Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 262800
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Long An và những địa danh đi vào lịch sử trong cuộc Khởi nghĩa Nam KỳLong An và những địa danh đi vào lịch sử trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ

Qua đi gần ba phần tư thế kỷ nhưng cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Tân An - Chợ Lớn (23-11-1940) đã để lại dấu ấn không thể nào quên mà những địa danh như Giồng Cám, Cầu Ông Chuồng, Long Ngãi Thuận, Móp Xanh (Bo Bo)… đã đi vào lịch sử.

Giồng Cám - Đức Hòa: Quản Nên đền tội.

Đức Hòa là địa bàn mạnh trong Nam Kỳ khởi nghĩa.Thực hiện kế hoạch cướp quận lỵ Đức Hòa, đêm 22-11-1940, lực lượng đánh dinh quận tập kết sau đình thần Đức Hòa, vừa quan sát địch đi lại tuần tiễu (do đã được báo trước đang sẵn sàng phòng thủ) vừa đợi lệnh hành động. Quá giờ nhưng không thấy hiệu lệnh, lực lượng của Bình Thủy trong cánh quân đánh quận lỵ và Ban chỉ huy rút về Giồng Cám (nay thuộc xã Đức Hòa Thượng). Tại đây, Ban khởi nghĩa quyết định dùng kế “điệu hổ ly sơn” kéo địch ra khỏi quận để tiêu diệt, đoạt súng tăng cường võ trang, đối tượng chính phải trừng trị là Quản Nên (Trần Văn Nên), trưởng đồn cảnh sát đang bảo vệ quận lỵ Đức Hòa, một tay sai trung thành của thực dân Pháp khét tiếng gian ác mà người dân ở đây từng bảo rằng “mỗi bước đi của nó là một mạng người”. Chính hắn đã đón bắt Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm ở ga Bến Lức năm 1928.

 

 Tăng-xê được nghĩa quân đào tại Giồng Cám để phục kích diệt phó Quản Nên    (Ảnh do địch chụp).

Sáng sớm ngày 23-11-1940, phó Hương quản Phùng Văn Dần (người của ta) đến Quận báo động “có cộng sản về Giồng Cám”- nơi đó, một đoạn đường hẹp, lầy lội đi ngang qua một vuông rào, tại đây 14 đồng chí trang bị súng hoặc dao phục kích trong 14 tăng xê (hố cá nhân), mỗi tăng xê cách nhau 1m, phía sau có 100 nghĩa quân sẵn sàng hỗ trợ, nơi đầu đường có bố trí hai thiếu niên và một phụ nữ đón đường làm hiệu và dẫn vào ở phục kích. Địa điểm phục kích Quản Nên chỉ cách Quận đường 1,5km. Quản Nên vừa từ Bình Trị Đông về, dù quận Hậu ngăn cản vì lệnh trên không cho ra khỏi đồn nhưng một mực xin đi tuần tiễu. Được chủ quận đồng ý, Quản Nên hăm hở dẫn lính, đeo súng, cưỡi xe đạp đi vào hướng có “báo động” và lọt vào ổ phục kích như kịch bản của ta. Đến ngay, đoạn sinh lầy xe không thể chạy nhanh, bất ngờ hai phát súng nổ từ sau lũy tre xanh, quật ngã Quản Nên và Bếp Nhung. Nghĩa quân hò reo xông ra chém chết Quản Nên và Bếp Nhung tại chỗ. Số lính thì bị thương, được giáo dục và cảnh cáo rồi thả, ta thu 5 súng. Tin Quản Nên bị giết bay về Quận làm địch sợ hãi, chia ba đội lính phòng thủ chờ tiếp viện.

Giồng Cám - Đức Hòa đã đi vào lịch sử như là nơi diễn ra sự kiện diệt ác tiêu biểu nhất trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Tân An - Chợ Lớn.

Cầu Ông Chuồng - Cần Giuộc: cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện.

 

Đồng chí Nguyễn Thị Bảy (địch gọi là bà "Hoàng hậu đỏ"), Tỉnh ủy viên Chợ Lớn, Bí thư quận ủy, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Cần Giuộc

Đồng chí Nguyễn Thị Bảy (địch gọi là bà "Hoàng hậu đỏ"), Tỉnh ủy viên Chợ Lớn, Bí thư quận ủy, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Cần Giuộc 

