Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 253226
 
Thông tin Văn Hóa
 
​Vừa qua, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn Lao động, Huyện đoàn và Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Bến Lức phối hợp tổ chức Lễ tổng kết và trao giải các hội thi chào mừng Đại hội Đảng bộ huyện Bến Lức lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020-2025. Ông Nguyễn Thành Nhân, Phó Chủ tịch UBND huyện Bến Lức đến dự. Tại buổi lễ, Ban Tổ chức đã báo cáo tổng kết 3 hội thi ... 
 
​Sách là nguồn tri thức vô tận, nhờ có sách mà con người ngày càng tiếp cận với thế giới hiện đại. Thông qua việc đọc sách, báo, tạp chí giúp mỗi người không ngừng nâng cao kiến thức. Tuy nhiên, sự phát triển của ti-vi, các thiết bị di động và internet trong những năm gần đây đã làm việc đọc sách, báo, tạp chí dần bị sao nhãng. Để thu hút bạn đọc, thời gian gần đây, Thư viện huyện Bến Lức đã có nh... 
 
​ Nhằm chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp và tiến tới chào mừng kỷ niệm 40 năm tái lập huyện (1983-2023), huyện Thủ Thừa đã tổ chức phát động thi đua nhiều phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, từ đó đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc, đóng góp tích cực cho phong trào chung của huyện. Để kịp thời động viên, biểu dương những thành tích đạt được trong lĩnh vực ... 
 
​Ngày 16/6/2020, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định số 2008/QĐ-UBND xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron, xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.Bằng xếp hạng di tích Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – GironKhu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron là nơi minh chứng cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sa... 
 
​Từ đầu năm 2020 đến nay, huyện Thủ Thừa đã tích cực tổ chức các hoạt động văn hóa và thông tin. Hoạt động thông tin tuyên truyền được thực hiện tốt từ huyện đến cơ sở thông qua hệ thống đài truyền thanh và thông tin lưu động. Qua đó, kịp thời thông tin những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến tận người dân với trên 170 chương trình phát thanh và đã sử dụng trên 1.900 tin b... 
 
​ Bảo tàng Long An tọa lạc tại phường 4, TP.Tân An, là nơi lưu giữ rất nhiều cổ vật, kỷ vật giá trị về văn hóa, lịch sử của dân tộc ta nói chung, tỉnh Long An nói riêng. Bảo tàng là địa chỉ không thể bỏ qua đối với những ai muốn tham quan, tìm hiểu về đất và người Long An, nhất là quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đầy gian khổ, hy sinh của thế hệ cha anh ngày trước.Du khách sẽ cảm nhận được kh... 
 
​Ngày 30/7/2020, thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước long trọng tổ chức Lễ công bố thị trấn Cần Đước đạt chuẩn văn minh đô thị. Bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo huyện Cần Đước và đông đảo người dân thị trấn tham dự.Thị trấn Cần Đước nhận bằng đạt chuẩn văn minh đô thịQua hơn 3 năm tập trung xây dựng đến nay thị trấn Cần Đước đã đạt 24/24 tiêu chí văn minh đô... 
 
​Thiết thực chào mừng Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, ngày 28/7/2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức khai mạc Hội thi Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An lần II - năm 2020. Hội thi diễn ra trong 4 ngày, từ ngày 28-31/7/2020, tại Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh (số 9 Trương Định, Phường 2, thành phố Tân An), quy tụ nhiều thí sinh đến từ 15 đơn vị huyện, thị... 
 
​ Sau 3 đêm tranh tài, Hội thi Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An lần thứ 2 thành công tốt đẹp. Chung kết diễn ra vào đêm 31/7.Ban Tổ chức tặng hoa cho các nghệ nhân đờn tại Hội thiCác tiết mục dự thi năm nay được đánh giá phong phú và có nâng cao về chất lượng, được chuẩn bị chu đáo. Thí sinh thể hiện tốt năng lực nghệ thuật của mình, nhiều bài bản truyền thống, bài bản tổ được thể hiện khá tốt. ... 
 
​Vừa qua, UBND huyện Cần Đước tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện huyện điểm điển hình về văn hóa của tỉnh giai đoạn 2015 – 2020. Ông Phạm Tấn Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; ông Nguyễn Tấn Quốc, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến dự.Ông Phạm Tấn Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tặng hoa chúc mừngTừ khi được công nhận là huyện điểm điển hình về văn hóa của tỉnh vào tháng 8 năm 2015, tron... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Long AnHiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An

Trong nhiều năm qua, xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An đã có những khởi sắc rõ nét. Hiện nay, toàn tỉnh có 134/192 Trung tâm Văn hóa – Thể thao và Học tập cộng đồng (gọi tắt là Trung tâm) được ngân sách tỉnh đầu tư xây dựng, trong đó có một số Trung tâm được các huyện, thị xã, thành phố đầu tư bằng vốn đối ứng xây dựng các Trung tâm với quy mô đạt chuẩn theo quy định, riêng năm 2015 đã xây dựng 24 Trung tâm. Hầu hết các Trung tâm đã xây dựng mới đều được ngân sách tỉnh đầu tư mỗi Trung tâm từ 2,5 tỷ đồng trở lên; theo Quyết định số 3904/QĐ-UBND ngày 22/10/2015 của UBND tỉnh về việc phê duyệt lộ trình đầu tư xây dựng Trung Văn hóa – Thể thao và Học tập cộng đồng giai đoạn 2016-2020 là 14 Trung tâm với mức đầu tư từ 3,5 tỷ/Trung tâm. Đối với một số Trung tâm chưa được cấp các thiết bị chuyên dùng, thông qua nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cấp trang thiết bị cho Trung tâm, mỗi nơi trị giá 40 triệu đồng, có nơi 100 triệu đồng/Trung tâm. Riêng những Trung tâm thuộc các xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa được UBND tỉnh tặng thưởng thêm 50 triệu đồng để mua sắm, bổ sung trang thiết bị phục vụ hoạt động văn hóa – thể thao ở cơ sở.

HeThongThietChe1.jpg

Hưởng ứng ngày toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại

Về cơ sở vật chất thể dục thể thao: Toàn tỉnh hiện có trên 1300 sân bãi cơ sở tập luyện các môn thể thao gồm: Bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông, tennis, quần vợt, hồ bơi, phòng tập thể dục thẩm mỹ, tụ điểm bida, phòng tập thể hình, sân patin, tụ điểm bóng bàn; trong số đó có 13 doanh nghiệp kinh doanh hoạt động thể dục thể thao góp phần phục vụ nhu cầu tập luyện thể dục thể thao trong quần chúng nhân dân. Hệ thống sân bãi, cơ sở, tụ điểm sinh hoạt thể dục thể thao nói trên nằm rãi rác ở cơ sở, nhưng phần lớn đặt tại thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ và gần với Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng đồng cấp xã. Bình quân mỗi Trung tâm hàng năm tổ chức từ 03 đến 05 giải thi đấu các môn thể thao quần chúng.

Về hoạt động văn hóa văn nghệ, thông tin tuyên truyền: Số lượt người dân đến tham gia các hoạt động của Trung tâm ngày càng tăng, với chức năng của mình các Trung tâm đã tiến hành điều tra nhu cầu học tập, vui chơi giải trí của người dân, xây dựng kế hoạch và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực. Các Trung tâm đã  tham mưu, phối hợp các cơ quan, đơn vị, đoàn thể tổ chức trên 20.000 lớp học, hội nghị, hội thảo chuyên đề với trên 1,5 triệu lượt người tham dự, nhằm bồi dưỡng nâng cao trình độ của cán bộ và bà con nhân dân trên nhiều lĩnh vực về văn hóa, chính trị, xã hội, thời sự, pháp luật, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh…, thu hút nhiều nhất là các chuyên đề về khuyến nông, khuyến ngư, ứng dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp là những chuyên đề gắn bó thiết thực với cuộc sống lao động sản xuất của người dân, nên được bà con nông dân tham gia đông đảo. Các lớp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, ngoại ngữ, tin học, dạy nghề ngắn hạn cho người lao động ở nông thôn cũng được nhiều Trung tâm tổ chức khá tốt.

Các câu lạc bộ được hình thành tại Trung tâm như: Câu lạc bộ văn hóa văn nghệ, Đờn ca tài tử, Câu lạc bộ thơ ca, cây cảnh, khiêu vũ, thể dục dưỡng sinh, võ thuật,… thu hút đông đảo quần chúng tham gia; nhiều nơi nối mạng internet đã tổ chức các nhóm học tập qua mạng (là hình thức học tập từ xa) rất đa dạng, thiết thực. 

HeThongThietChe2.png.jpg

Giao lưu Đờn ca tài tử giữa các câu lạc bộ

Về hoạt động thông tin cổ động: Hàng năm hầu hết các Trung tâm lắp đặt các cụm pano, treo khẩu hiệu với nội dung tuyên truyền về an toàn giao thông, phòng, chống tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa, dân số kế hoạch hóa gia đình…; treo cờ các khu vực Trung tâm xã hưởng ứng các sự kiện chính trị của địa phương và chào mừng các ngày lễ lớn trong năm; tuyên truyền phổ biến các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân thông qua hệ thống truyền thanh xã, họp dân....Hàng năm, tổ chức từ 4 đến 6 cuộc hội thi với hình thức liên kết với các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp đóng trên địa bàn và sự tài trợ của các Mạnh Thường Quân và bà con nhân dân...Đồng thời xây dựng các chương trình tham dự hội diễn, hội thi do huyện tổ chức mỗi năm từ 02 cuộc trở lên.

Nhìn chung, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở mà cụ thể là các Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng đồng cấp xã đã thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của mình, góp phần thiết thực trong việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao và Học tập cộng đồng của quần chúng nhân dân ở cơ sở, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Thực tế cho thấy Trung tâm cũng chính là hội trường của UBND xã, do đó thực chất Trung tâm là hoạt động của "03 thiết chế trong 01 thiết chế", Trung tâm vừa là Trung tâm Văn hóa - Thể thao, vừa là Trung tâm học tập cộng đồng, vừa là hội trường UBND xã.

Bài, ảnh: Ngọc Phát

Phòng Xây dựng nếp sống văn hóa và gia đình

26/10/2016 10:00 SAĐã ban hànhApproved
SÂN KHẤU CUỘC ĐỜISÂN KHẤU CUỘC ĐỜI

"Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Lời nhân vật Giáo sư trong vở cải lương "Sân khấu cuộc đời" của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An trong cuộc thi nghệ thuật sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015 tại tỉnh Bạc Liêu đầy cay đắng, chua xót. Bởi, bi kịch cuộc đời là những gì chết đi bên trong khi anh ta đang còn sống, khi đạo đức làm người không song hành cùng tài năng...

Cuộc đời là sân khấu...

"Sân khấu cuộc đời" – vở cải lương của tác giả Sỹ Hanh được chuyển thể cải lương bởi Đức Hiền, mới nghe qua, nhiều khán giả tưởng là câu chuyện về đời nghệ sĩ sau bức màn nhung sân khấu. Nhưng khi vở cải lương đi một nửa đoạn đường, nhiều khán giả sụt sùi nước mắt khi nhận ra, đây là vở diễn tâm lý - xã hội đầy bi kịch của đời người trong cuộc sống hôm nay. Và, ở thời đại ngày nay, sân khấu không là đời mà chính đời là sân khấu. Giữa cuộc sống, mỗi người như một diễn viên đang diễn một vai tuồng mà có kẻ diễn tốt đến độ che giấu bản chất xấu xa để lương tâm rơi vào hố sâu tội lỗi.

Thu Hương – vai chính trong vở cải lương là cô gái tròn tuổi 20 với nhiều ước mộng. Vốn yêu thích ca hát nên cô theo học trường chuyên về âm nhạc. Ngày ra trường, với tâm hồn non trẻ, cô thích được ngợi khen, tâng bốc và nhẹ dạ tin lời ngon ngọt của bác sĩ Hải – kẻ đánh mất đạo đức đem đến bi kịch cuộc đời cho cả Thu Hương và bác sĩ Mai.

Lối dạy dỗ hủ lậu, bảo thủ, chỉ muốn khư khư giữ con là của riêng mình từ mẹ khiến Thu Hương lạc lối, bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi trái tim với bác sĩ Hải. Tưởng rằng, tình yêu sẽ đẹp, sẽ êm như những lời hoa mỹ, năn nỉ mỗi khi cô ca sĩ giận hờn của Hải, nào ngờ trái tim Thu Hương đã trao lầm cho tên sở khanh. Lúc Thu Hương biết mình mang trong mình sinh linh bé nhỏ của Hải cũng là lúc tên bác sĩ có tài kém đức chuẩn bị làm lễ cưới với bác sĩ Mai – con gái Giáo sư. Cuộc hôn nhân chẳng xuất phát từ tình yêu chân thật mà chỉ là bàn đạp cho công danh, sự nghiệp của Hải đã đẩy người phụ nữ thứ 2 (Mai) rơi vào oan tình. Vì thương bác sĩ Hải là học trò giỏi, giáo sư đã truyền dạy tất cả những kinh nghiệm cả một đời làm nghề cứu người cho anh ta. Giáo sư còn tin tưởng giao đứa con gái cưng của mình cho Hải trước khi lo cho anh ta một chuyến du học 5 năm ở Pháp.

Cao trào của vở cải lương, nước mắt khán giả rơi khi ngày cưới của Hải và bác sĩ Mai tiến hành, Thu Hương là ca sĩ đến hát chúc mừng. Khi nhìn thấy người mình yêu sánh vai bên cô dâu khác, Thu Hương đau lòng và định tự tử nhưng nhờ Tuấn – một tài xế, một người bạn từ thuở ấu thơ giúp đỡ. Sợ mẹ, Thu Hương không dám về nhà mà sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của Tuấn, của Lan Anh – cô học trò cũ của mẹ Thu Hương. Nhưng thân gái yếu đuối sợ không sống nỗi giữa giông tố cuộc đời, Thu Hương tìm đến phòng khám bác sĩ Mai để bỏ đi giọt máu của mình. Câu chuyện giữa Thu Hương và bác sĩ Mai đã vạch trần bộ mặt người chồng sở khanh. Là người phụ nữ cao thượng có tính cách kiên cường, bác sĩ Mai khuyên Thu Hương giữ lại đứa bé và âm thầm bỏ đi núm ruột của chính mình khi niềm vui của người sắp làm mẹ chưa được trọn vẹn.

23-11-2015.JPG

MỘT CẢNH TRONG VỞ CẢI LƯƠNG "SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI"

Ngày du học của Hải đến cũng là lúc Mai bảo rằng đã biết hết sự thật. Đau, buồn, khóc thật nhiều nhưng Mai vẫn im lặng để ba mình lo tròn chuyến du học cho Hải. Ngày Mai nhận bức thư xin tha lỗi mà Hải gửi về từ Pháp cũng là lúc Thu Hương đang nằm trong phòng mổ của Mai để chào đón con trai ra đời. Tiếng đứa bé khóc thét trong phòng mổ như nhát dao cứa vào tim bác sĩ Mai. Cô nhớ đến đứa con của mình chưa kịp tượng hình chỉ vì người đàn ông bội bạc, chỉ vì cô muốn hy sinh cho Thu Hương. Tiếng khóc đứa bé đẩy Mai đến tột cùng đau khổ và cô đem sự thật kể hết với giáo sư. Ngày Hải trở về nước, ăn năn với tội lỗi của mình cũng là lúc Mai và Hải không còn nghĩa vợ tình chồng. Thu Hương bây giờ cũng đã qua khúc bi ai, trở lại nghề hát và cùng đứa con bé nhỏ về sống với mẹ.

Thông điệp về đạo đức làm người

Ngày bác sĩ Hải về nước cũng là lúc Giáo sư đã nói với anh ta "Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Câu nói vừa trách mình, vừa trách người của Giáo sư như một bức thông điệp gửi tới đời. Sống trong xã hội, ngoài tài năng cần luyện rèn đức độ. Bởi người có tài đến đâu nhưng không đủ đức vẫn rơi vào bi kịch của chính mình và mang đến đau thương, khổ ải cho những người trong cuộc. Tài năng nếu kém có thể bồi dưỡng từng ngày nhưng đức, đạo làm người luôn là tài sản vô giá.  

Bên cạnh nội dung mới, phản ánh cuộc sống đương đại thì nghệ thuật của vở diễn có nhiều đổi mới. Không còn cảnh ruộng lúa ao vườn, sân đình, cung cấm,... như cải lương truyền thống, các diễn viên của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An diễn xuyên suốt trên cảnh trí là một chiếc cầu. Đây vừa là cách làm sáng tạo vừa mang tính ước lệ tượng trưng. Chiếc cầu cụt cũng như con người chưa toàn vẹn trong cuộc sống.

Về cách diễn, tuy chưa đều giữa các diễn viên nhưng nghệ sĩ Hồ Ngọc Trinh, Hoàng Oanh đã để lại dấu ấn bởi lối ca hay, diễn tốt. Vẫn như cuộc thi năm 2012, Hồ Ngọc Trinh hát rất chắc, tròn chữ và nhận rất nhiều tràng vỗ tay từ khán giả. Còn Hoàng Oanh – nghệ sĩ chính của Đoàn hiện nay cũng tiến bộ nhiều qua vai diễn. Hoàng Oanh diễn rất nhập vai, lột tả được nội tâm, tính cách nhân vật từ một cô bé thơ ngây, hồn nhiên ca hát đến lúc đau khổ khi rơi vào bi kịch.

Tuy giá trị nghệ thuật chưa tròn trĩnh nhưng vở "Sân khấu cuộc đời" đã mang đến cho cuộc thi một giá trị nội dung sâu sắc về nhân cách con người.

Bài, ảnh: THÙY HƯƠNG

23/11/2015 2:00 CHĐã ban hànhApproved
BÁO CÁO SƠ BỘ KẾT QUẢ KHAI QUẬT DI TÍCH GÒ BA CẢNH BÁO CÁO SƠ BỘ KẾT QUẢ KHAI QUẬT DI TÍCH GÒ BA CẢNH

Thực hiện Quyết định số 993/QĐ-BVHTTDL ngày 20/3/2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) về việc khai quật khảo cổ di chỉ Gò Ba Cảnh, xã Hưng Điền, huyện Tân Hưng, Sở VH, TT và DL chỉ đạo Bảo tàng - Thư viện tỉnh phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Quốc gia khai quật di chỉ trên. Sau gần 3 tháng thực hiện, việc khai quật Gò Ba Cảnh đã cơ bản hoàn thành.

Chiều ngày 04/7/2019, tại trụ sở Bảo tàng - Thư viện tỉnh, Sở VH, TT và DL phối hợp Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tổ chức họp báo cáo sơ bộ kết quả đợt khai quật lần này. Tham dự buổi báo cáo có sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở VH, TT và DL; ông Nguyễn Văn Đoàn, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; cùng đại diện lãnh đạo Văn phòng Sở, Phòng Quản lý văn hóa, du lịch, Bảo tàng - Thư viện tỉnh, các cơ quan văn hóa huyện Tân Hưng và báo Long An.

5-7-2019 Dai bieu tham du bao cao so bo Di tich Go Ba Canh.jpg

Đại biểu tham dự báo cáo sơ bộ Di tích Gò Ba Cảnh

Tiến sĩ Trương Đắc Chiến chủ trì đoàn khai quật trình bày kết quả khai quật. Trong đó, xác định di tích có cả 02 khu vực cư trú và kiến trúc. Tầng văn hóa của khu vực cư trú phát hiện nền đất sét, cụm than tro, hố đất đen, tàn tích thực vật, xương răng động vật, thu thập được khối lượng lớn đồ đá, đồ xương và đồ gốm. Phát hiện hai nền kiến trúc có kết cấu kiến trúc gạch. Kết quả bước đầu, Tiến sĩ Trương Đắc Chiến nhận định Gò Ba Cảnh là một di tích phức hợp, vừa có tính chất cư trú, vừa có kiến trúc tôn giáo, nằm trong khung niên Óc Eo - hậu Óc Eo.

5-7-2019 Dai bieu xem hien vat phat hien tai Go Ba Canh.jpg

Đại biểu xem hiện vật phát hiện tại Di tích Gò Ba Cảnh

Sau phần trình bày báo cáo, đại biểu đóng góp và đề xuất phương án bảo tồn và phát huy giá trị Di tích Gò Ba Cảnh. Phương án tối ưu được chọn đó là: Lập bản đồ quy hoạch toàn bộ các di tích khảo cổ trên địa bàn tỉnh; phối hợp liên ngành để tiếp tục nghiên cứu, khai quật làm rõ các dấu tích chưa được phát lộ; xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị công nhận Di tích Gò Ba Cảnh; đồng thời bảo vệ nguyên trạng và từng bước xây dựng quy hoạch Gò Ba Cảnh, góp phần bảo tồn bền vững di tích gắn với sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương./.

Th. Lan

09/07/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Hội nghị thông báo khảo cổ học lần thứ 46Hội nghị thông báo khảo cổ học lần thứ 46
Tại Hà Nội vào cuối tháng 9, trong hai ngày 29 và 30/9/2011 tại Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã diễn ra Hội nghị Thông báo khảo cổ học lần thứ 46. Đến dự Hội nghị có nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương – Chủ tịch danh dự của Hội Khảo cổ học Việt Nam; GS. Lưu Trần Tiêu – nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam; ông Dương Trung Quốc – Tổng thư ký  Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cùng các nhà khảo cổ học trong cả nước. Đặc biệt Hội nghị lần này còn có sự tham gia của các nhà khảo cổ đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu của Nhật Bản, Đức, Ý, Mỹ, Hàn quốc và đại diện của UNESCO.

        Tại Hà Nội vào cuối tháng 9, trong hai ngày 29 và 30/9/2011 tại Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã diễn ra Hội nghị Thông báo khảo cổ học lần thứ 46. Đến dự Hội nghị có nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương – Chủ tịch danh dự của Hội Khảo cổ học Việt Nam; GS. Lưu Trần Tiêu – nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam; ông Dương Trung Quốc – Tổng thư ký  Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cùng các nhà khảo cổ học trong cả nước. Đặc biệt Hội nghị lần này còn có sự tham gia của các nhà khảo cổ đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu của Nhật Bản, Đức, Ý, Mỹ, Hàn quốc và đại diện của UNESCO.

