Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Thông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 572446
Thông tin Văn Hóa
Thứ 6, Ngày 17/02/2012, 03:39
Văn hóa Óc Eo - nhận thức về sự phát triển buổi đầu, trao đổi với Ấn Độ, những nỗ lực kiểm soát đồng bằng ngập nước và sự phát triển thành thị
17/02/2012

Những phát hiện khảo cổ học về văn hoá Óc Eo ở Nam bộ từ lâu đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu khảo cổ học trong và ngoài nước. Thật vậy, ngay sau những phát hiện của các học giả Pháp vào cuối thế kỷ 19 về các di tích văn hoá Óc Eo ở Nam Bộ, dư luận khoa học bắt đầu chú ý đến những di tích, di vật đặc sắc của văn hoá cổ tiếp sau văn hoá tiền sử trên vùng đất này. Sau đó, từ cuối thế kỷ 19 đến những năm 50 của thế kỷ 20, nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu được liên tiếp thực hiện; trong đó phải kể đến những cuộc khảo sát và khai quật ở Óc Eo lần đầu tiên vào tháng 2-1944 của Louis Malleret. Sau năm 1975, các nhà khảo cổ học Việt Nam tiếp tục nghiên cứu nền văn hoá này và đã có những nhận thức, kiến giải khoa học mới mẻ quan trọng. Do vậy, văn hoá cổ trên địa bàn Nam bộ đã có tiền đề để phác dựng. Thực vậy, căn cứ vào các niên đại tuyệt đối của các mẫu vật khảo cổ được xác định bằng phương pháp phóng xạ Cacbon (C14), kết quả của việc đối sánh các loại hình di tích, di vật phát hiện được và các dữ liệu khác, có thể nhận thấy tiến  trình phát triển văn hoá cổ ở châu thổ Cửu Long trải qua các giai đoạn: tiền Óc Eo, Óc Eo và hậu Óc Eo. Bài viết này đề cập đến một số vấn đề có thể xem như là yếu tố cơ bản và cũng là hệ quả của tiến trình đó. Đó là những nỗ lực của chủ nhân của văn hoá này trong buổi đầu phát triển, trong sự trao đổi với Ấn Độ, những nỗ lực kiểm soát đồng bằng ngập nước và sự phát triển thành thị.

1. Sự phát triển buổi đầu và trao đổi với Ấn Độ.

Trình tự địa tầng của di tích Óc Eo vốn được đặt tên cho văn hoá này cung cấp cho chúng ta một trình tự mẫu cho khu vực này, và có lẽ cho vùng châu thổ Cửu Long rộng lớn. Vào khoảng thế kỷ I sau Công nguyên, cư dân cổ ở đây đã khai hoang, loại bỏ các lọai cây cỏ trên một gò đất tự nhiên, thấp trong đồng bằng ngập nước, và sau đó đã cư trú đông đúc trên đó với loại hình nhà xây trên cọc gỗ. Rất ít hoặc không có dấu vết cư trú trong giai đoạn này cho đến nay được tìm thấy bên ngoài những gò trong đồng bằng ngập lụt. Những sưu tập hiện vật với sự cư trú buổi đầu này, vốn kéo dài một cách tốt đẹp đến thế kỷ IV bao gồm các loại đồ gốm thô, phần nhiều trong số đó có hình dáng những chiếc vò lớn với xương gốm và trang trí thường thuộc về văn hoá Óc Eo, cùng với một mảng lớn gốm mịn da bò với chất lượng tốt, một khối lượng lớn hạt chuỗi và ngói bằng đất nung. Các loại hiện vật sau đây chỉ rõ sự trao đổi với Ấn Độ: hạt chuỗi, bình dáng kendi, chất lượng của thủy tinh giả kim cương (không thể thấy chất xúc tác), và các kiểu ngói đều xứng hợp với kỹ thuật đã phát triển ở Ấn Độ. Cư dân ở Óc Eo ắt hẳn đã sử dụng những tiến bộ kỹ thuật đã được biết là đã phổ biến ở Đông Nam Á vào lúc bấy giờ, bắt đầu vào khoảng thế kỷ I trước Công nguyên. Thư tịch cổ Trung Hoa, đề cập đến thế kỷ III ở Phù Nam, cho biết rằng cư dân sống trong những nhà có hàng rào bằng gỗ và nhà ở dựng trên những cọc gỗ với mái bằng tranh.

Sưu tập hạt chuỗi , di tích Gò Hàng, huyện Tân Hưng, Long An.

 

Đồng tiền kim loại phát hiện tại di tích Gò Hàng, huyện Tân Hưng, Long An.

