xuôi ngược trên kinh này khi đến giáp nước gần chợ Thủ Thừa đều phải neo đậu chờ con nước, vì thế ngôi chợ của ông Mai Tự Thừa trở thành một chốn mua bán rất sầm uất, dân cư đông đúc. Thấy vậy, ông Mai Tự Thừa làm đơn xin với quan trên tách khỏi làng Bình Lương Tây, lập một làng mới lấy tên là Bình Thạnh. Ông còn hiến phần đất cất quán của mình trước đây ở sát bờ rạch Cây Gáo để cất một ngôi đình thần bằng lá. Đó chính là tiền thân của đình Vĩnh Phong hiện tại.
Năm Minh Mạng thứ 10 (1829) Vua Thánh tổ Nhân hoàng đế nhà Nguyễn (vua Minh Mạng) ra lệnh cho Tổng trấn Gia Định thành là Lê Văn Duyệt huy động 16.000 nhân công nạo vét kinh Trà Cú từ vàm Thủ Đoàn đến thôn Bình Ảnh dài 1.220 trượng, rộng 9 trượng, sâu 1 trượng. Nhờ thế, ghe thuyền đi lại rất thuận tiện. Vua Minh Mạng liền cho đổi tên kinh Trà Cú thành sông Lợi Tế. Tương truyền, trong công cuộc nạo vét kinh Trà Cú, ông Mai Tự Thừa đã đóng góp nhiều tiền của và đứng ra chiêu mộ nhân công. Năm 1832, ông Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất. Vua Minh Mạng nhân đó bãi bỏ chức Tổng rrấn Gia Định thành, chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh, đặt chức Tổng đốc, Bố chính, Aùn sát, Lãnh binh ở mỗi tỉnh để cai trị. Tả quân Lê Văn Duyệt tuy đã mất cũng bị triều đình luận tội và cho san bằng mồ mã. Lê Văn Khôi là con nuôi của ông Lê Văn Duyệt vì uất ức đã khởi binh chiếm tỉnh thành Phiên An và lấy luôn 6 tỉnh Nam Kỳ trong năm 1833. Lúc bấy giờ, ông Mai Tự Thừa  bỏ nhà ra đi vào ngày mồng 10 tháng 10 và không trở về nữa. Ông đi đâu và mất tích trong trường hợp nào không ai biết được rõ ràng. Mãi đến năm 1990, nhân có một phái đoàn của Bộ Văn Hóa Thông Tin đến thăm, Ban Hội Hương của Đình Vĩnh Phong mở hộp sắc thần, phát hiện dưới đáy hộp một tờ phúc bẩm của Hương chức làng Vĩnh Phong trả lời nguồn gốc công thổ chợ Thủ Thừa. Tờ phúc bẩm này cho biết ông Mai Tự Thừa đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi và chết mất xác trong thành Gia Định trong khoảng thời gian 1833-1835. Nhờ thế, những giả thuyết mơ hồ về sự mất tích của ông từ trước đến giờ đã bị xóa bỏ, hậu thế cũng biết được một cách khái lược hành trạng của ông lúc cuối đời.
Sau khi khép tội “tùng nghịch” cho Mai Tự Thừa, Triều Nguyễn đã xóa sạch mọi công lao của ông trên mảnh đất Thủ Thừa. Làng Bình Thạnh do ông lập ra bị đổi tên thành làng Vĩnh Phong. Ngôi đình do ông dựng nên cũng bị dời đi nơi khác. Cái chợ cùng điền sản của ông bị phát mãi và phân tán vào các làng. Vợ con của ông bị lưu đày khổ sai, sau được ân xá nhưng phải đi biệt xứ. Tuy nhiên, những hành động nói trên không thể xóa mờ công đức của ông Mai Tự Thừa với nhân dân Thủ Thừa. Tưởng nhớ công lao khai hoang mở đất của ông, mọi người đã tôn ông làm Tiền Hiền và đưa vào thờ ở gian bên phải chánh điện Đình Vĩnh Phong với bài vị:” Tiền Hiền Mai Tự Thừa- Chủ thị”. Hàng năm, vào ngày 10 tháng 10 âm lịch- ngày mà ông Mai Tự Thừa lên Thành Gia Định tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi- đồng bào Thủ Thừa tề tựu tại Đình Vĩnh Phong làm lễ giỗ ông.