        Hội nghị đã đón nhận 430 bài viết về kết quả nghiên cứu mới, trong đó tiểu ban Thời đại Đá: 41 bài; Thời đại Kim khí: 98 bài; Khảo cổ học Lịch sử: 252 bài; Champa – Óc Eo: 33 bài và 6 bài về các vấn đề chung. Tất cả thể hiện thông tin về phát hiện mới và kết quả nghiên cứu mới, trong đó hai thành tựu nổi bật của khảo cổ học Việt Nam trong năm qua là các hoạt động của ngành đã góp phần hữu hiệu vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc, cụ thể là di tích Thành nhà Hồ đã trở thành di sản văn hóa thế giới, cùng với di sản Huế, Mỹ Sơn, Hội An và Hoàng thành Thăng Long đã được UNESCO công nhận trước đó.

        Thành tựu nổi bật thứ hai là công cuộc bảo vệ, bảo tồn và công tác quy hoạch khảo cổ học. Trong xu thế đô thị hóa và công nghiệp hóa trên cả nước hiện nay, nếu không khẩn trương làm tốt công tác quy hoạch khảo cổ học thì các di tích khảo cổ sẽ biến mất nhanh chóng và không còn cơ sở để nghiên cứu và thẩm định các giá trị của các di tích ấy.

        PGS.TS Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam phát biểu: “Chúng ta đã có quá nhiều bài học lớn về việc thiếu giữ gìn, bảo vệ các di tích khảo cổ học trước tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hóa như hiện nay. Bởi thế, việc các địa phương như Bình Định, Quảng Ninh, Khánh Hòa… đang có kế hoạch triển khai công tác này là một điều quan trọng cho ngành khảo cổ”.

        Hướng tới, Viện Khảo cổ học Việt Nam sẽ phối hợp với bảo tàng các tỉnh và thành phố thực hiện tốt hơn nữa công tác quy hoạch khảo cổ và rất cần sự hợp tác tích cực từ các cấp chính quyền cho công tác này./.

                                                                                                 Vương Thu Hồng

 

11/10/2011 6:56 SAĐã ban hànhApproved
Nhà ông Nguyễn Văn Huệ, cơ sở hoạt động cách mạng Mỹ An Phú Nhà ông Nguyễn Văn Huệ, cơ sở hoạt động cách mạng Mỹ An Phú

Đây là ngôi nhà ngói ba gian hai chái được xây dựng vào năm 1939 của một gia đình ba thế hệ giàu truyền thống yêu nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cả ba thế hệ này đều tham gia phục vụ kháng chiến, âm thầm nuôi giấu, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, bộ đội du kích với một tinh thần cách mạng cao cả. Đó là gia đình ông Nguyễn Văn Kiên – bà Đinh Thị Ơn là thế hệ đầu tiên, ông Nguyễn Văn Huệ - bà Nguyễn Thị Bưởi (còn có tên gọi là Nguyễn thị Hồng) là thế hệ thứ hai và bà Nguyễn Thị Hạnh là thế hệ thứ ba.

23-4-2018 Di tích Nhà ông Nguyễn Văn Huệ, cơ sở hoạt động cách mạng Mỹ An Phú.jpg

Di tích "Nhà ông Nguyễn Văn Huệ, cơ sở hoạt động cách mạng Mỹ An Phú"

Năm 1939, ông Nguyễn Văn Kiên và bà Đinh Thị Ơn có xây dựng một ngôi nhà tại làng Mỹ An Phú, quận Châu Thành, tỉnh Tân An (nay thuộc ấp 2, xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An) để ở. Mặc dù gia đình ông Kiên – bà Ơn thuộc tầng lớp trung nông có nhiều ruộng đất, nhưng với tinh thần yêu nước, yêu đồng bào phải chịu cảnh đô hộ của thực dân nên hai ông bà đã sử dụng ngôi nhà của mình để nuôi giấu các đồng chí lãnh đạo, cán bộ của tỉnh, huyện về hoạt động và chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp nối truyền thống của gia đình, từ năm 1955 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông Nguyễn Văn Huệ - bà Nguyễn Thị Hồng đã sử dụng ngôi nhà của cha mẹ mình để lại tiếp tục nuôi giấu, bảo vệ cán bộ của tỉnh, huyện, xã trong quá trình hoạt động cách mạng tại địa phương. Ngoài việc nuôi giấu cán bộ cách mạng bà Nguyễn Thị Hồng còn được các đồng chí lãnh đạo phân công nhiệm vụ liên lạc, tiếp nhận sơ đồ đồn bót địch từ cơ sở cách mạng về để lực lượng ta tổ chức đánh địch. Đồng thời bà cũng đảm nhận nhiệm vụ thu thập tin tức, tình hình thực tế ở địa phương về báo cáo cho các đồng chí lãnh đạo; tham gia gầy dựng cơ sở cách mạng địa phương, đóng góp lương thực thường xuyên cho cách mạng, nhất là trong các chiến dịch lớn.

 Đến thế hệ thứ 3, với lòng yêu nước được vun đắp từ thế hệ cha ông, bà Nguyễn Thị Hạnh – người con ưu tú của xã Mỹ An Phú đã tham gia cách mạng từ rất sớm lúc bà chỉ mới 16 tuổi, bà đã cùng với mẹ là bà Nguyễn Thị Bưởi làm công tác liên lạc và nuôi giấu cán bộ tại xã Mỹ An Phú. Vào năm 1967, đồng chí Bảy Nam – Chỉ huy trưởng trận đánh Tràm Sình, vì lúc này ông là cán bộ của Khu 8 nên chưa nắm bắt kịp thời địa bàn trước trận đánh nên ông đã giao nhiệm vụ đưa thư hỏa tuyến cho bà Hạnh đến đồng chí Hai Hùng, Hai Hồng. Và cũng từ những bức thư hỏa tuyến này đã góp phần làm nên thành công của trận chặn đánh quân Mỹ đổ quân tại Tràm Sình - tiêu diệt được 03 lính Mỹ. Với nhiệt huyết và sự đóng góp của mình, bà Hạnh đã được kết nạp vào Đoàn Thanh niên năm 1966. Cuối năm 1968, bà chuyển về thị xã Tân An và được kết nạp vào Đảng Cộng sản tham gia hoạt động tại thị xã Tân An. Trong lúc hoạt động tại đây bà Hạnh đã tham gia rãi truyền đơn, vận động các gia đình nuôi chứa cách mạng, xây dựng cơ sở chứa lực lượng đánh sập cầu... Năm 1973, bà được phân công về hoạt động tại xã Mỹ An Phú cho đến ngày giải phóng. Năm 1988, bà được Hội đồng Nhà Nước ban tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ Hạng Nhất, Huy hiệu 40 năm tuổi đảng.

23-8-2018 Khách đến tham quan di tích.jpg

Khách đến tham quan di tích

Ngôi nhà có diện tích 170,5m2 được nằm trên một mảnh vườn rộng 7.172 m2, được xây dựng theo lối kiến trúc cổ truyền của người dân Nam Bộ gồm ba gian hai chái với hướng Tây là hướng chính của ngôi nhà và có một vách ngăn để tạo ra gian trước và buồng ngủ. Phía trước của ngôi nhà là một hành lang nhỏ được bao bọc bởi một lan can bằng gạch tô xi-măng với những trụ cột  mang dáng dấp kiến trúc cổ. Ngôi nhà được bốn vách tường xi-măng bọc kín đáo, tấm vách này được xây dựng vào năm 1980 để thay thế cho vách gỗ thao lao trước đó, phía trên cùng của chái phía bên phải có khắc năm xây dựng của ngôi nhà, tức năm 1939. Toàn bộ ngôi nhà được lợp ngói "vảy cá", đây là ngói nguyên thủy của ngôi nhà dẫu có một số viên ngói là mới do ngôi nhà đã hứng chịu miễn pháo trong những năm chiến tranh.

Với sự bào mòn của thời gian và sự phá hủy của chiến tranh nên các hầm bí mật trong nhà và ngoài vườn đều không còn, chỉ còn lại ba bộ ván bằng gỗ quí, trong đó có một bộ ván bị thủng một đoạn khá dài (gần một mét) do đuôi một trái sáng rơi trúng vào năm 1968, hai cặp bàn thờ, hai bàn độc, một ghế nghi và bàn thờ Phật... tất cả đều gắn liền với việc nuôi giấu các chiến sĩ cách mạng. Trong những năm kháng chiến, gia đình đã sử dụng cây đèn dầu của ngôi nhà để làm tín hiệu: đèn trên bàn thờ Phật ở chính giữa nhà được thắp sáng tức là không có lính (quân địch nói chung) báo hiệu cho các đồng chí đang ẩn nấp phía ngoài vườn có thể vào trong nhà; đèn trên bàn thờ tổ tiên được thắp sáng tức là có lính trong nhà, nghĩa là không an toàn.

23-8-2018 Bàn thờ Phật, nơi làm tín hiệu cho các đồng chí ở ngoài vườn có thể vào trong nhà.jpg 

Bàn thờ Phật, nơi làm tín hiệu cho các đồng chí ở ngoài vườn có thể vào trong nhà

Ngôi nhà là một chứng tích lịch sử kiên cố, hùng hồn để minh chứng về sự cống hiến to lớn của gia đình ba thế hệ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, góp phần không nhỏ vào thành công của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, là nơi giáo dục tiếp bước truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau, xứng đáng với quyết định công nhận ngôi nhà là một di tích lịch sử cấp tỉnh (Quyết định số 3388/QĐ-UBND vào ngày 17/8/2016 của UBND tỉnh Long An).

Hồng Nhung

27/08/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
ĐOÀN CÁN BỘ ỦY BAN KIỂM TRA ĐẢNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÀO THĂM VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TẾ TẠI LONG ANĐOÀN CÁN BỘ ỦY BAN KIỂM TRA ĐẢNG NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÀO THĂM VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TẾ TẠI LONG AN

Từ ngày 20 đến ngày 22/6/2016, Đoàn cán bộ Ủy ban Kiểm tra của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đang được đào tạo tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã có chuyến đi thực tế đến tỉnh Long An, nhằm trao đổi kinh nghiệm về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng. Đoàn gồm 17 người do Tiến sĩ Đoàn Văn Đàn, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm Trưởng đoàn. Đón tiếp đoàn có đồng chí Lê Thanh Nghiêm - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy tỉnh Long An.

Trong khuôn khổ của chương trình, Đoàn đã đến thăm và dâng hương tại một số di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh.

Ngày 20/6/2016, Đoàn đến thăm và dâng hương tại Công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc tại Phường 5, thành phố Tân An. Tại đây, Đoàn được giới thiệu về truyền thống vẻ vang của quân và dân Long An trong kháng chiến chống Mỹ, thông qua các bộ sưu tập hiện vật, tư liệu, hình ảnh vô cùng phong phú và các mô hình sống động được trưng bày tại đây.

Ngày 21/6/2016, Đoàn đến thăm và dâng hương tại di tích Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, tọa lạc tại thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức. Tại đây, Đoàn được giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - nguyên Quyền Chủ tịch nước – Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; người chiến sĩ cộng sản kiên định, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Đồng thời Đoàn cũng hiểu thêm về con người và lịch sử phát triển của vùng đất Long An – nơi sản sinh ra những người con ưu tú, anh hùng dân tộc cho nước nhà.

CaRi1.jpg

Đoàn dâng hương và chụp hình lưu niệm tại Công viên tượng đài Long An

CaRi2.jpg

Đoàn dâng hương tưởng niệm tại Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

CaRi3.jpg

Đoàn tham quan phòng trưng bày tại Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ.

Bài, ảnh: Azid Giàu.

Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa.

28/06/2016 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Đám lá Tối TrờiDi tích lịch sử Đám lá Tối Trời

Đám lá Tối Trời là khu vực sình lầy, sông rạch chằng chịt, mọc đầy dừa nước và các loài cây hoang dại, tọa lạc ven bờ Vàm Cỏ Tây thuộc ấp Thuận Lợi, xã Nhựt Ninh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Từ thị trấn Tân Trụ, du khách theo đường tỉnh 833 đến ngã ba Nhựt Ninh, tiếp tục rẽ vào lộ Bình Thuận khoảng 2km thì đến di tích .

Trước đây, đám lá có dạng như 1 cái túi lớn, được sông Vàm Cỏ bao bọc ở 3 mặt đông, tây và nam. Từ  sông lớn, có hơn 10 con rạch đổ vào trung tâm đám lá. Trước năm 1945, nơi đây chỉ là 1 doi lá rộng khoảng 6 ha thuộc quyền sở hữu của ông Phan Văn Mun, thường được gọi là Doi ông Mun hay là Đám lá lớn.  Sau Cách mạng Tháng Tám-1945, khu vực này được chọn làm căn cứ cách mạng của xã Nhựt Ninh. Để tạo địa hình cho căn cứ, cách mạng đã vận động nhân dân ngưng đốn lá, trồng cây gây rừng. Qua thời gian, diện tích địa hình đã phát triển lên hơn 50ha với nhiều loại cây hoang dại như: ô rô, cóc kèn, bần, mắm, vẹt...mà nhiều nhất là dừa nước. Nằm ở khu vực giáp ranh giữa 3 huyện Cần Đước, Châu Thành, Tân Trụ, có địa hình thuận lợi nên nơi đây nhanh chóng phát triển thành một lõm căn cứ quan trọng trong hệ thống liên hoàn các căn cứ du kích của tỉnh Long An. Ngày 16-8-1948, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, dùng xe bọc thép và tàu chiến bao vây căn cứ với ý đồ tiêu diệt lực lượng cách mạng đang trú đóng nơi đây. Tuy nhiên, cuộc hành quân của chúng đã thất bại vì gặp phải địa hình phức tạp, dưới thì sinh lầy, trên thì âm u, rậm rạp, khó tìm được lối ra nếu không thông thạo. Vì thế, chúng gọi nơi đây là Đám lá Tối Trời và cũng từ lúc này, tên Đám lá Tối Trời trở thành một địa danh nổi tiếng gắn liền với lịch sử kháng chiến chống xâm lược của đất và người Long An.

Trong suốt 30 năm (1945-1975), Đám lá Tối Trời là căn cứ quan trọng trong hệ thống liên hoàn các căn cứ kháng chiến của tỉnh Long An. Từ cuối năm 1954, tỉnh ủy Long An đã về lập cơ sở ở Đám lá Tối Trời. Các huyện lân cận cũng lấy nơi đây làm hậu cứ. Công binh xưởng, trạm quân y, các lớp bồi dưỡng, huấn luyện về quân sự, chính trị cũng được tổ chức tại Đám lá Tối Trời để phục vụ cho công cuộc kháng chiến. Trong từng giai đoạn lịch sử, nơi đây là căn cứ của nhiều lực lượng, từ cấp miền đến cấp huyện, xã. Có lúc, bộ phận quân y của R, các cơ quan lãnh đạo của Phân khu 3 và nhiều đơn vị vũ trang của tỉnh đã về đóng tại Đám lá Tối Trời. Trong cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa tết Mậu Thân-1968, Đám lá Tối Trời là cơ sở quân y lớn, chữa trị cho hơn 300 thương binh từ tiền tuyến chuyển về mà vẫn đảm bảo an toàn.

Đám lá Tối Trời thực sự là cái gai trong mắt địch. Vì thế, chúng đã sử dụng các phương tiện chiến tranh hiện đại, mở những đợt càn quét quy mô vào Đám lá Tối Trời hòng hủy diệt căn cứ của ta, nhưng lần nào chúng cũng thất bại thảm hại. Điển hình là trong trận chống càn ngày 22-1-1966, bộ đội và du kích đã tiêu diệt 200 tên địch, trong đó có 4 cố vấn Mỹ, 1 đại úy ngụy, bắn chìm 1 tàu chiến, thu nhiều vũ khí chiến lợi phẩm.

Từ năm 1965, cứ 15 phút, bọn địch lại nã pháo vào Đám lá Tối Trời. Tàu chiến của chúng mỗi khi xuôi ngược trên  hệ thống sông Vàm Cỏ, ngang qua Đám lá Tối Trời đều không quên trút đạn vào đây. Cho đến năm 1975, Đám lá Tối Trời đã hứng chịu hàng ngàn tấn bom đạn của kẻ thù. Đặc biệt, từ sau tết Mậu Thân, địch đã điên cuồng rải chất độc hóa học, phun xăng dầu đốt cháy cây cối, hòng hủy diệt địa hình Đám lá Tối Trời. Trong giai đoạn khó khăn này, lực lượng ta phải tạm rút về Châu Thành. Đến năm 1970, ta tiếp tục trở lại xây dựng căn cứ, tiếp tục chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn (30-4-1975).

Để căn cứ tồn tại suốt 30 năm trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, nhiều đồng bào, chiếm sĩ cách mạng đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, để lại cho đời những tấm gương chói lọi. Nhân dân vùng căn cứ một lòng một dạ sắt son với Đảng, quyết tâm ủng hộ cách mạng đến cùng. Ông Võ Văn Vọng dù bị hàng chục vết thương, chỉ còn 1 chân, 1 tay nhưng vẫn quyết bám trụ, chiến đấu ở căn cứ. Năm 1969, địch bắt được ông và hứa sẽ bảo toàn tính mạng nếu ông chịu rời bỏ Đám lá Tối Trời. Ông nói rằng:”Tụi bây bắn tao đi chứ tao đã thề chết sống ở mảnh đất này” rồi hy sinh oanh liệt. Nhân dân nơi đây đánh giặc và bảo vệ căn cứ theo cách riêng của mình. Những câu chuyện tưởng chừng như là giai thoại về dùng ong vò vẽ diệt Mỹ, về một chị phụ nữ dùng binh vận đẩy lui cả môt trận càn đều là người thật, việc thật. Nhân dân đã dùng trí thông minh, lòng dũng cảm để qua mắt địch, tiếp tế lương thực, thuốc men, vũ khí...giúp lực lượng cách mạng hoàn thành nhiệm vụ kháng chiến. Nhiều cô bác bị đốt nhà hàng chục lần, bị bắt giam, tra tấn như cơm bữa như vẫn không nao núng, vẫn quyết tâm bám trụ căn cứ. Vì thế, Đám lá Tối trời đã trở thành căn cứ của lòng dân, nên dù địch có dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn hòng hủy diệt nhưng căn cứ vẫn tồn tại như là một điểm son trong trang sử chống xâm lược của quân và dân tỉnh Long An. Với những giá trị tiêu biểu ấy,  Đám lá Tối Trời đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử tại Quyết định số 1105/UB-QĐ, ngày 18-6-1993.
                                                                                               Nguyễn Văn Thiện

26/06/2012 1:50 SAĐã ban hànhApproved
Kỷ niệm 150 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1868-2018): Hào khí người anh hùng làng chài - Kỳ 2: “Chi nài sắm dao tu nón gõ” (*) Kỷ niệm 150 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1868-2018): Hào khí người anh hùng làng chài - Kỳ 2: “Chi nài sắm dao tu nón gõ” (*)

Nguyễn Trung Trực theo tiếng gọi non sông tham gia vào đội quân đồn điền về ứng nghĩa chống giặc ở phòng tuyến Đại đồn Kỳ Hòa như một lẽ tự nhiên của người trai lớn lên giữa thời loạn. Thế nhưng, không như quan binh triều đình, dù "chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung", "chi nài sắm dao tu nón gõ", ông chưa hề thất bại trước kẻ thù cho đến trước khi chấp nhận ra mặt để giặc bắt vì thế cùng lực kiệt bởi vận nước trong cơn bi bịch lúc bấy giờ.

Chuyên gia tập kích

Sau khi quân Pháp chiếm Định Tường (12/4/1861), nhân dân 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ nổi lên chống giặc khắp nơi nên quân Pháp bố trí nhiều tàu tuần tiễu ngày đêm trên các sông rạch bắn phá, khủng bố, tra xét gắt gao nhằm kiểm soát tình hình nổi dậy, trong đó có tiểu hạm L'Espérance (Hy vọng) tại vàm sông Nhựt Tảo (nay thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ). Đó là chiếc tàu kiểu Lorcha: "Là loại tàu hay ghe chài bản xứ người ta cho đậu ở nhiều sông rạch để để canh phòng thay thế cho pháo hạm. Thủy thủ đoàn là Pháp quân, do một sinh viên hải quân hay một trung úy chỉ huy. Người ta cho lính Tagal phụ theo lính thủy Pháp. Lính Tagal trở nên thủy binh ưu tú và lính bổn xứ được bố trí xung quanh tàu để canh phòng... Đây là những đồn nổi, không hơn không kém. Lâu nay, chiếc L'Amphytrite đậu ở Gò Công và Gia Thạnh và tiểu hạm Espérance ở Vàm Nhựt Tảo. Các tàu này giúp ích nhiều lắm và nhất là đỡ cho các pháo hạm của ta... Tàu được các ghe nhỏ túa ra canh chùng và do thám người An Nam hoạt động xung quanh chỗ tàu đậu" (Paulin Vial). Trên tàu có khoảng chừng 45 người, bao gồm người Pháp, người Tagal và người Việt, có trang bị một khẩu đại bác cùng nhiều vũ khí đa năng. Trên bờ, quân Pháp lập một đồn ở chợ Nhựt Tảo (nay chợ này không còn) với 20 lính tập người Việt đóng giữ, sẵn sàng yểm trợ cho tàu. Tất cả được đặt dưới sự chỉ huy của viên trung úy trẻ Parfait được đánh giá là tích cực, can đảm từng được gắn nhiều huy chương vì thành tích quân sự. Tiểu hạm L'Espérance là một tàu gỗ có chỗ được bọc đồng chạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn, là một trong những tàu thuộc hàng bậc nhất của hải quân Pháp lúc bấy giờ, xét về trang bị, bố phòng và tương quan lực lượng, đây thực sự là một pháo đài nổi gần như bất khả xâm phạm, đầy thách thức đối với nghĩa quân.