           Những di tích cư trú tương tự với những trình tự niên đại thuộc 3- 4 thế kỷ đầu Công nguyên, đã được làm xuất lộ bởi những cuộc khai quật trên những gò khác nhau của vùng ngập lụt Óc Eo, trên sườn của núi Ba Thê kế cận, và dường như cũng đã được tìm thấy trên nhiều di tích khắp đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều mảnh gốm tìm thấy trong nhiều di chỉ khác nhau xung quanh phức hệ di chỉ Óc Eo dường như đã thực sự nhập khẩu từ Ấn Độ (khác lạ với gốm địa phương được làm với kỹ thuật Ấn Độ): chúng là đồ gốm bóng láng, với hình dáng, màu sắc (đen hoặc cam) và sự chế tác tinh tế này có thể so sánh trực tiếp với những hiện vật thuộc thế kỷ II- IV sau Công nguyên ở những di chỉ ở Ấn Độ  như Arikamedu (1). Như trong những di tích cùng thời ở Đông Nam Á, một mảng lớn hiện vật đến từ Vịnh Bengal phía bên kia hay xa hơn về phía tây có thể thuộc về giai đoạn lịch sử này (tuy nhiên chỉ một ít đã được tìm thấy trong những cuộc khai quật). Hàng chục viên đá ngọc chạm khắc, đá chạm chìm, đồ trang sức đá chạm và hai mề đay La Mã được định niên đại đến khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên, tất cả chứng thực mối quan hệ với thế giới bên ngoài của những di tích ở đồng bằng sông Cửu Long. Óc Eo, về mặt hàng xuất khẩu, dường như là di tích giàu nhất đồng bằng, có thể được giải thích bởi vị trí của nó khoảng 20km cách vịnh Thái Lan. Cùng với di tích Nền Chùa gần bờ biển mà nó liên kết bởi một kênh đào, Óc Eo có lẽ đã cung cấp một con đường tốt cho thương mại quốc tế của một xã hội mới nổi lên, được biết đến bởi thư tịch Trung Hoa là Phù Nam. Đường thoát ra của Óc Eo/ Nền Chùa hướng về bờ biển phía Đông của bán đảo Thái- Mã Lai, nơi mà nhiều di tích cùng thời được phát hiện nhưng chưa được nghiên cứu nhiều. Một vài di tích trong số này được thư tịch cổ Trung Quốc biết đến bao gồm những hải cảng thường xuyên lui tới bởi những thương nhân trên khắp Ấn Độ Dương. Vào khoảng thế kỷ thứ III sau Công nguyên, thư tịch cổ Trung Hoa cho biết Phù Nam đã gửi những đoàn thuyền  đến để kiểm soát một vài thành thị trong số này trên những eo đất rộng của bán đảo (đặc biệt, một thành thị được biết đến là Dunsun). Như vậy, bất kể nguồn gốc của xã hội Phù Nam, bất kể sự chia sẻ những thu nhập từ nông nghiệp và/ hay buôn bán hàng hải, thương mại quốc tế không nghi ngờ gì nữa trở thành một bộ phận cấu thành chủ yếu của nền kinh tế của nó.

            Cho đến nay, không có những di vật của những công trình bằng gạch có ý nghĩa và không có tượng tôn giáo được tìm thấy ở những di tích khảo cổ học ở giai đoạn sớm này, trong bất cứ di tích khai quật nào ở Óc Eo hay bất cứ nơi nào khác trên đồng bằng sông Cửu Long. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự thuận theo những tôn giáo Ấn Độ như Phật giáo hay Brama giáo bởi cư dân ở đồng bằng sông Cửu Long, những người đã sáng tạo ra văn hoá Óc Eo, mà những tôn giáo này trở nên khá phổ biến vào những thế kỷ sau. Mặc dù có sự trao đổi bền bỉ với văn hoá Ấn Độ và với mạng lưới thương mại Ấn Độ Dương, chưa có bằng chứng nào có thể thấy về quá trình được biết như là Ấn Độ hóa mà trong giai đoạn đó, những phần lớn của văn hóa Ấn Độ được chấp nhận, ở Phù Nam cũng như trong những di tích cùng thời khác ở Đông Nam Á.

            2. Kiểm soát những đồng bằng ngập nước và sự phát triển thành thị

Cho đến năm 1931, những giải thích về bản đồ không ảnh cho thấy mạng lưới kênh đào cổ rộng lớn tỏa ra từ Angkor Borei, ở Kampuchia, và nối di tích này với khu vực chưa được biết đến lúc bấy giờ là Óc Eo, chừng 60 km về phía Đông Nam (2). Những kênh đào khác tỏa ra từ đoạn cuối cùng của mạng lưới, và một trong số đó dẫn đến bờ biển trên vịnh Thái Lan (hướng tới di tích Nền Chùa hiện nay). Vào những năm 1950, Louis Malleret làm việc với bộ không ảnh mới; ông ta đã có thể xác định những khám phá trước đây và mở rộng mạng lưới kênh đào một cách có ý nghĩa, chỉ ra rằng những di chỉ khác ở Việt Nam, như là Đá Nổi (phía đông Óc Eo) hay Cạnh Đền xa dưới bán đảo Cà Mau), là ở trung tâm của những hệ thống kênh đào tỏa ra địa phương của nó.