Trở lại với bài  ca dao nói trên, chúng ta thấy rằng tục lệ giỗ ông  Chủ chợ đã có từ hơn 1 thế kỷ qua của nhân dân Thủ Thừa đã được phản ánh một cách sinh động. Bằng thể thơ lục bát êm đềm, bài ca dao thể hiện ước vọng bình dị, chơn chất của người nông dân Thủ Thừa là mong sao cho phong điều vũ thuận, quốc thới dân an, mùa màng tươi tốt. Vị linh thần phù trợ cho ước vọng của mọi người không ai khác chính là người đã có công khai hoang, bồi lộ, lập chợ, xây đình ở vùng đất này từ hàng trăm năm trước.Vì thế, trong tâm thức của nhân dân, ông Mai Tự Thừa vừa thiêng liêng vừa gần gũi biết bao. Ngày ông rời mảnh đất mà ông cùng bao người đã đổ mồ hôi khai phá (mồng 10 tháng 10 AL), trăng đã gần tròn, lúa mùa sắp sửa đơm bông, hoa cà đã e ấp khoe màu tim tím. Đó chính là tín hiệu tốt lành cho một năm yên lành, thịnh vượng, bội thu. Trong bài ca dao, nhân dân cầu ông phù trợ “ cho cây lúa trổ, cho cà đơm bông” phải chăng muốn ghi lại dấu ấn thời gian gắn liền với bậc tiền hiền khai khẩn đã một đi không trở lại. Chi tiết “cùng nhau xúm lại cúng ông” trong bài ca dao thể hiện rõ lòng kính ngưỡng, sự tự nguyện và tình cảm chân thành, gắn bó của nhân dân với ông Mai Tự Thừa. Lễ vật cúng ông cũng hết sức đơn sơ nhưng giàu ý nghĩa bởi đó chính là sản vật được làm từ hạt lúa, củ khoai, từ công sức lao động của người nông dân chân lấm tay bùn: trà, bánh, lồng đèn xanh. Trong đó, lồng đèn xanh chính là biểu tượng cho sức sống bền bĩ của dân tộc, của ngọn lửa thiêng được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, thể hiện ước mơ có được cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc từ bao đời của nhân dân. Hai câu kết của bài ca dao :” Lòng người như ánh trăng thanh.Vui tình đất nước, dân lành ấm no” mới tuyệt diệu làm sao. Thật vậy, ánh trăng thanh của vầng trăng rằm thượng ngươn là hình tượng tuyệt vời để nói lên tấm lòng của người dân Thủ Thừa. Tất cả đều trong sáng, giản dị nhưng cũng hết sức cao đẹp, bởi nó xuất phát từ ước mong được vui sống thanh bình- nguyện vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
Càng nghiền ngẫm bài ca dao, tôi như được trở về với cội nguồn dân tộc. Bài ca dao là hơi thở của ruộng đồng thắm đẫm tình quê. Nó phản ánh đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đầy tính nhân văn của người Việt Nam. Qua bài ca dao, lịch sử khai phá vùng đất và văn hóa ứng xử của người Thủ Thừa nói riêng và nhân dân ta nói chung như được hòa quyện làm một. Đó chính là một trong những nét đặc trưng thể hiện chiều sâu tâm hồn và văn hóa Việt Nam. Với ý nghĩa ấy, bài ca dao này xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng di sản văn hóa dân gian mà cha ông đã để lại cho chúng ta.

                                                                                             NGUYỄN VĂN THIỆN

Lượt người xem:   222
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​
Chung nhan Tin Nhiem Mang