Trước tình hình đó, Nguyễn Trung Trực sau khi điều nghiên, xây dựng một kế hoạch tập kích táo bạo nhưng hoàn hảo, do ông chỉ huy cùng với hai Phó quản cơ là Huỳnh Khắc Nhượng và Nguyễn Văn Quang và 59 dân binh. Ngoài ra còn có sự phối hợp của những người trong bộ máy hành chính địa phương như hai anh em cai tổng Hồ Quang Minh và hương thân Hồ Quang Chiêu của làng Nhựt Tảo. Sáng ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực nghi binh, cho một toán nghĩa quân kéo về kênh Ông Hóng (xã Bình Lãng, huyện Tân Trụ), gióng trống khua chiêng để phân tán lực lượng địch. Parfait là sĩ quan trẻ, háo thắng nên mắc mưu, liền chỉ huy một toán lính rời tàu xuống xuồng nhỏ kéo đi càn quét, để lại một số ít lính Pháp trên tàu. Huỳnh Khắc Nhượng và Nguyễn Văn Quang dẫn hai đội quân men theo bờ sông tiến sát chỗ tàu đậu chờ lệnh. Đến trưa, Nguyễn Trung Trực cùng 59 nghĩa quân giả làm thuyền buôn (theo Đại Nam thực lục chính biên [Đệ tứ kỉ, Q.26]) tiến thẳng đến tàu Pháp, rồi bất ngờ tấn công vào giữa lúc lính tráng trên tàu đang nghỉ ngơi. Tên hạ sĩ quan Pháp phó chỉ huy tàu bị một ngọn giáo đâm thẳng vào ngực và rơi xuống nước khi cúi xuống định xét giấy tờ. Nguyễn Trung Trực là người đầu tiên lên tàu và 4 tên lính Pháp bị hạ gục ngay tức khắc. Nghĩa quân nhảy lên tàu hò hét vang trời để thị uy. Quân Pháp bị tấn công bất ngờ không kịp trở tay, một số nhảy xuống sông, một số chết ngay trong đợt tấn công đầu. Các đội quân của Huỳnh Khắc Nhượng và Nguyễn Văn Quang chỉ huy được lệnh xáp chiến, một phần tấn công vào đám lính mã tà trên bờ, một phần nhảy lên tàu dùng búa phá tàu nhưng không được bèn nổi lửa đốt tàu. Sau trận đánh, ta diệt 17 lính Pháp và Tagal, 20 tên lính tập trên đồn Nhựt Tảo cũng bị toán quân do hương thân Hồ Quang Chiêu chỉ huy phối hợp với nghĩa quân hai phó quản cơ của Nguyễn Trung Trực diệt gọn. Khi Parfait quay trở lại chỉ tìm được 3 tên lính Tagal trốn thoát nấp trong bụi rậm, không tìm được nghĩa quân nào.

Trận đốt tàu L'Espérance làm cho danh tiếng của Nguyễn Trung Trực vang lừng khắp nơi. Ông được đánh giá là vị chỉ huy chẳng những có võ nghệ cao cường mà trí lược hơn người, chỉ bằng vũ khí thô sơ và mưu trí đã tiêu diệt được chiến hạm của Pháp được trang bị vũ khí hiện đại. Chính vì vậy mà quân Pháp cay cú đốt hàng loạt nhà, chặt phá cây cối của làng Nhựt Tảo để trả thù và dựng bia kỉ niệm thất bại ngay tại vàm Nhựt Tảo (Bia này đã bị phá bỏ sau năm 1975). Triều đình (Tự Đức) đánh giá rất cao nên mới trợ cấp các gia đình bị thiệt hại và ban thưởng những người tham gia trận đánh. Sách Đại Nam thực lục chính biên (Đệ tứ kỉ, Q.26) ghi rằng: "Vua thưởng cho bọn Lịch, Quản cơ Nhượng, Quang cộng 20 người làm Cai đội, đều cho ngân tiền và thưởng chung cho binh đinh 1.000 quan tiền, 4 người bị chết cấp cho tiền tuất gấp 2 và ấm nhiêu cho con hay cháu gọi bằng chú bác ruột. Lại chẩn cấp cho những nhà thôn ấy bị Tây dương đốt cháy. Thự Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, lĩnh Tuần phủ Định Tường là Đỗ Thúc Tĩnh đều nói trận này là trận xuất sắc nhất, cho nên mới thưởng cho hậu". Chiến thắng Nhựt Tảo đã trở thành nỗi ám ảnh của thực dân Pháp và niềm cổ vũ lớn lao cho nghĩa quân, Alfred Schreiner gọi "Đấy là khúc nhạc mở đầu cho một cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn lũy của người Pháp".

Trước và sau trận đốt tàu ở Nhựt Tảo, cũng bằng chiến thuật tập kích, Nguyễn Trung Trực đã làm cho người Pháp khiếp sợ, mất ăn mất ngủ khi diệt trung tá chỉ huy Bourdais và 30 lính Pháp trong mặt trận Bảo Định (4/1961) và hàng loạt các cuộc tấn công tàu địch ở Rạch Tra (Đức Hòa), sông Tra (Gò Công), sông Vàm Cỏ Đông (Bến Lức). Paulin Vial kể: "Ba chiếc tiểu hạm (Iorcha) đậu trên sông Vaico Đông (tức Vàm Cỏ Đông) nhằm kiểm soát sự lưu thông đường thủy, bị tấn công hết sức dữ dội bởi những nhóm người đông đảo, do họ được cổ vũ bởi trận đốt tàu Espérance… Một trong ba chiếc đó, chiếc tiểu hạm số 3. Viên sĩ quan chỉ huy tàu này đã bị thương." Và Georfes Taboulet thú nhận:  "Cuộc nổi dậy bất ngờ bùng nổ vào ngày 16/12/1862 (trận Sông Tra), và chẳng mấy chốc lan rộng ra. Ba chiếc tuần tra và nhiều đồn bót bị đánh chiếm, như đồn Rạch Tra, gần Sài Gòn; trong trận đó, viên đại úy Thouroude đã tử trận…".

Đến trận lấy đồn Kiên Giang (16/6/1868) là một đồn lớn ngay trung tâm tỉnh, diệt Chủ tỉnh Chánh Phèn, 5 sĩ quan, 67 lính cả Pháp và quan chức người Việt làm việc cho Pháp, bắt sống 6 tên, thu trên 100 súng và một kho đạn, làm chủ tỉnh lỵ suốt một tuần cho thấy trình độ tập kích của Nguyễn Trung Trực phát triển đến mức cao, từ huấn luyện nghĩa quân, tổ chức lực lượng, chiến thuật táo bạo, thời điểm tấn công khiến địch hoàn toàn bị động... đã làm cho người Pháp dù biện bạch chống chế cho thất bại này cũng phải thừa nhận: "Thảm họa Rạch Giá là một trong những biến cố đau thương..." (Paulin Vial), "một sự kiện bi thảm" (George Diirrwell).

Tài năng quân sự

Hai trận "Hỏa hồng Nhựt Tảo" và "Kiếm bạt Kiên Giang" cho thấy tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực. Ở trận Nhựt Tảo, Nguyễn Trung Trực nắm bắt tình hình địch rất kỹ với hai điểm mấu chốt là sự lơ là phòng bị vào buổi trưa và đồn địch trên bờ hỗ trợ tàu L'Espérance để tìm cách khắc chế bằng cách tấn công hai mục tiêu tàu địch và đồn địch cùng lúc để ngăn chặn sự ứng cứu lẫn nhau, kết hợp với nghi binh, thu hút nhằm phân tán lực lực lượng chủ yếu trên tàu. Trong cách đánh, Nguyễn Trung Trực chọn nghĩa quân can đảm, giỏi võ, lặn lội giỏi, rành địa thế, nắm biết quy luật con nước lớn ròng, sử dụng vũ khí và chiến đấu trên sông nước thành thạo, đảm bảo tự chiến đấu khi được tung vào trận... để đảm bảo thắng lợi. Những trận phục kích quân Pháp ở mặt trận Bảo Định, sông Tra, sông Bến Lức có thể được xem là rất tiêu biểu của chiến thuật du kích, quấy rối. Trận lấy đồn Kiên Giang là kết quả của việc qui tụ lực lượng (gồm tất cả các tầng lớp, thành phần xã hội, dân tộc, bộ máy chính quyền địch...), điều nghiên tình hình, kết hợp binh - địch, vận chọn thời điểm tấn công (gần sáng), yếu tố bất ngờ... được kết hợp một cách hoàn hảo để tạo nên sức mạnh tổng hợp làm nên chiến thắng vang dội.

Tất cả các yếu tố đó cộng với tài năng chỉ huy thông minh và táo bạo của Nguyễn Trung Trực đã làm cho trận đốt tàu L'Espérance trở thành một trong những trận thủy chiến kết hợp với hỏa công tiêu biểu mà không phải ai cũng làm được trong lịch sử. Trận đốt tàu L'Espérance trên Vàm Nhựt Tảo dù là trận đánh có quy mô nhỏ nhưng xét trên nhiều phương diện tương quan lực lượng, hoàn cảnh lịch sử, sự khác biệt và ưu thế về phương tiện chiến tranh, vũ khí... đó là biểu hiện của tư duy quân sự, thông minh sáng tạo và tinh thần quả cảm chiến đấu chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam có thể vượt lên tất cả, vì vậy mang tầm vóc vĩ đại, cùng với Bạch Đằng, Rạch Gầm Xoài Mút... đi vào lịch sử chống ngoại xâm. Việc người Pháp xây "Đài chiến sĩ" trong khuôn viên Dinh tỉnh trưởng (nay là Nhà thiếu nhi tỉnh Kiên Giang) có nội dung "Tưởng niệm tử sĩ trận đại chiến 1914-1918 và trận đột kích 1868" cho thấy trận tập kích đồn Kiên Giang của Nguyễn Trung Trực là một trận đánh lớn, không thua kém gì một trận đánh trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đó là một đánh giá khách quan về tầm vóc của Nguyễn Trung Trực.

Từ "Hỏa hồng Nhựt Tảo" đến "Kiếm bạt Kiên Giang", Nguyễn Trung Trực bằng tài năng quân sự thiên bẩm của mình đã thể hiện và minh chứng sinh động tinh hoa và tư tưởng quân sự Việt Nam "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh". Điều đó chỉ có ở một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm. Tinh thần đó sẽ bùng lên mạnh mẽ một khi vận nước lâm nguy để "giữ gìn ngọn rau tấc đất " dù"chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung" mà Nguyễn Trung Trực là một hình ảnh tiêu biểu và sống động về người anh hùng nông dân áo vải./.

   Nguyễn Tấn Quốc

(*) Lời trong bài Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

Kỳ 3: Trở thành huyền thoại

22/10/2018 2:00 CHĐã ban hànhApproved
TỰ HÀO NGÔI TRƯỜNG MANG TÊN LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ TỰ HÀO NGÔI TRƯỜNG MANG TÊN LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ

Phát huy truyền thống là ngôi trường đầu tiên của tỉnh mang tên Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, được thành lập từ năm 2002, đến nay Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, huyện Bến Lức đã ươm mầm tài năng cho rất nhiều thế hệ học sinh.

ngay 7-7-2020, ben luc Tu hao mai truong mang ten Luat su Nguyen Huu Tho.JPG

Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, nơi ươm mầm tài năng

Cùng với các trường trong toàn huyện, những ngày này, Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ đang tích cực tổ chức tuyên truyền về lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tới cán bộ, giáo viên, học sinh thông qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Đồng thời, hưởng ứng tham gia cuộc thi "Tìm hiểu sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và Lịch sử Đảng bộ huyện Bến Lức" do huyện phát động với 100% học sinh tham gia.

Song song đó, để làm tốt công tác giáo dục truyền thống, vào đầu năm học mới, nhà trường đều tổ chức buổi ngoại khóa tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cho tất cả học sinh mới vào trường. Không chỉ thông qua những buổi sinh hoạt đầu tuần, các buổi sinh hoạt ngoại khóa hay những câu chuyện về Luật sư qua sách vở, bài học, các em còn được nhà trường tạo điều kiện tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với hình ảnh và thông tin phong phú ở phòng truyền thống của trường. Qua đó, giúp các em nêu cao tinh thần tự hào về ngôi trường cũng như hiểu biết về người trí thức yêu nước.

Em Nguyễn Tâm Bình, học sinh lớp 12A8 vẫn thường xuyên cùng các bạn đến phòng truyền thống của trường. Bảng tiểu sử chi tiết, những hình ảnh sống động về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã giúp các em có được những kiến thức chân thực nhất về Luật sư. "Em được các thầy cô kể rất nhiều chuyện về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Chúng em rất tự hào và vinh dự khi được học tập dưới mái trường mang tên Luật sư. Chúng em sẽ ra sức học tập, nguyện xứng đáng là học sinh của trường"- em Tâm Bình bộc bạch.

Kể từ khi thành lập đến nay, chất lượng giáo dục của trường không ngừng nâng lên. Trong đó: Học sinh khá, giỏi đạt tỷ lệ từ 60-80%; tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt từ 99% trở lên. Bảng vàng thành tích của nhà trường ngày một dày thêm với những phần thưởng và danh hiệu cao quý: Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu đơn vị tiên tiến xuất sắc, được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh tặng bằng khen. Hiện cơ sở vật chất của trường đã được đầu tư xây dựng khang trang, đầy đủ các phòng học, phòng chức năng và trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập theo quy định chuẩn. Với 80 lớp, 3.270 học sinh, trường cũng là một trong những đơn vị tiên phong áp dụng các phương pháp dạy và học tiên tiến, toàn diện. Nhờ vậy, chất lượng dạy và học của trường không ngừng được nâng cao.

Cô Phạm Thị Xuân Hương, giáo viên trường THPT Nguyễn Hữu Thọ chia sẻ: "Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ có truyền thống dạy và học từ nhiều năm nay. Để các em tiếp thu bài nhanh thì giáo viên phải chịu khó nghiên cứu cách truyền đạt kiến thức. Tôi lúc nào cũng phải nghĩ cách lồng những câu chuyện thực tế đời thường vào các bài học để giúp các em dễ mường tượng và nắm rõ điểm mấu chốt hơn".

ngay 7-7-2020, ben luc Tu hao mai truong mang ten Luat su Nguyen Huu Tho (3).JPG

Chất lượng dạy và học của trường không ngừng được nâng cao

Mỗi bước đi của thời gian, là mỗi bước đánh dấu truyền thống hiếu học của học sinh và sự trưởng thành của nhà trường. Mỗi bước đi lên, mỗi thành tựu nhà trường giành được đều bắt nguồn từ công lao to lớn của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý của nhà trường. Họ đã làm nên những "mùa vàng" bội thu của sự nghiệp "trồng người" trên mảnh đất giàu truyền thống hiếu học này. Các thế hệ hiệu trưởng như thầy Vũ Huy Tưởng, Huỳnh Văn C, Hồ Văn Mãnh, Trương Văn Bi, Phan Văn Toàn... và hàng trăm thầy giáo, cô giáo khác là những tấm gương hết lòng vì học sinh thân yêu, là sự mẫu mực về năng lực sư phạm cũng như về nhân cách làm người, làm thầy để học sinh noi theo.

Cô Đặng Thị Bích Loan, Phó hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Hữu Thọ chia sẻ: "Chính vì nỗ lực không ngừng của những "người lái đò" tâm huyết, từ mái trường này, nhiều thế hệ học sinh đã tốt nghiệp ra trường, tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, tham gia công tác trên nhiều lĩnh vực và xây dựng quê hương, đất nước. Cũng từ đây, rất nhiều học sinh đã trở thành thạc sĩ, kỹ sư, nhà lãnh đạo, quản lý các cấp. Để rồi, mỗi năm họ quay về trường cũ, mang theo những suất học bổng thay lời tri ân để giúp thế hệ sau có động lực thành công trong tương lai".

Với những nỗ lực vươn lên trong hoạt động giáo dục, Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ đã và đang khẳng định vị thế, thương hiệu chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi, về công tác quản lý học sinh luôn đứng tốp đầu các trường THPT trong huyện và trong tỉnh./.

Việt Hằng – Lê Hạnh

14/07/2020 3:00 CHĐã ban hànhApproved
KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ - ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA TỈNH CHỢ LỚN KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ - ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA TỈNH CHỢ LỚN

Khu nhà ông Bộ Thỏ tọa lạc tại ấp Bình Hữu 2, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Đây là tư gia của ông Nguyễn Văn Thỏ, tên thật là Nguyễn Văn Thới. Ông giữ chức Hương bộ - một chức vụ trong Ban hội tề của làng, nên dân trong vùng thường gọi là ông Bộ Thỏ.

17-9-2019 Nhà ông Bộ Thỏ với kết cấu khung sườn bằng gỗ.jpg

Nhà ông Bộ Thỏ với kết cấu khung sườn bằng gỗ

Nơi đây, vào ngày 06/3/1930, trước tình hình khai thác thuộc địa ngày càng gay gắt của thực dân Pháp, cũng như phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân diễn ra sôi nổi, đồng chí Võ Văn Tần đã tổ chức cuộc họp bí mật, thống nhất tuyên bố chuyển Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng làng Đức Hòa thành Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam làng Đức Hoà. Lúc này, nhằm đảm bảo tính bí mật, các đồng chí trong chi bộ đã tổ chức cuộc họp tại ao nước bên trái ngôi nhà ông Bộ Thỏ. Bên cạnh ao nước là cây khế, dưới cây khế có hầm bí mật thông ra hào nước để ẩn tránh khi có động. Đây là chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn và là một trong những chi bộ Đảng được thành lập sớm nhất ở Nam Kỳ. Chi bộ gồm có 7 đồng chí: Võ Văn Tần (Bí thư), Nguyễn Văn Sậy (Phó Bí Thư), Võ Văn Tây, Võ Thị Phái, Võ Văn Ngân, Nguyễn Văn Thới, Nguyễn Văn Ngọc. Chi bộ đã ra Nghị quyết lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung tuyên truyền và phương hướng hoạt động của Đảng ở địa phương.

17-9-2019 Ao nước - nơi diễn ra cuộc họp thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên.jpg

Ao nước - nơi diễn ra cuộc họp thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên
của tỉnh Chợ Lớn

Ngày 04/6/1930, đồng chí Võ Văn Tần đã lãnh đạo hàng ngàn người tiến về quận lỵ biểu tình chống sưu cao, thuế nặng. Mặc dù cuộc biểu tình bị đàn áp nhưng đoàn biểu tình quyết không lùi bước, buộc địch phải nhân nhượng xuống lệnh giảm thuế, giảm sưu. Điều này chứng minh cho khả năng lãnh đạo, vai trò của Đảng trong công cuộc đấu tranh của dân tộc là hết sức quan trọng. Từ hạt nhân Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này, các tổ chức Cộng sản đã phát triển ra khắp nơi trong tỉnh và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trải qua thời gian hơn 80 năm, cùng với sự tàn phá nặng nề của thiên nhiên và hai cuộc chiến tranh khốc liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khu nhà ông Bộ Thỏ đã bị xuống cấp trầm trọng, hiện chỉ còn ao nước - nơi diễn ra cuộc họp và cây khế hơn trăm năm tuổi như chứng nhân cho thời khắc lịch sử trọng đại này.

17-9-2019 Cây khế hơn trăm năm tuổi là di tích gốc còn tồn tại đến ngày nay.jpg

Cây khế hơn trăm năm tuổi là di tích gốc còn tồn tại đến ngày nay

Năm 1994, Ủy ban ban nhân dân huyện Đức Hòa đã cho xây dựng tại khu vườn nhà ông Bộ Thỏ bia kỷ niệm sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn. Đến năm 2012, ngôi nhà ông Bộ Thỏ đã được phục dựng lại nguyên bản trên một mảnh vườn rộng 10,342m2 với lối kiến trúc ba gian, hai chái, có hàng hiên bao bọc xung quanh cùng kết cấu khung sườn bằng gỗ; ao nước bên trái ngôi nhà cũng được tái hiện lại cuộc họp bí mật với hình tượng 7 đồng chí đảng viên, gần ao nước là cây khế cổ thụ xanh tươi như nhắc nhở cho hậu thế một thời kỳ đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

17-9-2019 Bia kỷ niệm sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn.jpg

Bia kỷ niệm sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn

Sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn tại địa chỉ đỏ này là một sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng ở Đức Hoà nói riêng và tỉnh Chợ Lớn nói chung phát triển mạnh mẽ, bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ có Đảng lãnh đạo. Từ đây, đã đưa phong trào đấu tranh lên đỉnh cao, góp phần cùng nhân dân cả nước đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với ý nghĩa đó, địa điểm thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn (khu nhà ông Bộ Thỏ) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL ngày 31/10/2013./.

Hồng Nhung

18/09/2019 11:00 SAĐã ban hànhApproved
TRIỂN LÃM CHUYÊN ĐỀ VĂN HÓA CHĂM VÀ TIẾP NHẬN HIỆN VẬT ĐƯỢC HIẾN TẶNG  TRIỂN LÃM CHUYÊN ĐỀ VĂN HÓA CHĂM VÀ TIẾP NHẬN HIỆN VẬT ĐƯỢC HIẾN TẶNG 

Vừa qua, Bảo tàng - Thư viện tỉnh đã tổ chức triển lãm chuyên đề văn hóa Chăm và tiếp nhận hiện vật do hai nhà sưu tầm hiện vật Nguyễn Ngọc Ẩn và Nguyễn Đình Thịnh hiến tặng. Đến dự triển lãm có ông Nguyễn Thành Thanh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Trương Văn Sang, Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh; lãnh đạo Bảo tàng các tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Đồng Tháp,Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh; cùng đại diện các sở, ngành tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh các huyện, thị xã, thành phố và đông đảo học sinh.

13-5-2019 Đại biểu tham dự Lễ khai mạc trưng bày chuyên đề văn hóa Chăm.jpg

Đại biểu tham dự Lễ khai mạc trưng bày chuyên đề văn hóa Chăm và
tiếp nhận hiện vật được hiến tặng

Triển lãm giới thiệu các hiện vật, hình ảnh về văn hóa Chăm với các phong tục, tập quán, trang phục, đồ dùng sinh hoạt thường ngày... Trong đó, nổi bật nhất là trang sức truyền thống với khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, chuỗi tay, đặc biệt là nhẫn Mưta – một biểu tượng đặc trưng của cộng đồng, được xem là linh hồn và bản sắc của dân tộc. Sưu tập trang sức của người Chăm ở Bình Thuận được trưng bày có niên đại khoảng thế kỷ XV- XIX, được làm từ chất liệu vàng, bạc, đồng, thủy tinh với kiểu dáng, hoa văn và màu sắc phong phú.

13-5-2019 Đại biểu xem triển lãm tại phòng trưng bày.jpg

Đại biểu xem triển lãm tại phòng trưng bày

13-5-2019 Một góc phòng trưng bày Văn hóa Chăm tại Bảo tàng-Thư viện tỉnh.jpg

Một góc phòng trưng bày văn hóa Chăm tại Bảo tàng - Thư viện tỉnh

Ngoài ra, triển lãm còn trưng bày 555 hiện vật do hai nhà sưu tầm Nguyễn Ngọc Ẩn và Nguyễn Đình Thịnh hiến tặng, chủ yếu là các hiện vật gốm với các dòng gốm thời Lý, Lê; gốm Lái Thiêu, Sài Gòn, Biên Hòa và nhiều hiện vật chất liệu kim loại như tượng trang trí, đồ gia dụng và sinh hoạt mang đậm phong cách dân gian Nam Bộ.