            Khảo sát trên không bằng máy bay bay thấp trên khu vực mới khai quật ở Óc Eo, dưới sự hướng dẫn của L.Malleret cũng cho biết rằng hầu hết các di tích ông đã khai quật vào 1944 trong đồng bằng ngập lụt được bao quanh bởi nhiều đường hào song song hình thành 3 cạnh của hình chữ nhật lớn, khoảng 2.500 đến 3.000m (cạnh thứ tư của hình chữ nhật không thấy trong không ảnh). Không có đường hào nào trong số này, còn trông thấy từ mặt đất vào thời của Malleret, khi đồng bằng ngập lụt chỉ là vùng đầm lầy hoang vắng.Vùng này ngày nay trở nên là một vựa lúa, và sự chuyển đổi cảnh quan quá nhiều đã huỷ hoại hoàn toàn bất cứ cái gì trước kia có thể thấy rõ. Một kênh đào chính nối với kênh đào khác về phía Tây Bắc dẫn đến Angkor Borei và phía Tây Nam hướng đến bờ biển, gần di tích Nền Chùa đề cập ở trên, phân cắt đường hào hình chữ nhật, phân chia nó chính xác làm 2 phần dọc theo trục dài nhất của nó.

Malleret kết luận một cách đúng đắn rằng mạng lưới kênh đào xưa này, mà hầu hết là không nhìn thấy từ mặt đất và sự sắp đặt đối xứng của khu đất hào mới có người định cư ở Óc Eo chỉ có thể được làm bởi con người, và rằng ứng viên duy nhất cho một công trình lớn lao như thế chỉ có thể là xã hội Phù Nam. Hào hình chữ nhật, xem xét sự tập trung và đa dạng của chức năng hiện vật khảo cổ nó kèm theo, được giải thích một cách không ngạc nhiên là khu thành thị. Chức năng của những kênh đào vẫn là một câu hỏi bỏ ngõ: nó được dùng để tiêu nước đồng bằng ngập lụt, hay chuyên chở hàng hóa bằng thuyền? (môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long, chức năng dẫn thủy nhập điền không có ý nghĩa).

 Những chương trình gần đây nhằm mục đích định niên đại và giải thích hệ thống kênh đào và những đường hào thành thị đã mang lại những kết quả bước đầu đáng ngạc nhiên. Những quan điểm trước đây về sự trỗi dậy của những xã hội Đông Nam Á, quan niệm rằng tất cả những phát triển kinh tế vĩ đại gắn liền với việc Ấn Độ hoá, là những công việc lớn lao, chỉ có thể được thực hiện sau khi quá trình đó (Ấn Độ hóa) được hoàn tất ở Phù Nam, trong và sau thế kỷ 5 sau Công nguyên. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy việc đào hào và kênh đó bắt đầu ở Phù Nam rất lâu trước khi việc Ấn Độ hóa xảy ra. Ít nhất, hào thành thị ở Óc Eo đã được đào vào trước đầu thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên, và kênh đào chính phân cắt di tích thành thị được sử dụng trước cuối thế kỷ thứ 4, và có thể sớm nhất là vào thế kỷ thứ 2. Về phía Angkor Borei, những nghiên cứu khác đưa ra niên đại so sánh cho việc đào và sử dụng kinh đào kéo dài đến nửa thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên (3).

            Kết luận là không tránh khỏi. Vào khoảng thế kỷ 2 sau Công nguyên, hệ thống chính trị được biết bởi người nước ngoài như là Phù Nam đã trưởng thành về kinh tế- xã hội, cho phép nó xây dựng, trên khắp châu thổ thấp sông Cửu Long nhiều trung tâm thành thị hoá trong những môi trường thay đổi, và tạo ra đủ hoa lợi từ thặng dư kinh tế thương mại và nông nghiệp để có thể xây hệ thống kinh đào rộng lớn này, với đủ sự kiểm soát dân số của nó để đòi hỏi từ nó nhiệm vụ xây dựng những công trình công cộng áp đặt như thế. Mạng lưới kênh đào tiếp tục nhiệm vụ  trong vài thế kỷ nữa, cho tới khi suy tàn của Phù Nam vào thế kỷ thứ 6- 7. Nghiên cứu về phương diện này của lịch sử châu thổ Cửu Long còn ở giai đoạn đầu, và chỉ rất ít lịch sử sơ lược của kênh đào được khảo sát kỹ cho đến nay. Chức năng của những kênh đào này chắc chắn là phức tạp. Việc tiêu, thoát nước cho đồng bằng ngập lụt như được thực hiện lại như ngày nay, là một sự cần thiết cho việc canh tác lúa quy mô lớn được kiểm soát; những kênh đào nhỏ hơn này, được nhìn thấy trên không ảnh tỏa ra từ những di tích cư trú chắc hẳn đã phục vụ cho mục đích chính này. Việc tiêu thoát nước cho đồng bằng ngập lụt ắt đã mở ra những vùng đất lớn cho việc trồng lúa. Trấu đã được tìm thấy phổ biến trong gạch và gốm ở Óc Eo, và không ảnh trong những năm 1950-1960 cho thấy vài khuôn mẫu ruộng lúa dường như đi cùng với mạng lưới kênh đào. Thư tịch Trung Hoa có đề cập thoáng qua lúa và nông nghiệp thì tổng quát hơn.