Cần Giuộc là một trong những địa phương tích cực chuẩn bị và tham gia cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ nhất ở Tân An-Chợ Lớn. Đêm 22 rạng 23-11-1940, dù không nhận được tín hiệu khởi nghĩa từ Sài Gòn và sau đó cũng không thực hiện được kế hoạch tấn công quận lỵ, nhưng dưới sự lãnh đạo của bà “Hoàng hậu đỏ” Nguyễn Thị Bảy và Quận ủy Cần Giuộc, nhiều làng ở đây đã nổi dậy mạnh mẽ. Từ vùng thượng đến vùng hạ, tại các làng Phước Lâm, Phước Hậu, Thuận Thành, Phước Lại, Long Đức Đông, Long Hậu Tây, Đông Thạnh, Phước Vĩnh Đông…, quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của các đồng chí đảng viên đã đồng loạt kéo đi truy lùng tề ác, lấy súng, phá đường, cắt giây thép, chiếm nhà làng, đốt sổ bộ, diễn thuyết tuyên bố giành chính quyền… làm cho bộ máy chính quyền địch ở cơ sở tê liệt, làng lính hoảng sợ bỏ trốn, gây ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong nhân dân… Đặc biệt, lần đầu tiên, cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên đất Long An tại cầu Ông Chuồng, làng Phước Vĩnh Tây, mà như chúng ta đã biết, đó là mẫu cờ đã được Xứ ủy Nam Kỳ nhất trí sử dụng trong các cuộc đấu tranh, sau này được chọn làm quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập, do họa sĩ Nguyễn Hữu Tiến ng bị thực dân Pháp đưa ra xử bắn ở Ngã ba Giồng (Hóc Môn) cùng với Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Hà Huy Tập, ... ngày 28-8-1941, mà không thấy được lá cờ của mình tung bay) thiết kế thể hiện ý tưởng máu đỏ da vàng, tượng trưng cho dân tộc và sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân bao gồm sĩ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam mà tác giả đã gửi tâm huyết mình vào trong đó qua bài thơ của ông:

            Hỡi những ai máu đỏ da vàng

            Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc

            Nền cờ thắm máu đào vì nước

            Sao vàng tươi, da của giống nòi

            Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi

            Hỡi sỹ-nông-công-thương-binh

            Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.

Trà Cú, Long Ngãi Thuận - Thủ Thừa: trận diệt đồn đầu tiên.

 Nhà Hội Long Phú (nay là địa điểm UBND thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức), nơi nghĩa quân Trung Quận cướp chính quyền đêm 22 rạng 23-11-1940

Đồn Trà Cú là một cái đồn nhỏ nằm ở bên bờ Vàm Trà Cú, nơi giáp ranh của hai làng Long Ngãi Thuận (Thủ Thừa) và Thuận Nghĩa Hòa (Thạnh Hóa), địa điểm này nay thuộc xã Long Thạnh. Đồn Trà Cú là mục tiêu trong nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ Thủ Thừa của cánh Tây Bắc lộ Đông Dương để sau đó cùng tiến chiếm tỉnh lỵ của Ban chỉ đạo khởi nghĩa tỉnhTân An.

Sau thời gian theo dõi và chuẩn bị, sáng ngày 23-11-1940, lực lượng đánh đồn bí mật ém sát đồn, đồng thời đồng chí Đặng Văn Truyện (Già Dép) bấy giờ là thôn trưởng làng Long Ngãi Thuận vốn giao du, rượu chè nhẵn mặt với lính đồn, cùng hai người khác như thường lệ cặp xuồng vào bến rồi đi thẳng vô đồn rủ bọn lính đánh bài như mọi khi. Đợi lúc địch mất cảnh giác, đồng chí Truyện (vốn rất giỏi võ nghệ) bất thần tung một cú đá trời giáng làm tên Sửu trưởng đồn bò xuống rạch lẩn trốn. Lập tức nghĩa quân tràn vào chiếm giữ toàn bộ 6 súng và bắt sống toàn bộ 1 cai và 5 lính, trương cờ đỏ búa liềm lên đồn, hô vang khẩu hiệu, kêu gọi nhân dân hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây tràn về tiến chiếm quận lỵ Thủ Thừa.

Trên đường đi, lực lượng khởi nghĩa chiếm giữ nhiều nhà Việc và truy lùng tề ác nhưng chưa đến quận lỵ thì được tin không thuận lợi từ Sài Gòn.

Kỳ tập diệt đồn Trà Cú là trận đánh đồn ngoạn mục nhất, là chiến công chói lọi nhất trong khởi nghĩa Nam Kỳ ở Tân An - Chợ Lớn, có thể được coi là sự khởi đầu cho lịch sử đánh đồn của lực lượng cách mạng ở Long An về sau này.

Căn cứ Mớp Xanh (Bo Bo) - Đồng Tháp Mười: anh hùng ẩn dật đợi thời cơ.

 Bản đồ căn cứ Mớp Xanh-Bo Bo

Thực dân Pháp đàn áp quyết liệt sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, từ cuối năm 1940, đầu năm 1941, lực lượng nghĩa quân các quận ở các tỉnh Tân An, Chợ Lớn, Gia Định đã lên khu vực kinh Bo Bo, Mớp Xanh thuộc các làng Thạnh Lợi, Bình Thành, Bình Hòa (Bắc Thủ Thừa), là những nơi có cơ sở và phong trào mạnh, phần lớn tề làng ngã về phía cách mạng và trấp Rùng Rình (làng Phong Phú, Mộc Hóa) tiếp tục bắt liên lạc với lực lượng của Cai Lậy, Châu Thành (tỉnh Mỹ Tho) và bộ phận nghĩa quân của Chợ Lớn - Gia Định rút lên Truông Mít (Tây Ninh) trở về, thống nhất thành lập căn cứ Mớp Xanh (hay còn gọi căn cứ Bo Bo) trên một địa bàn rộng khoảng 35km, dài 70 km, nằm giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây tiếp tục duy trì hoạt động, chuẩn bị khởi nghĩa lần hai.