13-5-2019 Ông Nguyễn Thành Thanh – Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.jpg

Ông Nguyễn Thành Thanh, Phó Giám đốc Sở VH, TT và DL
tặng giấy khen cho nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Ẩn

Triển lãm là một điểm nhấn thú vị, giúp người xem hiểu rõ hơn về văn hóa Chăm ở Bình Thuận, đồng thời khám phá được vẻ mộc mạc nhưng tinh tế, đậm chất dân gian, mang tính ứng dụng cao của các dòng gốm lân cận Long An. Triển lãm mở cửa từ ngày 26/4/2019 đến hết tháng 6/2019./.

Hồ Phan Mộng Tuyền

20/05/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Hương cống, Cử nhânHương cống, Cử nhân
31/08/2011 1:37 SAĐã ban hànhApproved
LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ TRUYỀN THỐNG CƠ QUAN CHÍNH TRỊ QUÂN KHU 8 LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ TRUYỀN THỐNG CƠ QUAN CHÍNH TRỊ QUÂN KHU 8

Sáng ngày 30/11/2018, được sự hỗ trợ của Cục Chính trị Quân khu 9 và Quân khu 7, Ban liên lạc Cơ quan Chính trị Quân khu 8 đã tổ chức Lễ Khánh thành Nhà Truyền thống Cơ quan Chính trị Quân khu 8 tại xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

Ngay 07-12-2018 Quang canh.jpg

Quang cảnh buổi lễ khánh thành Nhà Truyền thống Cơ quan Chính trị Quân khu 8

Tham dự buổi lễ có Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Bùi Văn Huấn - nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Ban liên lạc Cơ quan Chính trị Quân khu 8; lãnh đạo Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Quân khu 7, Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang; thành viên trong Ban liên lạc Cơ quan Chính trị Quân khu 8, cùng đại diện lãnh đạo tỉnh Long An, huyện Tân Thạnh và xã Nhơn Ninh.

Ngay 07-12-2018 Dai bieu tham du.jpg

Đại biểu tham dự lễ khánh thành

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Chiến khu 8 (sau đổi thành Quân khu 8) gồm các tỉnh: Tân An (Long An), Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang), Bến Tre, Sa Đéc (Đồng Tháp) được thành lập ngày 10/12/1945. Cơ quan Chính trị Quân khu 8 ra đời vào ngày 20/10/1946, ban đầu thành lập được gọi là Phòng Chính trị, sau đổi thành Ban Chính trị và Cục Chính trị. Tuy tên gọi Cơ quan Chính trị có thay đổi qua các thời kỳ nhưng các cán bộ, chiến sĩ trong Cơ quan Chính trị Quân khu 8 vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, luôn đoàn kết nhất trí, trên dưới một lòng, đã động viên, giáo dục quần chúng luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, góp phần thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Ngay 07-12-2018 Đai bieu chup hinh.jpg

Đại biểu chụp hình lưu niệm tại buổi lễ

Ngay 07-12-2018 cat bang.jpg

Lãnh đạo cắt băng khánh thành Nhà truyền thống

Công trình Nhà Truyền thống Cơ quan Chính trị Quân khu 8 được xây dựng với kinh phí hơn 1,6 tỉ đồng, diện tích gần 150 m2 trưng bày 300 hình ảnh, tư liệu và hiện vật phản ánh những chiến công oanh liệt trong quá trình sống, chiến đấu của tập thể lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ Cơ quan Chính trị Quân Khu 8; gồm các chuyên đề: Ban Chủ nhiệm Chính trị Quân khu qua các thời kỳ, Cơ quan Chính trị Quân khu 8 trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và Cơ quan Chính trị Quân khu 8 trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975). Công trình nhằm tưởng nhớ công lao to lớn của đồng bào, chiến sĩ đã chiến đấu, hy sinh và những người có công giành độc lập dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Ngay 07-12-2018 Đai bieu tham quan.jpg

Đại biểu tham quan Nhà truyền thống

         Nhân dịp này, Ban liên lạc Cơ quan Chính trị Quân khu 8 đã tặng 60 phần quà cho gia đình chính sách, hộ nghèo và học sinh nghèo hiếu học trên địa bàn xã.

                                                               Hồng Nhung

07/12/2018 5:00 CHĐã ban hànhApproved
TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANTÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

THÀNH PHỐ TÂN AN

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

(Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An)

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Thượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đương thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận Công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 Di tích Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 534/QĐ/BT ngày 11/05/1993.

HUYỆN CẦN GIUỘC

CHÙA TÔN THẠNH (Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc)

Chùa Tôn Thạnh tọa lạc tại xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808.

Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người "dân ấp dân lân", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: "Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ".

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh "rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng" như xưa. Tuy nhiên, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng. Trong khuôn viên chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Năm 2003, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến và vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền.

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Chùa Tôn Thạnh là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/11/1997 .

RẠCH NÚI

(p Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc)

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400 ± 100 năm cách ngày nay, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ, bao gồm nhiều loại hình công cụ lao động bằng đá, xương, sừng và đồ gốm nhưng không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ: Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khác với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó, di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu (Nguyễn Văn Mỹ - quan đại thần triều Nguyễn).

Di tích Rạch Núi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Quyết định số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/06/1999.

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

CHÙA PHƯỚC LÂM

(Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước)

Chùa Phước Lâm – xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An - được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu "bánh ít", có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc hoàng, Thị giả, Thập điện, Thiện ác, Hộ pháp, Kim cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía Đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật.

Chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001.

NHÀ TRĂM CỘT

(Ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước)

Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, tại ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Nhà có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: phần phía trước được bày trí theo kiểu ngoại khách - nội tự (ngoài tiếp khách, trong thờ tự), phần phía sau dùng để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa của vùng đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/09/1997.

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

(Ấp 1, xã Long Hòa, huyện Cần Đước)

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 13 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 3 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm, Thuận Thành và Phước Hậu.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía Nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy (1966-1967).

Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460 QĐ/VH ngày 28/06/1996.

HUYỆN CHÂU THÀNH

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

(Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành)

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, 3 gian, 2 chái. Nhà có dạng hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân "thiên tỉnh" (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 03/08/2007.

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

(Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành)

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông sinh ngày 28/5 năm Đinh Hợi tức ngày 21/07/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/08/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông - nhà trí thức yêu nước,  người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

Khu lưu niệm Nguyễn Thông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 04/2001-QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001.

DI TÍCH ĐÌNH TÂN XUÂN

(Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành)

Đình Tân Xuân là di tích lịch sử văn hóa, một trong những ngôi đình cổ trên đất Long An. Đây là nơi ghi dấu tín ngưỡng thờ thần trong quá trình di dân lập ấp, đồng thời gắn liền sự kiện lịch sử, sự hy sinh oanh liệt của nhà yêu nước Đỗ Tường Tự, người thủ lĩnh cuối cùng của phong trào nông dân khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tân An.

Hàng năm, vào ngày 15-16/1 âm lịch tại đình diễn ra Lễ hội làm chay rất đặc sắc, quy tụ hàng ngàn người dân tham dự. Lễ hội làm chay có đặc trưng độc đáo là liên kết, tổng hòa nhiều thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng dân gian trên địa bàn như: đình Dương Xuân Hội, chùa Ông (Linh Võ tự), Âm Nhơn miếu (miễu cô hồn), Linh Phước tự, thánh thất Phương Quế Ngọc Đài. Lễ hội quy tụ hầu hết nhân dân các giới và các tôn giáo tham gia hành lễ. Về phần lễ, có những nghi thức cổ truyền đã có từ hơn một thế kỷ qua như: Thỉnh Tiêu Diện đại sĩ từ Linh Phước tự về chùa Ông; thỉnh Phật, thỉnh thầy từ Linh Phước tự về Đình Dương Xuân; cúng tế, đề phan liệt sĩ; cúng cô hồn ở Miếu Âm Nhơn; lễ chiêu u (rước cô hồn ) từ các nơi trong huyện về giàn ông Tiêu; nghi lễ đánh động, thỉnh thầy, thỉnh kinh; nghi lễ phóng đăng, phóng sinh; nghi lễ đốt nến, thả bèo, nghi lễ Chạy kim đàn và xô giàn, tiễn khách. Về phần hội, có những trò chơi dân gian cho nhân dân vui chơi như: Bịt mắt đập nồi, nhảy bao bố, kéo co, thả-bắt vịt…

Di tích đình Tân Xuân được xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 4109/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Lễ hội làm chay cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4205/QĐ-BVHTT ngày 19/12/2014.

HUYỆN THỦ THỪA

ĐÌNH VĨNH PHONG

(Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa)

Đình Vĩnh Phong tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

Đình Vĩnh Phong được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1811/1998/QĐ-BVHTT  ngày 31/08/1998.

HUYỆN BẾN LỨC

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

(Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức)

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn, bởi vì đây là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm: Ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông. Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn tọa lạc tại ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930-1945). Đồng thời đây là nơi ghi dấu một số hoạt động của các nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

HUYỆN TÂN TRỤ

VÀM NHỰT TẢO

(Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ)

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L'Espérance của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: "Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang". Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: "Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, UBND tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28/6/1996.

HUYỆN ĐỨC HUỆ

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

(Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ)

Các địa điểm thuộc căn cứ Bình Thành còn được gọi là di tích Bình Thành hay Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An, tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An.

Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói rằng, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

Di tích căn cứ Bình Thành đã được Bộ Văn hóa – Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BT ngày 04/12/1998.

HUYỆN ĐỨC HÒA

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

(Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa)

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5.000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/06/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng  7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 04/06/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn, thể hiện lòng tin của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

Ngã Tư Đức Hòa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH-QĐ, ngày 05/09/1989.

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN

 CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

(Ấp Giống Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa)

Nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ là nơi  đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật để thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn vào ngày 06/03/1930.

Chi bộ ra Nghị quyết: "Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy". Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng 3 tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

Khu nhà ông Bộ Thỏ tại ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL  ngày 31/10/2013.

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

(Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa)

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước hay còn gọi khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng Đông Bắc thành phố Tân An, cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách Tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía Đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn Đông Nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570-VH/QĐ  ngày 05/09/1989.

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

(Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa)

Di tích An Sơn  được hai nhà khảo cổ người Pháp là L. Malleret và P. Levy phát hiện từ năm 1838 và trải qua 3 lần khai quật lớn vào các năm 1978, 1997, 2004 do các nhà khảo cổ trong và ngoài nước thực hiện. Các cuộc khai quật này đã phát hiện nhiều di tích, di vật đa dạng, phong phú có thể tái hiện sinh động phương thức sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ nơi đây.

Đây là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hoá dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, là một đối tượng quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học ở Long An và Đông Nam Bộ.

Di tích An Sơn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 324/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011.

HUYỆN TÂN THẠNH

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ (1946 – 1949)

(Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh)

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

Di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ (1946-1949) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT ngày 03/08/2007.

HUYỆN VĨNH HƯNG

GÒ Ô CHÙA

(Ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng)

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc- 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3 m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến 2.000 năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1.000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

Gò Ô Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp dạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

                              Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền, PHÒNG NGHIỆP VỤ

                                         BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH LONG AN

01/07/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Một số hình ảnh về Hội nghị Sơ kết 03 năm xây dựng huyện Cần Đước là huyện điểm về điển hình văn hóa của tỉnh (2010 – 2013) Một số hình ảnh về Hội nghị Sơ kết 03 năm xây dựng huyện Cần Đước là huyện điểm về điển hình văn hóa của tỉnh (2010 – 2013)

20.jpg

Ông Phạm Văn Trấn, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 

báo cáo kết quả 03 năm xây dựng huyện Cần Đước

 là huyện điểm về điển hình văn hóa (2010 – 2013) của tỉnh

21.jpg

 Quang cảnh Hội nghị Sơ kết, diễn ra vào ngày 19/6/2013 

tại hội trường Trung tâm Văn hóa huyện Cần Đước

                                                                                                  22.jpg

Ông Trần Hữu Phước, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; bà Nguyễn Ngọc Hạnh, Ủy viên thường trực HĐND tỉnh và bà Trần Thị Nhanh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy tặng bằng khen cho 05 tập thể và 05 cá nhân đạt thành tích tốt trong công tác xây dựng huyện Cần Đước là huyện điểm về điển hình văn hóa​


21/10/2014 11:00 SAĐã ban hànhApproved
Hội nghị tổng kết công tác năm 2015, triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2016 và trao tặng danh hiệu: “Nghệ nhân ưu tú”Hội nghị tổng kết công tác năm 2015, triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2016 và trao tặng danh hiệu: “Nghệ nhân ưu tú”

         Chiều ngày 27/01/2016, tại Trung tâm Văn hóa tỉnh; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) Long An tổ chức Hội nghị  tổng kết công tác năm 2015, triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2016 và trao tặng danh hiệu: "Nghệ nhân ưu tú". Tham dự Hội nghị tổng kết có lãnh đạo Sở, lãnh đạo và công chức, viên chức của các phòng chuyên môn nghiệp vụ và các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở; lãnh đạo Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa – Thể  thao các huyện,  thị xã, thành phố, một số ban, ngành tỉnh và các ông, bà nguyên là lãnh đạo Sở Văn hóa – Thông tin, Sở Thể dục - Thể thao qua các thời kỳ. Ông Hoàng Văn Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tham dự và chủ trì hội nghị.

         Hội nghị đã nghe báo cáo tóm tắt hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016 do ông Phạm Văn Trấn, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở trình bày:

          Năm 2015, lãnh đạo Sở đã tập trung chỉ đạo hoàn thiện, ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo, làm căn cứ cho toàn ngành triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác trong năm.

          Đồng thời, lãnh đạo Sở còn chỉ đạo tham mưu Ban tổ chức các ngày lễ lớn tỉnh tổ chức thành công các lễ kỷ niệm như: Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Lễ khánh thành và đón nhận bằng xếp hạng di tích quốc gia Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ; Lễ kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Lễ kỷ niệm 75 năm ngày Khởi nghĩa Nam Kỳ và 50 năm Chiến thắng trận Đức Lập; Lễ đón nhận huyện Cần Đước trở thành huyện điểm điển hình về văn hóa của tỉnh; Lễ kỷ niệm 154 năm ngày hy sinh Cử nhân Phan Văn Đạt; Lễ tưởng niệm 147 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực và các ngày lễ kỷ niệm khác.

113.jpg

Ông  Phạm Văn Trấn, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở VH, TT và DL

báo cáo tóm tắt hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016

        Về nghiệp vụ, chuyên môn: Năm qua, ngành đã tổ chức thực hiện và hoàn thành tốt các chương trình, kế hoạch đề ra. Công tác xây dựng, ban hành văn bản quản lý nhà nước đáp ứng tốt yêu cầu, kịp thời chuyển tải sự chỉ đạo, điều hành của Sở đến các đơn vị, địa phương, tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động VH, TT và DL được phát triển, đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao.

        Công tác tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, tuyên truyền phòng, chống các tệ nạn xã hội, an toàn giao thông và các nội dung khác được triển khai với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Công tác thiết lập trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước về các lĩnh vực hoạt động VH, TT và DL đã mang lại những kết quả quan trọng trong việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn lưu hành văn hóa phẩm độc hại, mê tín dị đoan.

116.jpg

Quang cảnh Hội nghị

        Hoạt động thư viện, phát hành phim và chiếu bóng, các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và các đội văn nghệ quần chúng tập trung phục vụ tốt công tác tuyên truyền các ngày lễ lớn của đất nước và các ngày kỷ niệm của tỉnh, tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa nghệ thuật lành mạnh, kịp thời đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và nâng cao đời sống tinh thần của người dân.

        Hoạt động bảo tàng, bảo tồn phát huy truyền thống dân tộc, các công trình văn hóa trọng điểm của tỉnh được tập trung đầu tư và xây dựng. Công tác phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các Khu di tích lịch sử văn hóa, Khu công viên Tượng đài Long An "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" được đảm bảo tốt (phục vụ trên 91.000 lượt người).

        Hoạt động văn hóa cơ sở, các thiết chế văn hóa ngày càng phát triển, đặc biệt phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được nhân dân hưởng ứng tích cực, gắn kết chặt chẽ với các phong trào thi đua yêu nước, nhất là việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" ngày càng lan tỏa trong cộng đồng dân cư, khơi dậy và phát huy tính tích cực, sáng tạo, nguồn lực của nhân dân, góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh nhà.

        Hoạt động thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao phát triển mạnh; công tác phối hợp liên tịch hoạt động thể dục thể thao với các ngành, địa phương đạt hiệu quả tốt, góp phần thúc đẩy phong trào tập luyện thể dục thể thao phát triển rộng khắp trên địa bàn nông thôn, trường học, trong đội ngũ công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang.

        Công tác xúc tiến du lịch, tuyên truyền quảng bá, giới thiệu thông tin du lịch, văn hóa, lễ hội, ẩm thực của tỉnh được tăng cường đẩy mạnh. Hoạt động du lịch có nhiều cố gắng đạt được kết quả bước đầu. Năm 2015, khách du lịch đến Long An ước đạt 810.000 lượt người, doanh thu ước đạt khoảng 350 tỷ đồng.

        Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thị xã, thành phố thường xuyên tăng cường công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai sót và ngăn chặn những tệ nạn phát sinh. Trung tâm Văn hóa – Thể thao các huyện, thị xã, thành phố tổ chức nhiều hoạt động thông tin tuyên truyền, hoạt động thể dục thể thao, hội thi, hội diễn, triển lãm ảnh, biểu diễn văn nghệ chào mừng Đại hội Đảng bộ huyện, phục vụ các lễ kỷ niệm, hoạt động Về nguồn, ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của người dân.

114.jpg

Ông Võ Trường Kỳ và Ông Nguyễn Minh Tuấn, nguyên Giám đốc Sở VH-TT; bà Nguyễn Ngọc Hạnh, thường trực HĐND tỉnh;

 bà Trần Thị Nhanh, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ông Hoàng Văn Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và các đại biểu tham dự Hội nghị

       Hội nghị đã thông qua Phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác Văn hóa, Thể thao, Du lịch và gia đình năm 2016, cụ thể như sau:

        1. Tăng cường thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực văn hóa, dịch vụ VH, TT và DL. Tích cực tham mưu UBND tỉnh ban hành các văn bản về những nội dung, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016.

         2. Tăng cường công tác thanh tra hành chính và thanh tra thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các đơn vị thuộc Sở; phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tiếp tục nâng cao chất lượng Đội kiểm tra hoạt động văn hóa, phát hiện và xử lý các vụ việc vi phạm trong hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa.

         3. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính đối với các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành theo quy định.

         4. Triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ VH, TT và DL, Ban Chỉ đạo Trung ương phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.

        5. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về gia đình, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, các cấp trong việc triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

        6. Tham mưu với Tỉnh ủy, UBND tỉnh trên lĩnh vực đầu tư phát triển hoạt động bảo tồn, bảo tàng và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể. Đảm bảo tốt công tác phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh và các Khu di tích lịch sử văn hóa, Khu công viên Tượng đài Long An "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

         7. Hoạt động văn hóa, thư viện, phát hành phim và chiếu bóng, biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, không chuyên tập trung phục vụ tốt công tác tuyên truyền các ngày lễ lớn của đất nước và các ngày kỷ niệm của tỉnh, kịp thời đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của nhân dân.

         8. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến du lịch, tuyên truyền quảng bá rộng rãi các dự án du lịch; hưởng ứng năm du lịch quốc gia 2016 – Phú Quốc – Đồng bằng sông Cửu Long, tổ chức sự kiện du lịch Điểm hẹn sông Vàm lần thứ I năm 2016; triển khai phương án khai thác du lịch đối với Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân lập và các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.

         9. Duy trì và phát triển phong trào tập luyện thể dục thể thao quần chúng rộng khắp toàn tỉnh. Các đội tuyển thể thao hạng đội mạnh phấn đấu duy trì thành tích tốt tại các Giải Vô địch quốc gia. Tổ chức tốt các giải thể thao cấp tỉnh và hỗ trợ các ngành tổ chức thi đấu và hội thao.

        10. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục còn lại của các dự án Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh, Khu căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ, Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ...

119.jpg

Ông Hoàng Văn Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và ông Dương Quốc Xuân, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh,

nguyên Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ trao bằng và tặng hoa cho 04 nghệ nhân ưu tú tỉnh nhà

 

        Cũng tại Hội nghị, lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo Sở tổ chức vinh danh cho 04 nghệ nhân ưu tú và cho 03 nghệ sĩ ưu tú gồm:

        */ 04 nghệ nhân ưu tú gồm các ông,:

             1. Ông Võ Văn Bền (Tư Bền) Nghệ nhân loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian tỉnh Long An;

             2. Ông Đặng Quốc Vân (Tư Vân) Nghệ nhân loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian tỉnh Long An;

             3. Ông Nguyễn Văn Mến (Năm Mến) Nghệ nhân loại hình Tri thức dân gian tỉnh Long An;

             4. Bà Nguyễn Thị Thanh (Kim Thanh) Nghệ nhân loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian tỉnh Long An.

        */ 03 nghệ sĩ ưu tú gồm các ông bà:

            1. Ông Nguyễn Văn Thành (Phương Tùng), Diễn viên Đoàn nghệ thuật Cải Lương Long An.

            2. Bà Hồ Ngọc Trinh, Diễn viên Đoàn nghệ thuật Cải Lương Long An.

            3. Ông Nguyễn Linh Tâm (Nguyên Tâm), Diễn viên Đoàn nghệ thuật Cải Lương Long An.

            Theo đó, Hội nghị cũng công bố và tiến hành thủ tục tặng Cờ thi đua xuất sắc, Bằng khen, Giấy khen của Bộ VH, TT và DL và Sở VH, TT và DL Long An, cụ thể như sau:

            - Tặng Cờ thi đua xuất sắc cho nhân dân và cán bộ huyện Đức Hòa, đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao năm 2015.

            - Tặng Bằng khen cho 07 tập thể (Sở Giáo dục và Đào tạo, Nhân dân và cán bộ các huyện: Cần Giuộc, Cần Đước, Bến Lức, xã Nhị Thành - huyện Thủ Thừa, xã Thái Bình Trung – huyện Vĩnh Hưng, Phường 3, thành phố Tân An) và 03 cá nhân (ông Võ Văn Huyện, PCT. UBND huyện Tân Trụ, bà Võ Thị Thanh Giang,  PCT. UBND thị xã Kiến Tường, bà Trần Thị Huê, PCT. UBND huyện Tân Thạnh) có thành tích đóng góp phát triển sự nghiệp văn hóa, gia đình, thể thao tại địa phương.