            Cho đến nay, không có kênh đào được nghiên cứu nào là sâu đủ cho phép tàu lớn dùng nó như là những đường thủy. Tuy nhiên, quá phổ biến ở Đông Nam Á ngày nay, người ta có thể tưởng tượng nhiều con tàu với thiết kế cạn di chuyển trên những dòng kênh chính. Kênh dài nhất trong tất cả, nối với những trung tâm thành thị lớn ở Angkor Borei và Óc Eo, và kênh khác nối với biển gần di tích khảo cổ giàu có Nền Chùa, không nghi ngờ gì nữa được phục vụ như là đường thủy chính. Sự tồn tại của nó cũng giới thiệu cho ta một dấu hiệu chính trị rõ ràng về mức độ hợp thành một thể thống nhất của xã hội Phù Nam: bất luận nó được gắn chặt thành liên bang của những quốc gia thành thị hay thành một quốc gia tập trung hơn còn là điều tranh cãi. Tuy nhiên, hiệu lực của nó ở giai đoạn phát triển đầu như thế trước khi Ấn Độ hóa bắt đầu có thể không còn nghi ngờ gì nữa. Sau giữa thế kỷ thứ 3, Phù Nam dường như đã hành động mặt đối mặt với thế giới bên ngoài như là một quốc gia thật sự, gửi nhiều sứ giả đến Trung Quốc. Thư tịch Trung Quốc đã chắc chắn công nhận khả năng hành động có kết quả về kinh tế và chính trị của nó: Họ diễn tả xã hội đồng bằng sông Cửu Long là một hệ thống chính trị như là quốc gia tập trung trên những nơi cư trú thành thị lớn. Như chúng ta vừa thấy, giờ đây khảo cổ học đã cho hầu hết những nguồn khẳng định thiên niên kỷ đầu tiên như thế./.

                                                                                   Tiến sĩ Bùi Phát Diệm

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đào Linh Côn (1993), “Mộ táng và hiện vật vàng thuộc văn hoá Óc Eo ở di chỉ khảo cổ học Đá Mới (An Giang)”, KHXH, 18, tr. 90- 96, TP Hồ Chí Minh.
  2. Đào Linh Côn (1995), “ Mộ táng trong văn hoá Óc Eo”, Luận án Phó tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành khảo cổ học, TP Hồ Chí Minh.
  3. Bùi Phát Diệm (2003), “Di tích văn hoá Óc Eo ở Long An”, Luận án Tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành khảo cổ học, TP Hồ Chí Minh.
  4. Lê Xuân Diệm (1984), “Óc Eo- một đô thị xưa hay một trung tâm văn hoá cổ”, Văn hoá Óc Eo và các văn hoá cổ ở đồng bằng sông Cửu Long,  tr. 213- 221, Long Xuyên.
  5. Nancy Tingley (2009), “Arts of Ancient Viet Nam- From River Plain to Open Sea”, Asia society, New York and The Museum of Fine Arts, Houston.

(1) Vinala Begley et al, The Ancient Port of Arikamedu: New excavation and researches,1989-1992 (Pondicherry and Paris: L, Ecolé Francaise d,Extrême-Orient,1996-2004),2 vols.

(2) Pierre Paris, “ Anciens canaux reconnus sur photographies  áeriennes  dans  les provinces de Takev et de Châu Đốc”

(3) Eric Bourdonneau,” The Ancient Canal Systems of the Mekong Delta: A Preliminary Report “ in A. Karlstrom and A. Kallén, eds, Fishbones and Glitering Emblems: Southeast Asian Archaeology 2002 (Stokhom: Museum of  Fareastern Antiquities, 2004.

Lượt người xem:   336
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Ông NGUYỄN THÀNH THANH - Giám đốc Sở.
Địa chỉ: ​Số 03, Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An, Long An.
Điện thoại : (0272) 3826 310​ ​​ *Fax : (0272) 3832 042 *Email: svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​