            Ngoài ra, Giám đốc Sở VH, TT và DL Long An cũng tặng Giấy khen cho 11 tập thể đạt thành tích tốt trong hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao trong năm gồm: nhân dân và cán bộ các huyện Thủ thừa, Vĩnh Hưng, Tân Trụ, Tân Hưng, Tân Thạnh, Đức Huệ, Châu Thành, Thạnh Hóa, Mộc Hóa, thành phố Tân An và thị xã Kiến Tường.  

                                                                                                            Tin, ảnh: Phước Vẹn

05/02/2016 4:00 CHĐã ban hànhApproved
NHỮNG CỔ VẬT  QUÝ TẠI ĐỀN THỜ KIẾN XƯƠNG QUẬN CÔNG NGUYỄN HUỲNH ĐỨCNHỮNG CỔ VẬT  QUÝ TẠI ĐỀN THỜ KIẾN XƯƠNG QUẬN CÔNG NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

Lăng mộ và Đền thờ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức tọa lạc tại phường Khánh Hậu, thành phố Tân An được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật (năm 1993) và tại đây hiện đang lưu giữ nhiều cổ vật quý có niên đại hơn 200 năm.

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và được người đương thời gọi là "Hổ tướng". Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành Khai quốc công thần của triều Nguyễn. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Khâm sai Chưởng Hữu Bình Tây tướng quân, trấn giữ Diên Khánh (năm 1796); Tổng trấn Bắc thành (năm 1810); Khâm sai Chưởng tiền quân (năm 1812); Tổng trấn Gia Định thành (năm 1815)… Đến ngày 09 tháng 9 năm Kỹ Mão (1819) ông qua đời, hưởng thọ 72 tuổi. Hay tin ông mất, vua Gia Long mến tiếc vô cùng, ban cho vàng bạc, tơ lụa cử hành lễ tang trọng thể.

Ngày 16 tháng 10 năm 1819, vua Gia Long truy tặng ông: "Thôi trung Dực vận công thần, đắc tấn phục quốc, Thái phó Đức Quận công, Thượng tướng quân Thượng trụ quốc". Năm 1820, ông được vua Minh Mạng phong tặng: "Thái phó Đức Quận công, hàm ân trung nghị". Năm 1831, vua Minh Mạng sắc phong: " Kiến Xương Quận công".

Hai năm trước khi mất, tức năm 1817, ông đã cho xây trước mộ phần ở quê nhà. Lăng mộ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX.

Đặc biệt, bên trong đền thờ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức còn lưu giữ, trưng bày nhiều cổ vật quý với nhiều chất liệu (kim loại, gỗ, giấy) có giá trị về lịch sử - văn hóa - nghệ thuật, là nguồn tư liệu quý hiếm phục vụ công tác tham quan và nghiên cứu khoa học thời kỳ cận đại.

NHÓM CỔ VẬT CHẤT LIỆU GỖ

Trong số những cổ vật chất liệu gỗ đặc biệt phải kể đến bộ ván một.

Bộ ván dài 3,4m, rộng 1,8m, dày 0,14m, được làm từ một khối gỗ lớn từ gõ mật, có niên đại trên dưới 250 năm. Lúc sinh tiền, Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức thường nghỉ ngơi trên bộ ván này. Bộ ván này là vật chứng của gia tộc Nguyễn Huỳnh trong công cuộc khẩn hoang và định cư ở đất Ba Giồng và được gia đình bảo quản tốt từ ấy đến nay.

Theo lời kể của gia tộc Nguyễn Huỳnh, bộ ván một này là di vật của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, được ông sử dụng hồi còn ở quê nhà, lúc chưa đi theo phò Chúa Nguyễn. Từ đó suy ra, bộ ván này có niên đại muộn nhất cũng vào năm 1780.

Từ khi Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mất (mùng 9 tháng 9 năm 1819 ÂL) đến nay bộ ván được đặt một cách trân trọng tại chính điện đền thờ ngài. Tương truyền, đây là bộ ván linh thiêng, nếu ai có lòng tà dại, gian tham dám ngồi lên bộ ván thì thế nào cũng bị Quận công Nguyễn Huỳnh Đức quở phạt. Cụ Nguyễn Huỳnh Tân (1878-1954) là cháu đời thứ năm của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức có truyền lại cho con cháu một mẩu chuyện thú vị xung quanh bộ ván một như sau:

Vào khoảng năm 1880, khi Quận công Nguyễn Huỳnh Đức đã mất hơn 60 năm, tại khu vực giáp ranh hai tỉnh Long An và Tiền Giang bây giờ có cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do ông Ong và ông Khả lãnh đạo. Lúc bấy giờ, tên việt gian Trần Bá Lộc đang trấn nhậm vùng Cái Bè đã đem quân đến đàn áp cuộc khởi nghĩa theo lệnh của Tây. Một hôm hắn dẫn lính vào lùng sục, tra khảo nhân dân làng Tường Khánh. Khi đi ngang đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, Trần Bá Lộc rẽ vào và leo lên bộ ván ngồi một cách nghinh ngang. Giữa lúc con cháu Quận công Nguyễn Huỳnh Đức đang lạy chào "quan" thì Trần Bá Lộc đột nhiên té nhào từ trên bộ ván xuống. Lính hầu lật đật khiêng Trần Bá Lộc lên giường nằm. Một lúc sau Trần Bá Lộc tỉnh lại, nét mặt hốt hoảng kể lại rằng: "Ta đương ngồi trên bộ ván thình lình có một bọn năm sáu người tự xưng là bộ hạ của Quan Thượng Tiền quân vâng lệnh ngài đến bắt ta đem chém. Ta vùng vẩy, chống cự lại bọn lính hầu nên mới bị té xuống đất". Ngừng một chút, Trần Bá Lộc nói tiếp: " Mấy chục năm nay ta đánh Nam dẹp Bắc, giết người như chém cỏ, từng đốn tre kẹp con nít, bỏ người vào cối quết chẳng gớm tay. Hôm nay là lần đầu tiên ta phải kiêng sợ bộ ván linh của quan Thượng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức vậy."

Từ đó về sau, không một ai dám ngồi lên "Bộ ván linh" của Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.

Lang NguyenHuynhDuc.jpg

  • Bộ ván một đang được đặt tại tiền điện đền thờ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức

Mui võng

Mui võng là di vật của Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, đã có trên 200 năm tuổi. Mui võng này gồm có 2 phần là sườn gỗ và mái che. Sườn gỗ gồm 2 thanh gỗ dài 4m, hai đầu chạm rồng, được nối với nhau bằng 2 mảnh gỗ thếp vàng, chạm hoa văn mặt trời và mây. Mái che có hình bầu dục, đan bằng tre chẻ đều, thật mảnh, phía trên có phủ một lớp giấy và sơn dầu. Do được làm từ chất liệu mang tính bền vững không cao (tre đan) cùng sự khắc nghiệt của thời gian nên hiện nay phần mái che đã hư hỏng nặng. Dù vậy, với phần còn lại chúng ta dễ dàng nhận thấy kỹ thuật đan lúc bấy giờ đã đạt đến trình độ cao thể hiện ở sự  tinh xảo của sản phẩm.

Võng là một phương tiện di chuyển của quan lại thời phong kiến triều Nguyễn (1802-1945). Quan lại không được phép dùng kiệu mà chỉ dùng võng có mui che được khiêng bởi 4 người lính. Đòn ngang của võng được sơn son thếp vàng, khắc hình con giao long. Đòn dọc khắc hình con thú ứng với phẩm trật của vị quan ngồi trên võng. Mui che võng được sơn quang dầu để che mưa nắng. Quan nhất phẩm có 4 lính, vác 4 lọng theo hầu, quan nhị phẩm có 2 lính vác lọng, còn quan từ tam phẩm đến tứ phẩm chí có 1 người vác lọng.

 Mui võng  này là một phần của chiếc võng, cho đến đầu thế kỷ XX, chiếc võng này vẫn còn nguyên vẹn. Đến năm Giáp Thìn (1904), một cơn bão lớn đã làm sập nhà thờ, làm hỏng chiếc võng, chỉ còn lại phần mui như hiện nay.

Lang NguyenHuynhDuc2.jpg

Mui võng (một bộ phận chiếc võng) – di vật của Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức

Ngai thờ

Thêm một cổ vật tại Đền thờ được làm từ chất liệu gỗ là ngai thờ. Hiện vật này  cao 1m, dài 0,7m, rộng 0,4m, là phẩm vật của Phật vương nước Xiêm tặng cho Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Sinh thời, Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức đã 3 lần sang Xiêm. Lần thứ nhất vào năm Canh Tuất (1790) ông sang Vọng Các tìm Nguyễn Vương; lần thứ hai vào năm Kỷ Mùi (1799), ông đem quân sang giúp vua Xiêm đánh Miến Điện xâm lược; và lần thứ ba vào năm Tân Dậu (1801), ông sang Xiêm mang quốc thư và lễ vật ngoại giao của Nguyễn Vương.

Phật vương nước Xiêm rất kính phục Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Ngai thờ này có thể được vua Xiêm tặng cho Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức ở một trong ba thời điểm nêu trên. Vì thế niên đại của chiếc ngai thờ này muộn nhất cũng đã trên 200 năm. Chiếc ngai thờ này là cổ vật có ý nghĩa lịch sử, văn hóa ghi dấu mối quan hệ bang giao Việt - Xiêm giai đoạn cuối thê kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Hoành phi "Vạn lý danh"

Hoành phi làm bằng gỗ, sơn son, thếp vàng, dài 1m, rộng 60cm. Viền quanh hoành phi là hoa văn chạm nổi họa tiết dây lá và lưỡng long chầu nguyệt. Giữa hoành phi có 3 chữ Hán đại tự thếp vàng Vạn lý danh, bên phải hoành phi có dòng lạc khoản: Giáp Dần niên, trọng xuân (Tháng hai năm Giáp Dần - 1854). Nội dung hoành phi ca tụng tiếng tăm của Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức bay xa vạn dặm, lấy ý từ câu "Vạn lý chi danh" trong bài Thọ phần minh do vua Gia Long ngự ban ở mộ phần Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức.

Lang NguyenHuynhDuc3.jpg

Hoành phi Vạn lý danh

Những cổ vật trên gắn liền với cuộc sống sinh hoạt đời thường của Quận công, từ khi còn trai trẻ đến lúc gia nhập đội quân Đông Sơn, trở thành Khai quốc công thần triều Nguyễn và cả khi ông mất đi. Chúng không chỉ có giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật mà còn chứa đựng yếu tố tâm linh, thể hiện sự tôn kính của người dân địa phương  đối với vị quan luôn lấy chữ trung làm đầu như câu "trung thần bất sự nhị quân"- tôi trung không thờ hai chúa.

Bên cạnh những cổ vật gỗ thì cổ vật chất loại kim loại là một điểm nhấn thú vị tại Lăng mộ và đền thờ Kiến xương Quận công  Nguyễn Huỳnh Đức.

CỔ VẬT CHẤT LIỆU KIM LOẠI

Khánh

Chiếc khánh có chất liệu bằng đồng thau, nặng  40 kg, được đúc vào năm 1819 – cùng năm Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mất. Trên khánh có hoa văn mặt trời, mây và chùm sao Bắc Đẩu. Bên phải khánh có dòng chữ Hán: "Kỹ Mão niên, thất nguyệt, cát nhật, lương thần chú tạo" (đúc vào ngày, giờ tốt, tháng bảy, năm Kỷ Mão). Cổ vật này được đánh cùng với đại cổ (trống lớn) mỗi khi cử hành đại lễ húy kỵ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức.

Ấn đồng

Năm Tự Đức thứ 4 (1851), vào ngày mùng 4 tháng 8, vua Tự Đức sắc phong cho Nguyễn Huỳnh Kim, cháu nội Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức chức Cai đội, trật Chánh ngũ phẩm, tước Kiến Xương tử, giữ việc thờ cúng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Ấn đồng này được vua ban cho Nguyễn Huỳnh Kim cùng với sắc phong. Ấn cao 9cm, chuôi hình trụ tròn, mặt ấn hình vuông 4 x 4cm, có khắc 5 chữ triện: "Kiến Xương tử giám thủ". Phía trên ấn có 2 dòng chữ: Tự Đức tứ niên, kiết nguyệt nhật tạo (Đúc vào ngày, tháng tốt năm Tự Đức thứ 4-1851) và Trọng nhất cân, tam lượng (nặng 1 cân, 3 lượng-khoảng 700gr).

Lang NguyenHuynhDuc4.jpg 

Lang NguyenHuynhDuc5.jpg

Ấn đồng được đúc năm 1851

Hai cổ vật này được gia tộc Nguyễn Huỳnh bảo quản tốt nên vẫn còn nguyên vẹn, các họa tiết hoa văn,  đường nét sắc xảo, thể hiện kỹ thuật đúc đồng đã ở trình độ cao.

CỔ VẬT CHẤT LIỆU GIẤY

            Có thể nói trong số các cổ vật quý tại đền thờ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức thì cổ vật chất liệu giấy chiếm số lượng lớn. Đó là các sắc phong, chiếu, chế, chỉ và cả tranh vẽ - nguồn tư liệu hết sức quý báo cho công tác nghiên cứu khoa học.

Tranh chân dung Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức

Bức tranh cao 1,7m, rộng 0,7m vẽ  bằng mực tàu trên giấy dó theo cách vẽ truyền thần. Trong bức tranh, Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mặc phẩm phục võ tướng, mang gươm, trong tư thế ngồi. Căn cứ dòng chữ  "Gia Long hoàng đế, nguyên phụng trấn Quy Nhơn thành, Nguyễn Huỳnh Đức, Quận công ngũ thập ngũ chơn tượng", ta biết được bức tranh này được vẽ năm 1802, lúc Quận công Nguyễn Huỳnh Đức 55 tuổi, đang làm Trấn thủ thành Quy Nhơn.

Qua bức tranh, hậu thế có thể  chiêm ngưỡng được dung mạo và phong độ của vị hổ tướng đất Ba Giồng lừng lẫy một thời. Bức tranh cũng cung cấp thêm những tư liệu quý về phẩm phục của một võ quan nhất phẩm đầu đời Nguyễn. Dẫu đã trải qua hơn 200 năm nhưng bức tranh trên vẫn còn nguyên vẹn, màu mực có thể không còn đậm nguyên như lúc ban đầu nhưng đây là là một tài liệu quý giúp chúng ta có thể tham khảo về nghệ thuật vẽ tranh truyền thần đầu thế kỷ XIX .

Lang NguyenHuynhDuc6.jpg

Tranh chân dung Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức

Chỉ sai Nguyễn Huỳnh Đức đem quân giúp nước Xiêm chống lại sự xâm lăng của Miến Điện của vua Gia Long ngày mùng hai tháng hai năm Cảnh Hưng thứ 59 (1799).

Chỉ, chất liệu giấy, đã hư hỏng phần lớn, đề ngày 20 tháng 12 năm Cảnh Hưng thứ 62 (1801). Theo gia tộc Nguyễn Huỳnh, đây là chỉ sai Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mang phẩm vật ngoại giao sang Xiêm để tranh thủ sự ủng hộ của nước này trong cuộc quyết chiến cuối cùng với Tây Sơn.

Sắc phong quan tước cho Nguyễn Huỳnh Đức ngày mùng một, tháng năm, năm Gia Long Nguyên niên (1802). Sắc bằng giấy dó màu bạc, in rồng chìm, dài 1,35m, rộng 0,50m.

Lang NguyenHuynhDuc8.jpg

Sắc phong năm 1802

Sắc vua Gia Long truy phong cho ông Huỳnh Công Châu, tổ phụ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức ngày mùng một, tháng chín, năm Gia Long thứ ba (1804 ). Sắc bằng lụa vàng, thêu rồng, dài 0,75m, rộng 0,40m.

Lang NguyenHuynhDuc9.jpg

Sắc phong năm 1804 đã bị hư hại nhiều

Chế vua Minh Mạng truy tặng chức hàm cho Nguyễn Huỳnh Đức ngày 11 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 12 (1831) được làm bằng tơ vàng, thêu rồng, dài 1,5m, rộng 0,5m.

 Sắc vua Minh Mạng ban cấp tự điền cho Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức ngày 15 tháng 11 năm Minh Mạng thứ 5 (1824). Sắc bằng giấy vàng, in rồng chìm, dài 1,5m, rộng 0,5m.

Chiếu vua Minh Mạng phong chức tước cho Nguyễn Huỳnh Thành (thứ nam Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức) ngày 22 tháng 8 năm Minh Mạng thứ 10 (1829).

Chiếu vua Minh Mạng gia phong quan tước cho Vệ úy Thành Tín hầu Nguyễn Huỳnh Thành nhân lễ Tứ tuần đại khánh ngày 4 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 11 ( 1830).

Chế của vua Tự Đức tập phong cho Nguyễn Huỳnh Kim (cháu nội Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức) ngày 2 tháng 8 năm Tự Đức thứ 3 (1851). Chế bằng lụa trắng thêu rồng vàng, dài 1,3m, rộng 0,3m.

Với sự đa dạng về chất liệu, phong phú về số lượng và có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật… những cổ vật tại Lăng mộ và đền thờ Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức là tài sản quý báu của dân tộc nói chung của nhân dân Long An nói riêng. Bởi thế những cổ vật trên xứng đáng được quan tâm, đầu tư hơn nữa trong công tác bảo quản chống xuống cấp nhất là khi có những cổ vật tuổi đời đã trên 200 năm. Không cổ vật nào có thể trường tồn với thời gian nhưng nếu chúng ta gìn giữ, chăm sóc và bảo quản tốt vốn quý của ông cha để lại chính là góp phần quan trọng vào việc giữ gìn lịch sử, vốn liếng văn hóa của dân tộc cũng là làm tròn trách nhiệm với thế hệ con cháu mai sau./.

Bài: HỒ PHAN MỘNG TUYỀN

Ảnh: Văn Ngọc Bích

16/08/2016 11:00 SAĐã ban hànhApproved
Chương trình giáo dục “Ai nhớ nhiều nhất” về với thị xã Kiến Tường Chương trình giáo dục “Ai nhớ nhiều nhất” về với thị xã Kiến Tường

Thực hiện công văn số 1695/SVHTT-KHTC ngày 05/4/2018 của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh về việc liên kết phát triển lĩnh vực văn hóa, thể thao với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An; Ngày 11/10/2018, Bảo tàng - Thư viện tỉnh Long An, Bảo tàng Tôn Đức Thắng (Thành phố Hồ Chí Minh), Đoàn cơ sở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An phối hợp với Phòng Văn hóa và Thông tin thị xã Kiến Tường và Trường Trung học cơ sở Võ Duy Dương tổ chức chương trình giáo dục "Ai nhớ nhiều nhất" tại trường Trung học cơ sở Võ Duy Dương (thị xã Kiến Tường).

12-10-2018 Học sinh xem phim tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Tôn.png

Học sinh xem phim tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng

12-10-2018 Các bạn học sinh háo hức ghi đáp án và giơ bảng trả lời câu hỏi.png

Các em học sinh háo hức ghi đáp án và giơ bảng trả lời câu hỏi

12-10-2018 Hăng hái tham gia trò chơi giải cứu những thí sinh đã bị loại.png

Hăng hái tham gia trò chơi giải cứu những thí sinh đã bị loại

"Ai nhớ nhiều nhất" là chương trình giáo dục thực tế, mà đối tượng chính là các em học sinh. Mỗi chương trình sẽ có 100 em học sinh tham gia, theo thể thức thi đấu loại trực tiếp. Sau khi xem phim tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, các em sẽ được phát bảng và phấn để lần lượt trả lời 20 câu hỏi của Ban tổ chức đặt ra, mỗi câu hỏi sẽ có 15 giây suy nghĩ và ghi đáp án vào bảng, học sinh nào có câu trả lời sai sẽ bị loại. Nội dung câu hỏi xoay quanh thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, cũng như những hiểu biết về lịch sử địa phương. Sau thời gian thi đấu năng nổ, đầy quyết tâm, Ban Tổ chức đã tìm ra người "nhớ nhiều nhất", chính là người đã xuất sắc trả lời đúng 20 câu hỏi của chương trình.

12-10-2018 Gương mặt xuất sắc nhất của trường Trung học cơ sở Võ Duy.png

Gương mặt xuất sắc nhất của Trường Trung học cơ sở Võ Duy Dương

Có thể thấy chương trình giáo dục "Ai nhớ nhiều nhất" đã giúp các em học sinh củng cố được những kiến thức lịch sử quen thuộc, cũng như bổ sung nhiều kiến thức mới về lịch sử quê hương. Chương trình được tổ chức theo mô hình vừa chơi, vừa học giúp các em tiếp thu dễ dàng hơn, nhớ lâu hơn, mang lại hiệu quả tuyên truyền cao.

Tính từ năm 2016 đến nay, Bảo tàng – Thư viện tỉnh đã phối hợp tổ chức được 3 chương trình giáo dục "Ai nhớ nhiều nhất" cho các em học sinh tại các Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn (thành phố Tân An), Trường Thể dục thể thao Long An và Trung học cơ sở Võ Duy Dương (thị xã Kiến Tường). Trong thời gian tới, chương trình sẽ tiếp tục được duy trì và phát triển nhằm giáo dục sâu rộng trong thế hệ trẻ, giúp các em học sinh có những hiểu biết cần thiết về lịch sử quê hương cũng như khơi dậy tinh thần yêu nước và đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc./.                              

Phan Thị Kim An

18/10/2018 10:00 SAĐã ban hànhApproved
ĐẢNG ỦY, UBND XÃ PHƯỚC VÂN HỌP MẶT MỪNG XUÂN VÀ TRAO CÁC DANH HIỆU XÃ VĂN HÓA ĐẢNG ỦY, UBND XÃ PHƯỚC VÂN HỌP MẶT MỪNG XUÂN VÀ TRAO CÁC DANH HIỆU XÃ VĂN HÓA

Ngày 24/01/2019, Đảng ủy, UBND xã Phước Vân, huyện Cần Đước tổ chức họp mặt mừng xuân Kỷ Hợi 2019 và trao bằng khen, giấy khen cho các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp cho xã Phước Vân giữ vững danh hiệu xã văn hóa giai đoạn 2018-2022. Đến dự họp mặt có ông Lê Phước Sử, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Cần Đước; ông Trương Hữu Định, Trưởng phòng Nội vụ huyện Cần Đước; ông Võ Thành Ngon, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cần Đước.

28-01-2019 Trao quyết định, bằng công nhận và tiền thưởng.jpg

Sau 5 năm phấn đấu với quyết tâm cao của hệ thống chính trị và sự đồng thuận hưởng ứng của nhân dân, xã Phước Vân tiếp tục nâng chất các tiêu chí đạt được. Thông qua phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đời sống người dân được nâng lên, tỷ lệ hộ khá, giàu tăng, hộ nghèo giảm còn 1,34%; toàn xã có 2.558 hộ đạt gia đình văn hóa (đạt 98,3%), 5/5 ấp đạt chuẩn ấp văn hóa, 5/5 ấp được công nhận cộng đồng học tập. Bên cạnh duy trì mô hình xã không có người sinh con thứ 3 trở lên, người dân còn tham gia hiến đất, đóng góp trên 3 tỷ đồng mở rộng đường giao thông nông thôn, hạ thế điện… tạo vẻ mỹ quan đường làng, ngõ xóm sáng, xanh, sạch, an toàn.

Trong không khí vui tươi, phấn khởi đón chào năm mới Kỷ Hợi 2019, Ban tổ chức đã trao quyết định, bằng công nhận xã văn hóa và tiền thưởng của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Phước Vân; trao bằng khen của UBND tỉnh cho 5 tập thể và 5 cá nhân; trao giấy khen của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND huyện Cần Đước, UBND xã Phước Vân cho các tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp để xã Phước Vân giữ vững danh hiệu xã văn hóa./.

Minh Điển

(Trung tâm VH, TT và TT Cần Đước)

30/01/2019 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Thư viện huyện Bến Lức tăng cường phục vụ thiếu nhi trong dịp hè Thư viện huyện Bến Lức tăng cường phục vụ thiếu nhi trong dịp hè

Nhằm tạo điều kiện và phục vụ nhu cầu đọc sách của các em thiếu nhi trong dịp hè, Thư viện huyện Bến Lức tiếp tục đầu tư bổ sung thêm các đầu sách cho các em thiếu nhi, giúp các em được tiếp cận nhiều cuốn sách hay, từng bước hình thành thói quen đọc sách, nâng tầm hiểu biết và có những ngày hè vui tươi, bổ ích.

24-5-2018 sach mo ra the gioi moi ve tri thuc.jpg

 Sách mở ra thế giới mới về tri thức

Cùng với đầu tư kinh phí trang bị thêm các đầu sách phù hợp với lứa tuổi, Thư viện huyện cũng quan tâm đầu tư cơ sở vật chất phòng đọc, trang bị thêm bàn ghế, quạt máy, mở rộng thêm phòng đọc, hạ thấp các giá sách để các em khối tiểu học có thể chọn được loại sách mình cần. Hiện nay, Thư viện huyện có đến 1.144 đầu sách với đầy đủ các thể loại, từ sách bổ trợ, sách tham khảo phục vụ học tập đến các truyện tranh, văn học dân gian, khoa học viễn tưởng, báo, tạp chí với nhiều chủ đề, thể loại khác nhau. Trong đó, chiếm 80-90% là sách của Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Kim Đồng… với nhiều thể loại thơ, truyện ngắn, truyện tranh, truyện cổ tích, thần thoại, truyện kể về những nhân vật lịch sử, các nhà bác học tài năng trong và ngoài nước.

Thư viện cũng đổi mới các thủ tục cấp, đổi thẻ, đảm bảo tiện lợi, nhanh chóng, đơn giản, trên tinh thần tạo mọi điều kiện cho độc giả. Đồng thời, đổi mới phương thức phục vụ theo hình thức để các em được tự chọn; có hướng dẫn, tư vấn để tùy theo nhu cầu, sở thích, các em có thể tự chọn được những cuốn sách mà mình yêu thích./.

Việt Hằng

28/05/2018 10:00 SAĐã ban hànhApproved
HỘI THI “RUNG CHUÔNG VÀNG KIẾN THỨC LỊCH SỬ” NĂM 2019 HỘI THI “RUNG CHUÔNG VÀNG KIẾN THỨC LỊCH SỬ” NĂM 2019

Ngày 22/8/2019, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Bến Lức phối hợp với Huyện đoàn, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi "Rung chuông vàng kiến thức lịch sử" năm 2019 cho 100 thí sinh đến từ các trường trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện.

ngay 23-8-2019 ben luc Hoi thi Rung chuong vang tim hieu kien thuc lich su nam 2019 -1.JPG

Tham gia hội thi, các thí sinh trải qua 2 lượt thi, mỗi lượt trả lời 10 câu hỏi, thời gian mỗi câu trả lời là 20 giây với các nội dung: Lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; lịch sử quê hương Bến Lức, các anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng dân tộc, địa danh, khu di tích lịch sử trên địa bàn huyện; các tấm gương anh hùng trong độ tuổi thiêu niên, nhi đồng và cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh,… Với hình thức thi độc lập, loại trực tiếp, các thí sinh tham gia trả lời câu hỏi vào bảng cá nhân với mức độ khó tăng dần. Ngoài ra, các em còn được tham gia phần thi cứu trợ thí sinh, khán giả được thử tài qua phần câu hỏi giao lưu.

Kết thúc hội thi, Ban Tổ chức trao 9 giải thưởng cho các cá nhân xuất sắc nhất đến từ các Trường THCS Nguyễn Trung Trực, Trường THCS-THPT Lương Hòa, Trường THCS Lương Bình và Trường THCS Gò Đen.

ngay 22-8-2019 ben luc Hoi thi Rung chuong vang tim hieu kien thuc lich su nam 2019 - 3.JPG

Hội thi nhằm phát hiện và bồi dưỡng, động viên kịp thời những học sinh có năng khiếu và đạt thành tích cao trong học tập; tạo điều kiện để các em thể hiện khả năng vận dụng, tư duy sáng tạo về những vấn đề, kiến thức trong chương trình và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Qua đó, tạo sân chơi trí tuệ, giải trí cho học sinh, đồng thời tạo điều kiện để học sinh được giao lưu, học tập, nâng cao kiến thức, hiểu biết cho bản thân, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện./.

Việt Hằng  - Thanh Tâm

26/08/2019 11:00 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về việc xếp hạng cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế. Di tích hiện tọa lạc tại phường 1, thành phố Tân An, là một công trình kiến trúc cổ đặc thù kiểu Tứ trụ của đình, miếu Nam Bộ có niên đại hơn 103 năm. Đồng thời, trong miếu còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như hệ thống hoành phi, liễn đối, bao lam…được chạm trổ hết sức tinh xảo, công phu vừa có giá trị về mặt nghệ thuật, vừa có giá trị về mặt lịch sử.

18-11-2019 Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế

Di tích lịch sử miếu Quan Thánh Đế còn là chứng tích của quá trình khai phá vùng đất Vũng Gù (Tân An ngày nay) của cộng  đồng cư dân Việt - Hoa. Bởi, sau khi Cù Lao Phố và Mỹ Tho Đại Phố tan rã, một số nhóm người Hoa đã di cư đến sống ở vùng Tân An. Vì đa số người Hoa di cư thường làm nghề kinh doanh buôn bán nên khi đến Tân An họ thường tụ cư ở những trung tâm thương mại, khu vực chợ búa, và cùng với người Việt chiếm đa số chung sức đồng lòng lập phố xá, chợ sầm uất mà nổi tiếng là chợ Hưng Lợi (nay là chợ Phường 1). Bên cạnh đó, khi di - định cư đến Tân An, họ đã xây dựng miếu để làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và đã thu hút đông đảo người Việt đến lễ bái như chính cơ sở tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình trong suốt quá trình cộng cư và giao lưu văn hoá.

Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Thánh Đế Quân tức Đại tướng quân Quan Vũ, một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc được kính ngưỡng về lòng trung nghĩa và chí khí anh hùng. Khi đến định cư ở vùng đất Tân An nói riêng, ở Long An nói chung, người Hoa đã mang nhiều hành trang văn hóa từ những thiết chế xã hội, phong tục tập quán đến các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thánh truyền thống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Ông Bổn… từ quê cha đất tổ đến vùng đất mới lập nghiệp, góp phần cùng các dân tộc anh em khác xây dựng và phát triển nơi đây ngày một trù phú. Một trong những hành trang quý giá ấy chính là tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân mang nhiều nét nổi bật, tiêu biểu cho văn hóa tinh thần người Hoa cũng như  sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa. Khi cộng cư lâu dài với người Việt trên vùng đất mới, tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân của người Hoa dần được người Việt tiếp nhận, thờ tự trang nghiêm thể hiện sự kính ngưỡng đối với phẩm cách chính trực trung nghĩa, cương cường, dũng cảm của Ông, đồng thời tin tưởng Ông sẽ phù hộ cho sự bình an của mọi người, thậm chí thờ Ông như là thần bảo mạng của nam giới trong gia đình. Quan Thánh Đế Quân không chỉ là thần linh được thờ phụng trong gia đình, mà còn là thần linh đặc trưng trong các cơ sở tôn giáo người Việt, được biến thể hóa từ các tôn giáo lớn như: Nho Giáo tôn xưng Ông là Văn Hoành Thánh Đế;  Đạo Giáo tôn xưng Ông là Hiệp Thiên Đại Đế; còn Phật Giáo tôn xưng Ông là Hộ Pháp Già Lam. Đây là một dạng thức tín ngưỡng thể hiện sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng cư dân Việt - Hoa trong quá trình tụ cư, chung sống với nhau như anh em một nhà suốt bao thế kỷ qua và là một nét đẹp trong ứng xử văn hóa, đã làm cho sắc thái văn hóa của vùng đất Long An nói riêng thêm đa dạng và phong phú.

18-11-2019 Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải), Châu Xương (bên trái).jpg

Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải),
Châu Xương (bên trái)

Tìm hiểu về niên đại xây dựng miếu, theo thông tin từ các dòng lạc khoản ghi trên câu đối, hoành phi (Quang Tự nhị thập ngũ niên tuế thứ Kỷ Hợi trọng hạ kiết lập) cho biết kiến trúc hiện trạng và hệ thống tượng thờ, bài vị, các chi tiết trang trí, trống, chuông đồng… có niên đại Quang Tự, năm Kỷ Hợi (1899). Ngoài ra, trên bao lam khám thờ bên phải có khắc năm 1916, đánh dấu cho lần trùng tu miếu.

18-11-2019 Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ.jpg

Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ

Ngôi miếu tọa lạc trên mảnh đất có diện tích 330.8 m2 có bố cục hình chữ tam gồm hậu điện, chính điện và tiền điện với đặc điểm nổi bật là xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ mang nét đặc trưng của đình làng vùng đất Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, điều này cho thấy kiến trúc miếu đã có yếu tố Việt ngay từ những buổi đầu xây dựng.

18-11-2019 Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ.jpg

Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ

Đặc biệt, trong miếu còn thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Hoa qua cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) vốn là hiện vật phổ biến trong các ngôi đình của người Việt, thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu của nền văn hóa Việt, được đặt chung trong khám thờ Quan Thánh Đế Quân.

18-11-2019 Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong bàn thờ Quan Thánh Đế Quân.jpg

Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong
bàn thờ Quan Thánh Đế Quân

Hàng năm, Miếu Quan Thánh Đế diễn ra lễ vía Ông vào các ngày 13 tháng Giêng (Vía chánh), 13 tháng 5 và 24 tháng 6, là nơi đến của đông đảo đồng bào Việt - Hoa ở thành phố Tân An, các hội Miếu Quan Thánh lân cận, thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân địa phương. Tuy ban đầu miếu do người Hoa thành lập nhưng trong quá trình giao thoa văn hóa đã thu hút cộng đồng người Việt đến thắp hương... thể hiện sự giao lưu giữa đời sống tâm linh và cuộc sống hàng ngày của hai tộc người. Trong tâm thức người dân, đây là tiêu biểu cho những giá trị tinh thần tốt đẹp cũng như thể hiện tính bao dung, cởi mở trong tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Việt. Mặt khác, không chỉ là những khách hành hương, người Việt còn nằm trong Ban Quản trị, là ông từ trực tiếp trông coi, sớm chiều hương khói, chung tay góp sức với người Hoa cùng nhau thờ tự, giữ gìn miếu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt - Hoa trên mảnh đất Long An.

Ngày nay, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa lẫn nhau giữa người Việt và người Hoa ngày càng trở nên mạnh mẽ, các yếu tố văn hóa Việt,  văn hóa Hoa tồn tại đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Ví như trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người Việt không phân biệt rạch ròi giữa miếu, miễu và chùa thường gọi lẫn lộn. Trong khi đó, miếu, miễu là nơi thờ Thần, còn chùa là nơi thờ Phật, nhưng đối với Miếu Quan Thánh Đế của người Hoa, người Việt thường gọi là Chùa Ông... Qua đó cho thấy, sự giao lưu văn và tiếp biến hóa giữa người Việt - Hoa được diễn ra một cách hòa hợp vì giữa hai nền văn hóa có nhiều yếu tố tương đồng, giống nhau. Tuy là miếu Hoa nhưng vẫn thấy được văn hóa Việt, đó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Long An nói riêng. Bởi văn hóa là hòa bình, không bao giờ phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay thể chế chính trị - kinh tế - xã hội.

Do đó, việc xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với Miếu Quan Thánh Đế là cần thiết, nhằm bảo tồn và giữ gìn được di sản văn hóa của tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung, góp vào nguồn lực phát triển văn hóa vùng đất Nam Bộ trong hiện tại cũng như trong tương lai./.

Hồng Nhung

25/11/2019 7:00 CHĐã ban hànhApproved
MỘC HÓA TỔ CHỨC HỘI THI GIỌNG CA TÀI TỬ CẢI LƯƠNG LẦN THỨ I NĂM 2019  MỘC HÓA TỔ CHỨC HỘI THI GIỌNG CA TÀI TỬ CẢI LƯƠNG LẦN THỨ I NĂM 2019 

 Vừa qua, huyện Mộc Hóa đã tổ chức Hội thi giọng ca tài tử cải lương lần thứ I năm 2019. Hội thi diễn ra trong 03 ngày (7, 8 và 9/5/2019), với sự tham gia của 34 thí sinh đến từ 07 xã và các cơ quan trên địa bàn huyện.

10-5-2019 Hội thi don ca tai tu.jpg

Với thể loại đơn ca cổ kết hợp các bài bản vắn trong 20 bài bản tổ của đờn ca tài tử, nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa… Các thí sinh hát 02 câu vọng cổ tự chọn trong vòng bán kết, Ban tổ chức tuyển chọn 11 thí sinh vào vòng chung kết xếp hạng. Ở vòng chung kết xếp hạng, các thí sinh hát 01 lớp bản vắn trong các thể loại 20 bài bản tổ và 01 bài vọng cổ tự chọn theo chủ đề của Ban tổ chức quy định.

Bằng chất giọng mượt mà, ngọt ngào, thí sinh Lê Thanh Liệu, đơn vị xã Bình Hoà Đông đã đạt giải nhất hội thi. Ngoài ra, Ban tổ chức còn trao 02 giải nhì, 03 giải ba và 05 giải khuyến khích cho các thí sinh.

Hội thi giọng ca tài tử cải lương huyện Mộc Hóa lần thứ I năm 2019 đã khơi dậy phong trào đờn ca tài tử, cải lương, góp phần phát hiện các nhân tố mới, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ tại cơ sở, phục vụ tốt hơn công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của huyện Mộc Hoá./.                              

Khang Nam

20/05/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Huỳnh Văn Gấm, người đại biểu Quốc hội tài hoaHuỳnh Văn Gấm, người đại biểu Quốc hội tài hoa

        Cách đây 65 năm, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được tiến hành trong cả nước vào ngày 6/1/1946. Tỉnh Tân An có 2 đại biểu trúng cử. Tỉnh Chợ Lớn có 5 đại biểu trúng cử. Do nhiều lý do lúc bấy giờ, chỉ có 3 đại biểu là Huỳnh Văn Gấm, Tống Đức Viễn (Tân An) và bác sĩ Nguyễn Văn Cương (Chợ Lớn) ra Trung ương nhận chức. Nếu như Tống Đức Viễn là một nhân sĩ có tài hùng biện thì Huỳnh Văn Gấm là một họa sĩ tài hoa, có nhiều đóng góp cho mỹ thuật kháng chiến. Ông tiếp tục là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa II (1960-1964) và khóa III (1964-1971).

 

        Hoạ sĩ Huỳnh Văn Gấm sinh ngày 10/3/1922 trong một gia đình trung lưu tại xã Bình Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tân An (nay thuộc thành phố Tân An, tỉnh Long An), là sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa VI (1941-1945), cùng khóa với các họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Tạ Thúc Bình...

        Tháng 5-1945, ông tham gia hoạt động Thanh niên Tiền phong và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 6-1945. Cách mạng tháng 8/1945, ông tham gia cướp chính quyền, phụ trách Ban Quân sự Tỉnh ủy rồi sau đó giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Mặt trận Việt Minh, Trưởng Ban Tuyên truyền tỉnh Tân An. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I tháng 1/1946. Sau chuyến ra Hà Nội dự khóa họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông trở lại quê nhà cùng nhân dân chiến đấu chống giặc. Ông lần lượt giữ các cương vị và trọng trách như Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh (1947), Giám đốc xưởng in tín phiếu cho chiến trường Nam Bộ (1949). Mặc dù bận rộn với công tác lãnh đạo, ông vẫn tranh thủ cùng các họa sĩ vẽ phác thảo mẫu giấy bạc, sáng tác, tiêu biểu là bức tranh sơn dầu Cánh tay chỉ đạo và bộ “tứ bình” Xuân Hạ Thu Đông được cả Nam Bộ ưa thích. Sau Hiệp định Giơ- ne -vơ, Huỳnh Văn Gấm tập kết ra Bắc, giữ nhiều nhiệm vụ khác nhau như tham gia vẽ giấy bạc cho Ngân hà ng Việt Nam, trong Ban lãnh đạo Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Mỹ thuật... Trên cương vị nào, ông cũng mang hết nhiệt tình ra làm việc, đào tạo cán bộ, xây dựng phong trào. Sau ngày miền Nam giải phóng, ông trở về Nam, làm đại diện cho Hội Mỹ thuật Trung ương tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 10/2/1987, để lại niềm thương tiếc trong đồng chí, bạn bè và đồng nghiệp.

 

Họa sĩ Huỳnh Văn Gấm và phu nhân trong thời gian tập kết ra miền Bắc


            Về mặt sáng tác hội họa, bằng sự nhạy cảm về chính trị và năng lực tìm tòi sáng tạo, với nhiều thể loại, nhiều chất liệu, ông đã sáng tác và để lại nhiều tác phẩm giá trị như Chống bắt lính ở miền Nam, Nam kỳ khởi nghĩa 1940, Đọc sách, Trái tim và nòng súng, Họp Công hội đỏ, Bác Hồ thời thơ ấu, Ngô Gia Tự, Võ Thị Sáu, Cô Liên, Ngày Chủ nhật... Trong số ấy, nhiều tác tác phẩm đoạt giải thưởng cao trong và ngoài nước, được chọn trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội.

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Huỳnh Văn Gấm đã thể hiện một cách nhất quán và kiên định quan điểm “nghệ thuật phục vụ đại chúng, phục vụ cách mạng”. Cống hiến của ông đã góp phần có ý nghĩa vào di sản nghệ thuật của dân tộc mà như đánh giá của Hội Liên hiệp nghệ thuật Việt Nam trong bức điện chia buồn khi ông mất là: “người nghệ sĩ tài năng để lại nhiều tác phẩm xuất sắc trong kho tàng  nghệ thuật dân tộc”. Huỳnh Văn Gấm là một trong 18 nghệ sĩ tạo hình Việt Nam được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

        Ý thức được vai trò lịch sử cũng như đóng góp của Họa sĩ Huỳnh Văn Gấm, trong những năm qua, ngành Văn hóa-Thông tin (nay là VH,TT và DL) tỉnh nhà đã cho tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, sưu tầm tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của họa sĩ Huỳnh Văn Gấm để trưng bày phục vụ cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng ở địa phương. Kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhân dịp cuộc triển lãm Mỹ thuật khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 12 được tổ chức tại tỉnh Long An, tháng 12/2007, Ban Thường vụ Hội Mỹ thuật Việt Nam quyết định tặng tượng chân dung họa sĩ  Huỳnh Văn Gấm có chất liệu bằng đồng cho quê hương của họa sĩ, tỉnh Long An. Bức tượng ấy cùng với những tư liệu, hình ảnh của họa sĩ Huỳnh Văn Gấm hiện đang được đặt tại một vị trí trang trọng trong phòng trưng bày Bảo tàng Long An.

        Cùng với việc tên ông đã được đặt cho một con đường ở thị xã Tân An (nay là thành phố Tân An), những hoạt động trên thực sự là sự tôn vinh xứng đáng với những gì người đại biểu Quốc hội tài hoa này đã cống hiến cho nền mỹ thuật cách mạng nói riêng, sự nghiệp cách mạng nói chung./.

                                                                                Bài và ảnh Nguyễn Tấn Quốc

 

31/10/2011 2:28 SAĐã ban hànhApproved
Di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Trăm CộtDi tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Trăm Cột
Là một trong những nơi được khai phá sớm ở Nam Bộ, Long An có nhiều di sản văn hóa là công trình kiến trúc cổ, phản ánh quá trình khai phá, định cư và phát triển của cộng đồng người Việt trong tiến trình lịch sử ở địa phương. Các công trình kiến trúc cổ ở Long An đa phần là nhà ở dân dụng.Cuộc điều tra nhà cổ tháng 10 -2006, toàn tỉnh có 69 ngôi nhà với qui mô, giá trị và mức độ nguyên vẹn khác nhau. Xin giới thiệu một ngôi nhà tiêu biểu trong số ấy đã được Bộ Văn hóa -Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa  năm 1997 : di tích Nhà Trăm Cột, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước.

        Là một trong những nơi được khai phá sớm ở Nam Bộ, Long An có nhiều di sản văn hóa là công trình kiến trúc cổ, phản ánh quá trình khai phá, định cư và phát triển của cộng đồng người Việt trong tiến trình lịch sử ở địa phương. Các công trình kiến trúc cổ ở Long An đa phần là nhà ở dân dụng.Cuộc điều tra nhà cổ tháng 10/2006 (1), toàn tỉnh có 69 ngôi nhà với qui mô, giá trị và mức độ nguyên vẹn khác nhau. Xin giới thiệu một ngôi nhà tiêu biểu trong số ấy đã được Bộ Văn hóa -Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa  năm 1997 : di tích Nhà Trăm Cột, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước (2).

 

                         Ảnh 1: Nhà trăm cột nhìn từ hướng Đông.

 

        Gọi là Nhà Trăm Cột theo cách gọi của nhân dân địa phương vì nhà có trên 100 cột. Trước kia, nhà còn có nhiều tên khác, như nhà ông Hội đồng, nhà ông Cả, như cách gọi ở Nam Bộ gắn với tên của các thế hệ chủ nhân.

        Chủ nhân đời thứ 3, ông Trần Văn Ngộ (3), sinh năm 1945 kể rằng ngôi nhà này do ông nội ông, ông Trần Văn Hoa lúc ấy là Hương Sư làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn xây dựng vào những năm 1901-1903, do một nhóm thợ miền Trung thực hiện.

        Nhà Trăm Cột có diện tích kiến trúc 882m2, chính diện hưóng Tây Bắc, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, nhìn trên bình đồ có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái; nội thất gồm có hai phần: phần trước là phần nội tự - ngoại khách, phần sau là phần để ở và sinh hoạt; lẫm lúa ở sau cùng đã bị tháo dở năm 1952, nay chỉ còn nền móng. Nhà hoàn toàn bằng các loại danh mộc như căm xe, gõ đỏ, gõ mật…, mái lợp ngói âm dương, nền bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch Tàu lục giác.

 

 
                        Ảnh 2: Bao lam được chạm trỗ công phu
 

        Nhà Trăm Cột có kiến trúc truyền thống, kiểu nhà rường ở miền Trung với kết cấu xuyên trính (còn gọi là nhà đâm trính, nhà rường…), khung sườn kiểu bát trụ, định vị theo hướng Tây-Đông,Tiền-Hậu. Các bộ phận của kết cấu chính như trính, trổng đều được trang trí bằng cách chạy chỉ, uốn cong.Tiếp giáp giữa bộ phận trính và trổng để đỡ đòn dông nóc nhà được cách điệu hình “chày cối” tượng trưng cho âm dương hòa hợp (nên còn gọi là kiểu nhà chày cối). Kết cấu này có nhiều ưu điểm bởi bộ khung rất chắc chắn. Kiểu bát trụ không có hàng cột giữa nên không gian được tạo ra ở giữa nhà rất rộng (rộng lòng căn) thích hợp để thờ tự.

 

 
                Ảnh 3: Nội thất Nhà trăm cột

 

        Xét về qui mô kiến trúc, Nhà Trăm Cột không lớn so với một số ngôi nhà khác, nhưng trang trí trong kiến trúc ở đây rất đáng chú ý, từ cách bố cục, thể hiện đề tài đến xử lý kỹ thuật, đều cho thấy tay nghề điêu khắc của các nghệ nhân ở vào trình độ điêu luyện.

 

        Toàn bộ hệ thống vì kèo, xuyên được chạm nổi, chạm lọng các đề tài “vân hóa long”, “ tứ thời”… kiểu “dây lá hóa” đặc trưng của Huế rất công phu, sắc sảo. Các gian nội tự và ngoại khách là nơi tập trung cao nhất giá trị thẩm mỹ của công trình mà người xưa đã gửi gấm trên từng nét chạm. Đó là một tập hợp đa dạng, phong phú các đề tài cổ điển như “tứ linh” ,”tứ thời”,” bát quả”; các mô típ thể hiện Phúc – Lộc –Thọ bên cạnh các đề tài phương Tây như hoa hồng, sóc - nho…, cùng các yếu tố Nam Bộ như mãng cầu, bình bát, khế, măng cụt … được các nghệ nhân thể hiện công phu trên các bao lam, các khung ô hộc, vách ngăn, vách lá gió, bàn thờ, ghế nghi, bàn tròn, bàn dài…bằng kỹ thuật chạm lọng, chạm nổi, chạm bong kênh, chạm nổi trên nền chạm lọng… hết sức điêu luyện.

        Nét đặc thù trong phong cách chạm gỗ ở đây là bên cạnh phong cách tả thực khéo léo, tỉ mỉ nặng tính sao chép, gò bó bởi những qui phạm cổ điển là phong cách cách điệu phóng khoáng với khối lượng lớn các đồ án dạng “dây lá hóa”, đã tạo thêm sự phong phú, sinh động, gây xúc cảm cho người thưởng ngoạn. Gian ngoại khách ở Nhà Trăm cột còn được tô điểm bởi các bức hoành phi, đối liễn… sơn son, thếp vàng, cẩn ốc xa cừ, có nội dung nói lên tư tưởng hướng đến cuộc sống an nhàn, (Thiên địa náo trường xuân mậu trúc mai thanh khai hảo cảnh, Hướng sơn y thắng cuộc vận phi điểu cách tráng kỳ quan) hay ca ngợi cảnh đẹp (Sơn trang cổ họa), cầu phúc, chúc thọ…Tất cả được bố cục, xử lý một cách hài hòa trong không gian kiến trúc làm toát lên nét trang nghiêm của một ngôi nhà thờ và cũng đầy tráng lệ của một công trình kiến trúc điêu khắc truyền thống.

 

 
                        Ảnh 4: Bàn ghế được chạm trỗ công phu

 

        Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột là một ngôi nhà có kiểu thức thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế, nhưng do được làm theo đơn đặt hàng trong bối cảnh Nam Bộ thời thuộc Pháp nên có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo nên sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử – văn hóa đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

        Đến nay, Nhà Trăm Cột đã qua ba lần trùng tu. Lần thứ nhất, năm 1952, chủ nhà dở bỏ lẫm lúa phía sau, đồng thời làm mới mặt tiền nhà bằng chất liệu hiện đại là xi măng (cột, vách trước) và lát gạch hoa (nền hành lang). Lần sửa chữa này đã làm thay đổi một phần tính nguyên thủy của nhà. Từ sau khi được xếp hạng, di tích được quan tâm trùng tu bằng nguồn vốn đầu tư của Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trong chương trình chống xuống cấp của quốc gia, đã tránh được sự tuỳ tiện trong sửa chữa như trước kia. Năm 2001, với kinh phí trùng tu là 250 triệu, một phần mái và các cấu kiện kiến trúc bị xuống cấp được thay mới. Lần trùng tu năm 2007 với các hạng mục mái ngói, vách và thay đổi một số cấu kiện kiến trúc đã làm cho di tích khá khang trang. Nếu lẫm lúa và mặt tiền nhà được phục hồi như xưa thì công trình này là hoàn chỉnh.

        Với vị trí gần di tích đồn Rạch Cát hiện đang được ngành Du lịch đầu tư trở thành một điểm đến của du lịch sinh thái, cầu Kinh Nước Mặn vừa được hoàn thành nối liền vùng cù lao Long Hựu Đông, Long Hựu Tây với đất liền, di tích Nhà Trăm Cột hứa hẹn sẽ tiếp đón khách tham quan nhiều hơn./.

Bài và ảnh

Nguyễn Tấn Quốc

 ------------------------------------- 

(1) Chỉ riêng với loại hình nhà gỗ, kiến trúc của người Việt, tiêu chí kiểm kê là: niên đại, chất liệu và kiến trúc truyền thống, nội thất có chạm khắc.

(2) Quyết định số 2890- VH/QĐ/ 27.09.1997

(3) Đã qua đời,  hiện nay chủ nhân đời thứ 4 là ông Trần Thanh Nhã, sinh 1974.

24/10/2011 6:46 SAĐã ban hànhApproved
NGHỀ TRUYỀN THỐNG ĐÓNG " GHE MŨI ĐỎ" CẦN ĐƯỚCNGHỀ TRUYỀN THỐNG ĐÓNG " GHE MŨI ĐỎ" CẦN ĐƯỚC

            Cùng với đất Gia Định- Chợ Lớn, khoảng ba trăm năm khai phá, xây dựng và phát triển, đã để lại cho huyện Cần Đước nhiều di sản văn hóa ( vật thể và phi vật thể) như: các di tích lịch sử văn hóa ( Nhà Trăm Cột, Chùa Phước Lâm, Ngã Tư Rạch Kiến, Đồn Rạch Cát…) lễ hội ( Lễ giỗ Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến, lễ giỗ Nhạc sư Nguyễn Quang Đại và các lễ hội dân gian…), các đặc sản ( gạo Nàng Thơm Chợ Đào nỗi tiếng trong và ngoài nước…), đờn ca tài tử, nghề truyền thống  (Nghề dệt chiếu, nghề kim hoàn, chạm khắc gỗ, làm bánh trán phồng...), trong đó có nghề đóng “Ghe mũi đỏ” nỗi tiếng.

Huyện Cần Đước có hệ thống giao thông đường thủy quan trọng và thuận lợi, tàu thuyền từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long muốn lên Sài Gòn- Chợ Lớn ( Nay là Thành phố Hồ Chí Minh) phải qua sông Vàm Cỏ,  kinh Nước Mặn, sông Cần Giuộc ( Thuộc địa  phận các xã Tân Chánh, Phước Đông, Long Hựu Đông), trên tuyến sông này, có một cái chợ nằm phía Đông Kinh Nước Mặn nên được gọi là chợ Kinh Nước Mặn, nơi đây là điểm dừng chân, nghỉ ngơi, ăn uống, giải trí, sữa chữa ghe thuyền…, ngày xưa buôn bán tấp nập hơn chợ Cần Giuộc lúc bấy giờ…, do nơi đây mua bán sầm uất, lâu ngày trở nên chật hẹp nên chợ được dời sang bờ sông Rạch Cát, cách chợ cũ 300m vào năm 1914 như hiện nay. Chính khu vực ven sông Vàm Cỏ - Kinh Nước Mặn đã xuất hiện “ Nghề đóng ghe mũi đỏ”, một nghề nỗi tiếng hằng trăm năm nay; người dân ven sông, sinh sống bằng nghề đi ghe, đóng và sửa chữa ghe, tàu, chuyên chở hàng hóa bằng đường thủy; sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức  (Quyển II, mục sơn xuyên chí) viết: “ …Ông Đỗ Thành Nhân một vị tướng nhà Nguyễn đã xây dựng một xưởng đóng ghe, thuyền đi sông và đi biển bên bờ sông Vàm Cỏ…”.

Ghe Cần Đước rất nỗi tiếng, các cô gái bán xuồng vàm ở miệt vườn miền Tây Nam bộ hay trêu ghẹo trai Gia Định ( gọi chung Gia Định - Chợ Lớn cũ) mỗi  khi gặp ghe Cần Đước xuống:

                                  “ Ghe ai mũi đỏ, trảng lườn

                          Phải trên Gia Định xuống vườn thăm em ”

Ghe Cần Đước đã trở thành thương hiệu nỗi tiếng nhờ yếu tố văn hóa riêng biệt và kỹ thuật điêu luyện của nhiều thế hệ thợ làm ghe, câu hát huê tình truyền miệng ở trên nói lên đặc trưng nỗi tiếng của “Ghe mũi đỏ Cần Đước”  ( Cần Đước trước đây thuộc tỉnh Chợ Lớn).

Do nhu cầu đời sống, người nông dân lúc đó có thêm nghề thợ mộc, nghề đóng ghe lúc nào không hay, qua nghiên cứu gia phả của những nghệ nhân đóng ghe thì nghề mộc có liên quan đến nghề đóng ghe, nhiều người làm nghề mộc chuyển qua nghề đóng ghe, chính bản thân người nông dân mở rộng và lưu truyền nghề đóng ghe đến ngày nay, theo tài liệu sưu tầm gia phả các nghệ nhân đóng ghe của Ông Phù Chí Hoàng (Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam), thì “…nghề mộc có liên quan chặt chẽ với nghề đóng ghe, rất nhiều thợ mộc chuyển sang nghề đóng ghe, hoặc thực hiện phần chạm trỗ, trang trí ghe…, người nông dân chịu khó học hỏi nhiều nơi, tự tạo ra ngành nghề cho mình, hoặc học bạn, học thầy ở xa, gần; thời đó nghề đóng ghe được truyền trong gia đình, theo huyết thống dòng họ; nghề đóng ghe và nghề mộc có cùng chung ngày cúng Tổ hằng năm…”.

Nghề đóng ghe lâu đời, cha truyền, con nối, nên sản sinh nhiều thế hệ thợ giỏi, vừa giữ gìn được truyền thống cũ, vừa cải tiến kỹ thuật mới, để sản phẩm ghe ngày càng hoàn hảo hơn, đáp ứng nhu cầu nghề đi sông nước khi xưa và nhu cầu thị trường ngày nay. Về kỹ thuật, qua nhiều đời người thợ quá tinh thông trong việc chọn gỗ, dùng thước “mắt” để uốn ván, ra mực rất chính xác, từ kích cỡ gỗ đến cấu hình sự cân đối, cao, dài, dày để cho ra trọng lượng chuyên chở. Về hình dáng, ghe Cần Đước nỗi danh khắp Nam kỳ lục tỉnh trong đó có nét mỹ thuật độc đáo là mũi và lái nhọn, cong vút, mặt sơn màu đỏ tươi, nhất là đôi mắt có “ Thần”, dân gian gọi là “ đôi mắt đảo mèo”, hấp dẫn cả vùng sông nước Nam bộ, trước đây ghe chạy bằng buồm, chèo tay..; ngày xưa người đi ghe hành trình trên sông nước hoang vắng, có nhiều trộm cướp, nên thường giỏi võ nghệ để đề phòng bất trắc, chuyện kể hai cô gái ghe Cần Đước lần lượt đánh rớt xuống sông gần 20 tay anh chị của bến ghe Xóm Củi- Chợ Lớn…

Ghe Cần Đước ngày xưa có trọng tải khoảng từ 5 tấn đến trên 100 tấn, đặc điểm kỹ thuật là mũi nhọn, lái nhọn và cong ( mũi ghe xưa không có mũi ghe cào, mũi bằng, mũi tam bản; xuất hiện từ 1950), mặt đỏ tươi; mũi nhọn và cong rất tốn nhiều công thợ và phải lành nghề; ghe xưa chèo tay hoặc chạy bằng buồm, buồm làm bằng lá, dây neo ngày xưa làm bằng sợi cây thơm rất chắc, từ khoảng năm 1965 không dùng dây thơm nữa; việc làm ghe bằng “ ụ ghe” có trước đường ray ( đường ray ra đời khoảng thập niên 40-50 thế kỷ XX).

So với cách đây 100 năm, kỷ thuật và công cụ đóng ghe được cải tiến rất nhiều, bởi từ làm ghe trọng tải nhỏ, vừa, nay đóng ghe lên đến trên 200 tấn; các công cụ đóng ghe gồm: tời, đội, mỏ ( dùng kéo ghe từ sông lên), cảo, cưa, bào ( ngày nay cưa máy, bào máy), rìu đẽo, đục sắt các loại, búa, thước, cây chỏi, cơi quay ( dùng máy kéo ghe sau nầy mới có)…; gỗ đóng ghe thường được chọn cây suông, dài, ngay thẳng gồm các loại gỗ như: sao, sến, chò đỏ mủ, căm xe ( gỗ căm xe dùng làm cong đà, mui ghe, nằm bên trong không mục)…; để hoàn thành chiếc ghe phải qua rất nhiều công đoạn, (ở đây xin phép chỉ kể những công đoạn cơ bản) gồm: định trọng tải, chọn gỗ, uốn ván, lọng công đà; uốn lô, dọn lô, ghim lô; liên kết be với công đà; trám chốt, xảm trét, trang trí ghe, điểm nhãn, ( thường dùng vải đỏ tiến hành nghi lễ cúng để thợ dùng sơn đỏ, đen trang trí mắt ghe…) hạ thủy.

Trên một thế kỷ qua, nghề đóng ghe Cần Đước do chính nhiều họ tộc Lê, Nguyễn, Trần, Bùi… (thuộc các xã Tân Chánh, Phước Đông, Long Hựu Đông, Long Hựu Tây), chịu thương, chịu khó sáng tạo ra sản phẩm Ghe mũi đỏ, một thương hiệu nỗi tiếng. Hơn ba trăm năm, một thời mồ hôi, xương máu của các bậc tiền nhân đã dày công ra sức tạo dựng nên những làng nghề truyền thống, trong đó có nghề đóng “Ghe mũi đỏ Cần Đước”; đây là một nghề truyền thống nỗi tiếng, hình tượng chiếc ghe gắn bó lâu đời với đời sống của nhân dân sông nước Cần Đước và Nam bộ nói chung, cần được sự quan tâm bảo tồn và phát triển.

            Được biết, thời gian qua Ngành VH&TT huyện cùng các nhà nghiên cứu đi thực tế sưu tầm, ghi chép lại được một số tư liệu “Nghề đóng ghe mũi đỏ”, nhưng chưa được đầy đủ, chỉ dừng lại ở tầm nghiên cứu của các cá nhân, chưa được các ngành chuyên môn tỉnh hướng dẫn, hổ trợ lập hồ sơ nghiên cứu. Hướng tới ngành VH&TT huyện sẽ tham mưu UBND huyện đề nghị Sở VH, TT&DL, Bảo tàng tỉnh, các nhà nghiên cứu văn hóa … hướng dẫn, hổ trợ trong việc nghiên cứu, sưu tầm đầy đủ; lập hồ sơ  bảo tồn một nghề truyền thống có thể bị mai một, hoặc biến thể nét đặc sắc của nó. Có thể bảo tồn và phát huy giá trị của di sản bằng cách: thực hiện  mô hình mẫu “Ghe mũi đỏ Cần Đước” thu nhỏ, hoàn chỉnh, chính xác, đúng kỷ thuật và tỷ lệ, trưng bày (di vật ) ở Bảo Tàng tỉnh, Nhà Truyền thống huyện, thuyết minh giới thiệu cho các du khách, thế hệ trẻ, khi đến tham quan, nghiên cứu, thưởng lãm…; lập hồ sơ lưu giữ,in sách.. đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể; bên cạnh đó, cần có chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để các trại đóng ghe, tàu hiện nay phát triển ngành nghề và giới thiệu thương hiệu trong và ngoài nước, để tiếp tục phát huy giá trị.

            “ Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” ( Luật di sản văn hóa).

 Nghề đóng “Ghe mũi đỏ Cần Đước” và “Chiếc ghe mũi đỏ Cần Đước” là di sản văn hóa hàm chứa cả yếu tố phi vật thể ( truyền nghề ) và văn hóa vật thể ( chiếc ghe) rõ nét nhất và sinh động nhất, được truyền nghề và phát triển đến ngày nay. Nếu nghề truyền thống đóng  “Ghe mũi đỏ Cần Đước” sau khi được lập hồ sơ khoa học đầy đủ, huyện sẽ đề xuất Sở VH,TT&DL tham mưu cho UBND tỉnh đề nghị Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định đưa vào danh mục và cấp giấy chứng nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia./.

                                                                                        Trương Thành Phương

17/02/2012 3:56 SAĐã ban hànhApproved
Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”

Trải qua quá trình phát triển rực rỡ, cải lương đang mất dần vị thế "độc tôn" bởi qui luật phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển của công nghệ thông tin. Cải lương ở Long An không nằm trong ngoại lệ đó. Ngày 28/4/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Trung ương và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học "Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương ở Việt Nam (1918-2018) - Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển". Kết thúc loạt bài này, tác giả muốn thể hiện quan điểm tiếp cận bảo tồn phát triển của cuộc hội thảo này.

1. Đôi điều suy nghĩ

Bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng phải chấp nhận những nguy cơ bị đào thải trong sự phát triển chung của nền văn hóa nghệ thuật, đó là qui luật, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin, các loại hình giải trí khác trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã dần tước đi vị thế "độc tôn" của Cải lương. Trong khi đó, quá trình chuyển giao thế hệ ở sân khấu cải lương có một khoảng trống về đội ngũ kế thừa, nhất là 3 nhân tố quan trọng làm nên vở cải lương là: tác giả, danh cầm và diễn viên. Cải lương vì vậy đang không theo kịp tiết tấu cuộc sống đương thời để thể hiện những cảm quan mới, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ trong công chúng nghệ thuật.

Trong bối khó khăn, khủng hoảng chung hiện nay, cải lương ở Long An có những thuận lợi cơ bản. Đó là được sự quan tâm và định hướng của lãnh đạo tỉnh về nghệ thuật truyền thống này, đầu tư kinh phí để đảm bảo tồn tại và hoạt động, có điều kiện đối nội, đối ngoại, nguồn kịch bản và những trụ cột nghề nghiệp liên kết các thế hệ, cơ sở vật chất trang thiết bị được đầu tư, sự hài hòa đồng điệu giữa các thế hệ diễn viên… Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của cải lương Long An là vấn đề kịch mục, Đoàn không có tác giả và đạo diễn riêng, phải lệ thuộc bên ngoài và công tác dàn dựng rất tốn kém.

Hai nghị quyết có tác động tích cực và trực tiếp đến đời sống, sự phát triển của nền văn học nghệ thuật cả nước là Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ngày 16/7/1998 về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" xác định nhiệm vụ trọng yếu là "phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người" và Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới" chỉ rõ "tài năng văn học nghệ thuật là vốn quý xã hội". Nghệ thuật Cải lương với những đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà suốt 100 năm qua phải chăng là "vốn quí xã hội". Chính vì vậy, người viết tán thành quan điểm mạnh dạn xác định Cải lương là di sản văn hóa phi vật thể, một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc và cần được Nhà nước bảo trợ nhằm bảo tồn trước nguy cơ bị tác động làm cho suy thoái, mai một.

Về vấn đề quan điểm bảo tồn, trở lại với tên gọi cải lương. Dưới dạng danh từ chung, cải lương (không viết hoa) hay chủ nghĩa cải lương là một học thuyết chính trị chủ trương cải cách thể chế xã hội đang tồn tại; dưới dạng động từ thì có nghĩa cải tiến, cải thiện, tiến bộ hay làm cho hoàn thiện; dưới dạng danh từ riêng, Cải lương (viết hoa) dùng để gọi tên một thể loại sân khấu ở Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ XX. Còn chính thức được gọi riêng cho một kiểu sân khấu mới, theo Giáo sư Trần Văn Khê (Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, 2004, Nhà xuất bản Trẻ) là do ghép lại từ hai chữ đầu của hai câu liễn treo trên bảng hiệu của gánh hát Tân Thinh - Sa Đéc của ông bầu Trương Văn Thông vào năm 1920, mọi người sử dụng dần dà rồi thành thông dụng: Cải cách hát ca theo tiến bộ/Lương truyền tuồng tích sánh văn minh. Như vậy, cải lương (không viết hoa) hay Cải lương (viết hoa) thì nội hàm đều là sự vận động và đổi mới (cải tiến, sáng tạo) không ngừng. Cải lương vì vậy từ bản chất và với tên gọi ban đầu của nó đã cho thấy luôn phải vận động để phù hợp với thời đại mà nó đang tồn tại.

2. Thử đi tìm giải pháp

Trên quan điểm đó, thiết nghĩ Long An trong bảo tồn và phát huy di sản cải lương là không thể theo kiểu bao cấp lâu dài vì địa phương còn nhiều khó khăn, cũng không thể bảo tồn và phát huy theo kiểu tự hào quá khứ, đề cao danh hiệu, mà không có kế hoạch chăm lo phát triển theo đà phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, chỉ có thể bảo tồn trên cơ sở phát huy.

Trước tình hình trên, Long An có hai hướng để giải quyết. Một, là về những vấn đề cần thiết trước mắt để duy trì và ổn định hoạt động cải lương chuyên nghiệp nhằm kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh nhà. Hai, là về lâu dài, từng bước giải quyết có định hướng phát triển nghệ thuật truyền thống này đi đôi với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, an ninh quốc phòng… nhằm đáp ứng nhu cầu nghệ thuật truyền thống tỉnh nhà hòa nhập với thời đại chung với yêu cầu phát triển các lĩnh vực của toàn tỉnh.

Từ định hướng đó, thiết nghĩ giải pháp bảo tồn và phát triển cần chú ý đến các vấn đề sau:

Một, nâng cao năng lực thưởng thức trong công chúng. Theo đó, các ngành truyền thông tỉnh Long An cần có chương trình phổ cập kiến thức âm nhạc tài tử, cải lương cho công chúng qua hình thức báo, đài với chương trình định kỳ để công chúng cơ hội nắm bắt, tiếp cận loại hình nghệ thuật truyền thống này. Tổ chức hội, chi hội sân khấu, trung tâm văn hóa, các câu lạc bộ… ngoài hoạt động chuyên môn nên dành thời gian và điều kiện cho hoạt động phổ cập kiến thức này thông qua tạp chí chuyên ngành, trang thông tin… Việc nâng cao năng lực thưởng thức nghệ thuật cải lương sẽ tác động tích cực đến các giải pháp khác như hỗ trợ bồi dưỡng nhân lực; duy trì và tăng cường hoạt động hội diễn/hội thi; góp phần hỗ trợ cho các câu lạc bộ.

Hai, bồi dưỡng nhân lực, do đặc thù đào tạo diễn viên sân khấu cải lương, nên cần phải có chiến lược bồi dưỡng nhân lực từ xa và có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng chuyên nghiệp hơn. Đó là bồi dưỡng từ xa là phải tạo ra cho đối tượng sự ham thích bộ môn nghệ thuật này thông qua chương trình đào tạo ngoại khóa ở nhà trường phổ thông và các khóa học chuyên môn ở các câu lạc bộ địa phương; có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng có tính chuyên nghiệp là tạo cho lớp nhân lực này được vào các trường đại học sân khấu - điện ảnh và các trường đào tạo sân khấu, âm nhạc cổ truyền bậc đại học, cao đẳng, để sau này trở thành lực lượng chuyên nghiệp.

Ba, duy trì và tăng cường hoạt động tổ chức, tham gia hội thi, hội diễn, cần nên duy trì các hoạt động bằng nguồn ngân sách đã được hỗ trợ; mặt khác, vận động thêm các doanh nghiệp, công ty giúp kinh phí tăng cường tổ chức/tham gia hội thi/hội diễn của doanh nghiệp vừa để tạo phong trào, vừa để tăng thêm kinh phí hoạt động, nâng cao năng lực chuyên môn.

Bốn, thực hiện mô hình biểu diễn, cần vận động xã hội tạo điều kiện cho những mô hình ban hát hoạt động thường xuyên trong các dịp gia đình cần có âm nhạc để giúp vui hoặc chia buồn trong những đám tiệc, sinh nhật, cưới hỏi, hoặc tang gia, giỗ chạp ở địa phương. Sự tương tác này chắc chắn sẽ giúp gia chủ thỏa mãn nhu cầu âm nhạc; đồng thời hỗ trợ cho hoạt động cải lương có thêm kinh phí hoạt động nâng cao năng lực biểu diễn, bởi niềm đam mê nghệ thuật trong công chúng còn rất cao. Vấn đề là làm cách nào cho phù hợp với tình hình mới.

Thay lời kết

Xin gửi lời tri ân đến các thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ qua từng bước thăng trầm lịch sử của đất nước nói chung, nghệ thuật nước nhà nói riêng, đã suốt đời "tằm trả nợ dâu", hoạt động và cống hiến nghệ thuật không mệt mỏi để nhạc tài tử và cải lương góp phần làm nên "cốt cách Nam Bộ", trở thành một loại hình nghệ thuật dân tộc đặc trưng đất phương Nam, làm phong phú và đồ sộ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là làm sao để di sản tinh thần ấy tiếp tục trường tồn và phát huy, tiếp tục đóng góp vào quá trình hội nhập và phát triển của đất nước./.

 Nguyễn Tấn Quốc

(Hết)

12/09/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 1: Sinh ra từ vùng đất có truyền thống Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 1: Sinh ra từ vùng đất có truyền thống

Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018, tại Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An (Phường 4, thành phố Tân An), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) phối hợp với Cục Nghệ thuật Biểu diễn tổ chức Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018. Đây là dịp hội tụ của 25 đơn vị biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp với 32 vở diễn về tranh tài tại vùng đất có truyền thống văn học - nghệ thuật và là một trong những chiếc nôi của Nhạc lễ nhạc tài tử Nam Bộ, góp phần hình thành nghệ thuật cải lương ở miền Nam về sau này.

1. Truyền thống văn học - nghệ thuật

Trong hành trang văn hóa của cha ông ta đến Long An có cả một vốn liếng văn học - nghệ thuật được hun đúc qua bao thế hệ ở vùng đất cũ, trong điều kiện mới đã hình thành nên những giá trị mới, đa dạng về loại hình, phong phú về số lượng và đặc sắc về nội dung, từ ca dao, tục ngữ, vè, truyện kể đến các hình thức diễn xướng dân gian như hò, lý, hát bội, ca nhạc tài tử... Nghệ thuật dân gian trong thời kỳ đầu có bóng rỗi; rồi hát bội có mặt cũng rất sớm từ cuối thế kỷ XIX được biết qua các tư liệu về gánh hát bội đầu tiên của các ông Huỳnh Duy Ngạn (xã Nhơn Thạnh Trung, thành phố Tân An), Huỳnh Văn Xem (xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước), Nguyễn Văn Nhị (xã Long Sơn, huyện Cần Đước)... Nhạc lễ, nhạc tài tử Nam Bộ sớm được hình thành với sự có mặt của Đức nghệ nhân Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) đào tạo nên nhiều nhạc sĩ tài năng.

Từ cuối thế kỷ XIX, việc học hành ở Long An dần phát triển, hình thành giới trí thức nho học có khả năng sáng tác và thưởng thức văn học viết. Từ khoa thi hương đầu tiên của triều Nguyễn tổ chức ở Nam Kỳ (đầu thế kỷ XIX) đến khi Pháp xâm lược, Long An có 29 người đỗ hương cống, cử nhân. Tầng lớp trí thức này đã dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và ca ngợi những tấm gương vì nước hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ, phản ánh sinh động cuộc chiến đấu của nhân dân Long An, hòa tiếng nói của mình vào cuộc chiến đấu chống xâm lăng của dân tộc. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điếu Trương ĐịnhVăn tế Trương Định (1864), Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874), Dương Từ - Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888); Việt sử thông giám cương mục khảo lược, Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên công độc, Độn Am thi văn tập, Ngọa du sào tập, Dưỡng chính lục của Nguyễn Thông (1827-1884); Hịch kêu gọi nhân dân của Phan Văn Đạt (1828-1861); những bài thơ chữ Nôm thể hiện tâm trạng đau xót trước cảnh nước mất, nhà tan của Cù Khắc Kiệm; tập thơ chữ Hán của Trà Quý Bình (1828-1894) được Nguyễn Thượng Hiền đánh giá là tuy chưa có phong cách của bậc đại gia nhưng đã hơn đời; những bài thơ Nôm lên án triều đình cắt đất cầu hòa và thể hiện ý chí bất khuất trước quân xâm lược Pháp của Lê Tăng Quýnh; bài thơ tứ tuyệt của Đoàn Ngọc Thơ (1806-1876) gửi Nguyễn Đình Chiểu bày tỏ tình bằng hữu và nỗi ưu tư thời cuộc của một sĩ phu trước vận nước lúc bấy giờ; bài thơ lục bát Cuộc nổi dậy giết Đốc Phủ Ca và bài vè Côn Lôn truyện của Lê Doãn Hài; bài L phong gia huấn viết bằng thể lục bát, dài hơn 1.000 câu, có nội dung khuyên răn con cháu về lễ nghĩa ở đời và một số bài thơ Nôm hóm hỉnh, trào phúng của Lê Hoằng Diễn (1882-1933) ...

Sang đầu thế kỷ XX, đất Long An có dịch giả Trần Phong Sắc với vốn Hán học uyên thâm, sành cầm kỳ thi họa, dịch hơn 40 bộ truyện Tàu được phát hành rộng rãi trên toàn quốc, trở thành người nổi tiếng trong nền văn học trước Cách mạng tháng Tám. Tân An còn có Đào Văn Hội, tác giả sách Tân An Ngày Xưa - một dạng địa phương chí xuất bản đầu tiên ở Nam Kỳ...

2. Một trong những chiếc nôi của nhạc tài tử Nam Bộ

Dù vẫn còn nhiều điều cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ thêm về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Quang Đại bởi quan niệm "xướng ca vô loài" ngày xưa làm cho các văn sĩ hay sử gia ít khi chép lại nghệ thuật cầm ca nhưng không thể phủ nhận sự có mặt của ông đã làm cho Long An trở thành nơi sớm phát triển bộ môn Đờn ca tài tử  với việc cải cách và giản dị hóa lối ấn nhịp, sáng tác mới bài bản, hệ thống hóa hơi điệu nhạc tài tử Nam Bộ, đào tạo học trò với những tên tuổi được biết qua tài liệu và lưu truyền trong giới nhạc tài tử, cải lương, như: Chín Láo, Sáu Thoàn, Chín Chiêu, Năm Tịnh, cô Sáu Giỏi, cô Bảy Lung, ông Xã Năm, Hai Bầu, Năm Khiết, Năm Xem (ông ngoại cố nhạc sĩ Hai Biểu), Ba Đống, Mười Hai Duơn, Năm Quýnh..., rồi nối tiếp sau đó như Chín Kỳ, Hai Phát, Hai Biểu, Tư Huyện, Sáu Quý, Bảy Hàm, Bảy Quế, Năm Giai, Mười Lăng, Tư Bi, Út Nghiêm, Hai Khá, Tám Nhứt, Tư Tụi, Ba Lựa, Văn Vĩ... Đó là những người truyền bá và phát triển bộ môn đờn ca tài tử ở Long An mà tài năng của họ còn vượt ra khỏi địa phương qua họat động giao lưu liên tỉnh và thu đĩa ở Sài Gòn, góp phần tạo nên phong trào yêu thích đờn ca tài tử, cải lương khắp Nam Bộ.

Nguyễn Quang Đại còn lập ra gánh hát bội do ông Cả Cương, xã Tân Lân chu cấp để diễn cho dân xem. Hai tuồng được ông Ba Đợi dựng là San Hậu và Trần Tráo Hôn. Những câu truyền tụng trong giới đờn ca tài tử như: "Tiếng đồn Cần Đước xuân xanh/Giai kìm, Quýnh gáo, Quế tranh, Lòng cò" hay "Nhứt Bạc Liêu, nhì Cần Đước", ít nhiều phản ánh phong trào và đóng góp của giới đờn ca tài tử ở Long An lúc bấy giờ. Cũng cần nói rõ thêm, nhứt nhì ở đây không phải ai giỏi hơn ai về bộ môn đàn ca tài tử, mà phải hiểu là thứ nhất nếu nói về ca, sáng tác là Bạc Liêu, thứ hai còn nói về đờn thì là Cần Đước. Ở khu vực Thủ Thừa-Tân An-Châu Thành, bộ môn đờn ca tài tử cũng sớm hình thành và ít nhiều chịu ảnh hưởng của nhóm nhạc tài tử miền Tây Nam Bộ. Không những thế, đây còn là quê hương của hai tác giả sách Cầm ca tân điệu - một sưu tập gần như đầy đủ các bài bản đờn và lời ca cổ, đó là Lê Văn Tiếng (Thủ Thừa) thu thập phần nhạc và Trần Phong Sắc (Tân An) soạn phần lời; của Ác-măng (Arment) Thiều (Tân Trụ) - người đầu tiên sử dụng nhạc khí ghi-ta vào cổ nhạc; của nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Thuận Mỹ, huyện Châu Thành) - tác giả của bản Dạ cổ hoài lang, tiền thân của bài vọng cổ ngày nay. Cũng cần nhấn mạnh, yếu tố miền Đông, miền Tây ở đây là về phương diện đất Long An tiếp nhận và hình thành bộ môn nghệ thuật này trong lịch sử, không còn giá trị về âm nhạc qua thời gian và quá trình giao thoa, giao lưu. Trải qua bao thăng trầm lịch sử cùng biến thiên xã hội, nhạc tài tử Nam Bộ ở Long An tiếp tục phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, nhất là từ sau năm 1975. Nhiều thế hệ nhạc sĩ tài danh tiếp nối, xứng đáng là hậu duệ của lớp tiền bối của vùng đất có truyền thống đờn ca tài tử này, như Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Ba Tu (Trương Văn Tự), NSƯT Huỳnh Khải, Mười Út (Nguyễn Hữu Hinh), NSƯT Tư Bền (Võ Văn Chuẩn), NSƯT Bảy Vân (Đặng Quất Vân), Tấn Khoa (Nguyễn Tấn Khoa), Út Bù (Nguyễn Văn Út),... và còn nhiều người khác nữa. Đó là những bông hoa trong vườn hoa nghệ thuật nước nhà, tiếp tục góp phần truyền bá và phát triển bộ môn đờn ca tài tử Nam Bộ, làm nền móng cho thế hệ hôm nay tiếp tục phát huy, đóng góp vào gia sản dòng nhạc này ngày càng đồ sộ, phong phú và lan tỏa, xứng đáng với vị trí của nó trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân .

Tính đến nay, Long An đã có 23 nghệ nhân đờn ca tài tử được truy tặng và phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, trong đó có 3 nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.

Dù tính chung nhất của của âm nhạc cải lương là mối quan hệ tổng hòa giữa những dòng nhạc cùng tham gia trong một tác phẩm sân khấu, nhưng chúng ta muốn nhấn mạnh tính nền tảng là phần chính hay gọi là phần "hồn" của cải lương là từ nhạc tài tử chuyển sang trên cơ sở biến thể các thể điệu để phục vụ cho sân khấu ca kịch. Chính vì vậy, bề dày lịch sử và truyền thống văn học - nghệ thuật nói chung, đặc biệt là nhạc tài tử Nam Bộ nói riêng ở vùng đất này chính là nền tảng cho sự hình thành và phát triển của thể loại nghệ thuật cải lương về sau ở Long An./.

            Nguyễn Tấn Quốc

(Còn tiếp)


Kỳ 2: Sân khấu cải lương Long An qua những bước thăng trầm

12/09/2018 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An liên tịch hoạt động với Trại giam Thạnh Hòa  về văn hóa, văn nghệ,  thể dục thể thao cho phạm nhânSở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An liên tịch hoạt động với Trại giam Thạnh Hòa  về văn hóa, văn nghệ,  thể dục thể thao cho phạm nhân

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An liên tịch hoạt động với Trại giam Thạnh Hòa

về văn hóa, văn nghệ,  thể dục thể thao cho phạm nhân

 

Thực hiện Kế hoạch phối hợp  ngày 15/4/2015 giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) Long An và Trại giam Thạnh Hòa về việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao cho phạm nhân. Ngày 02/6/2015 Sở VH, TT và DL đã cử đoàn cán bộ chuyên môn của Trung tâm Văn hóa tỉnh và Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An  đến Trại giam Thạnh Hòa để tuyển chọn giọng ca của phạm nhân, kết quả đã tuyển được 15/30 cá nhân có có giọng hát tốt về tân nhạc và cổ nhạc. Theo đó, ngày 05/6/2015 Thư viện tỉnh cũng đã chuyển giao cho Trại giam Thạnh Hòa mượn 1.000 đầu sách để bổ sung vào thư viện của trại, nhằm mục đích góp phần nâng cao công tác giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân.

00811062015.jpg

Quang cảnh buổi Lễ ký kết Kế hoạch phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ,  thể dục thể thao

giữa Sở VH, TT và DL Long An và Trại giam Thạnh Hòa

Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng cục VIII, Bộ Công an và Bộ VH, TT và DL về việc phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trong các trại giam, tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc và trường giáo dưỡng giai đoạn 2014 – 2018. Ngày 15/4/2015 tại hội trường Sở VH, TT và DL Long An đã diễn ra Lễ ký kết Kế hoạch phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao cho phạm nhân. Đến dự buổi lễ có ông Phạm Văn Trấn, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở; Đại tá Nguyễn Phú Sung, Giám thị Trại giam Thạnh Hòa và lãnh đạo các đơn vị thuộc Sở VH, TT và DL và Trại giam Thạnh Hòa.

04111062015.jpg

Ông Phạm Văn Trấn, Giám đốc Sở VH, TT và DL và Đại tá Nguyễn Phú Sung, Giám thị Trại giam Thạnh Hòa

ký kết văn bản Kế hoạch phối hợp các nội dung liên tịch hoạt động

Nội dung được ký kết hoạt động liên tịch gồm:

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền và cổ động: Đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền như: xây dựng bản tin; phát thanh nội bộ; băng rôn, khẩu hiệu…bảo đảm thông tin tuyên truyền kịp thời, ngắn gọn, dễ hiểu và thiết thực nhất để tuyên truyền hiệu quả cho phạm nhân.

07011062015.jpg
Ông Phạm Văn Trấn, Giám đốc Sở VH, TT và DL tặng Biểu trưng Long An cho Trại giam Thạnh Hòa

- Phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức cho phạm nhân biểu diễn văn nghệ vào các đợt sinh hoạt hàng tháng, quý, nhất là các ngày lễ lớn  (ngày 3/2, ngày 30/4, ngày 01/5, ngày 02/9, ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát thi hành án hành sự và hỗ trợ tư pháp 07/11, tết cổ truyền…) và tổ chức Hội diễn khi có kế hoạch của Tổng cục Cảnh sát. Tổ chức cho phạm nhân xem các tiết mục của Đoàn nghệ thuật Cải lượng Long An và Đoàn Xiếc nhân dân Long An với  các nội dung: Ca ngợi đất nước, con người, truyền thống anh hùng, bất khuất, dũng cảm và lòng nhân ái, bao dung của dân tộc Việt Nam; ca ngợi đức hy sinh, tinh thần mưu trí, dũng cảm, chủ động, sáng tạo, chịu đựng khó khăn, gian khổ và tình thương, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp.

08011062015.jpg
Đại tá Nguyễn Phú Sung, Giám thị Trại giam Thạnh Hòa tặng bức tranh Mã đáo thành công cho Sở VH, TT và DL Long An

- Về hoạt động thư viện: Cung cấp, trao đổi, luân chuyển  các loại sách báo, truyện, tạp chí để bổ sung vào thư viện cho phạm nhân.

- Về tổ chức hoạt động thể dục thể thao: Sửa chữa, làm mới sân bãi, mua sắm trang thiết bị dụng cụ và cử huấn luyện viên đến hướng dẫn huấn luyện các môn: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông, cờ tướng và các trò chơi dân gian cho phạm nhân.

                                                                                                                                                                                                          Tin và ảnh: Phước Vẹn

11/06/2015 5:00 CHĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020 CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020

Thiết thực chào mừng kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020), Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức Hội thi Văn nghệ quần chúng, chủ đề Mừng Đảng mừng Xuân Canh Tý 2020 với sự tham gia sôi nổi của các thí sinh đến từ các xã, thị trấn và các cơ quan trong huyện.

31-1-2020 Tiet muc song ca cua don vi xa tan trach.JPG

Tiết mục song ca của đơn vị xã Tân Trạch

Với 3 thể loại tân nhạc, cổ nhạc và múa, 38 tiết mục dự thi trong hội thi đã mang đến nhiều màu sắc, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp và tạo không khí vui tươi dịp Tết cổ truyền của dân tộc. Các thí sinh với sự luyện tập, chuẩn bị chu đáo qua phần thi của mình đã truyền cho khán giả cảm xúc về mùa Xuân, về tình yêu quê hương đất nước và tình cảm đối với Bác Hồ kính yêu. Ở phần thi tân nhạc và cổ nhạc, nhiều thí sinh khoe được chất giọng mượt mà, độ bổng trầm luyến láy, cách nhã chữ tạo nên giá trị biểu cảm cho bài ca. Các tiết mục múa với sự đầu tư kỹ từ trang phục đến đạo cụ tạo nên nhiều cung bậc cảm xúc cho người xem, thu hút sự theo dõi, quan tâm, cổ vũ của khán giả.

31-1-2020  tiet muc múa cua xa Tan Lan.JPG

Tiết mục múa của đơn vị xã Tân Lân

Kết thúc hội thi, Ban Tổ chức đã trao 3 giải nhất, 3 giải nhì, 6 giải ba và 18 giải khuyến khích cho các thí sinh thể hiện xuất sắc ở từng thể loại dự thi.

31-1-2020  trao giai nhat hoi thi.JPG

Ban Tổ chức trao giải cho các thí sinh

Hội thi Văn nghệ quần chúng là dịp để những người làm công tác văn hóa, văn nghệ quần chúng nâng cao tay nghề, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời, phổ biến, quảng bá rộng rãi những bài hát về quê hương Cần Đước đến với nhân dân, nâng cao đời sống tinh thần, tạo động lực thi đua xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, nâng chất huyện điểm điển hình về văn hóa của tỉnh./.

Cẩm Tú

03/02/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​