Căn cứ có hẳn một “Ủy ban khởi nghĩa” với 5 tiểu ban giúp việc (tác chiến, tạo tác vũ khí, tuyên truyền báo chí, y tế và tiếp tế) và cơ quan tòa án để duy trì kỷ luật. Cho đến cuối tháng 3-1941, khi Xứ ủy chủ trương phân tán lực lượng ở căn cứ để tránh tổn thất do địch càn quét ác liệt, căn cứ Mớp Xanh (Bo Bo) tồn tại sau 4 tháng hoạt động nhưng đã làm cho Pháp và tay sai mất ăn mất ngủ. Dù giải thể nhưng nghĩa quân vẫn duy trì hoạt động, gây cho địch nhiều tổn thất cho đến khi có chủ trương của Đảng phân tán về bám các địa phương xây dựng cơ sở chuẩn bị cho giai đoạn cách mạng mới (12-1943). Với 6 lõm căn cứ, 1 căn cứ hoạt động vũ trang, hoạt động của nghĩa quân trên căn cứ Mớp Xanh (Bo Bo) đã diệt 68 tên địch, trong đó có 17 tên có tội ác nghiêm trọng, làm bị thương 70 tên, thu 30 súng các loại.

Hoạt động của nghĩa quân sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Căn cứ Mớp Xanh (Bo Bo) cho thấy tổ chức ở đây rất chặt chẽ, có tư tưởng lập trường kiên định, vững vàng, có kỷ luật chặt chẽ nghiêm minh nhằm xây dựng một lực lượng cách mạng theo đúng đường lối chính trị của Đảng. Đó là tiền đề để những chiến sĩ cộng sản chuẩn bị cho giai đọan tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám 1945 và vùng đất này trở thành “chiến khu bưng biền” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược về sau này.

                                Bài và ảnh

                         Nguyễn Tấn Quốc

23/02/2012 1:44 SAĐã ban hànhApproved
Di tích Khu lưu niệm Nguyễn ThôngDi tích Khu lưu niệm Nguyễn Thông
  Về xứ thanh long huyện Châu Thành, bạn đứng quên ghé thăm nơi chôn nhau cắt rốn của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông. Từ thành phố Tân An, theo con đường mang tên ông đi về ấp Bình Trị II, xã Phú Ngải Trị khoảng 8 km là bạn đến di tích, nhân dân địa phương thường gọi là “Khu lưu niệm Nguyễn Thông”.

        Về xứ thanh long huyện Châu Thành, bạn đứng quên ghé thăm nơi chôn nhau cắt rốn của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông. Từ thành phố Tân An, theo con đường mang tên ông đi về ấp Bình Trị II, xã Phú Ngải Trị khoảng 8 km là bạn đến di tích, nhân dân địa phương thường gọi là “Khu lưu niệm Nguyễn Thông”.

        Long An thuộc đất Gia Định xưa là vùng đất có bề dày lịch sử-văn hóa, truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, là nơi đã sản sinh ra nhiều nhân vật lịch sử mà cuộc đời đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp lớn lao, có nhiều danh nhân đỗ đạt của cả nước, trở thành niềm tự hào chung cho các thế hệ sau. Nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông là người con ưu tú của đất Long An như thế.

        Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am, sinh năm 1827 trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Bình Thanh, tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, Gia Định (nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An). Ông thi Hương đổ cử nhân năm 22 tuổi, khi thi Hội bài vấy mực nên bị đánh hỏng. Ông bắt đầu cuộc đời quan trường năm 1851 với chức Huấn đạo Phú Phong tỉnh An Giang. Suốt 35 năm làm quan với nhiều chức vụ như  đốc học Vĩnh Long, Bố chánh Quảng Ngãi, An sát Khánh Hòa, Doanh điền sứ Bình Thuận, Tư Nghiệp Quốc Tử Giám…., hoạt động trên nhiều lĩnh vực thủy lợi, kinh tế, sử học, văn học, văn hóa, giáo dục,… Nguyễn Thông  tỏ ra là một nhà lãnh đạo có tài, luôn đấu tranh và đem lại quyền lợi cho nhân dân, một trí thức lớn, một nhà thơ yêu nước thương dân…. Năm 1859 thực dân Pháp đánh thành Gia Định,tro ng khi vua quan triều đình Tự  Đức bất lực, ông không do dự tòng quân vào Nam chiến đấu và trở thành  trợ thủ đắc lực của Thống đốc quân  vụ Tôn Thất Hiệp. Sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ (2.1861) ông về Tân An hoạt động chống Pháp trong phong trào Trương Định cùng với các thủ lĩnh nghĩa quân địa phương như Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị.Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ,ông đề đạt nhiều ý tưởng và kế hoạch độc đáo trong việc đồn khẩn vùng tây bắc Bình Thuận để kháng Pháp lâu dài,nhưng triều đình Huế bạc nhược đã ngăn cản kế hoạch trên.

        Sau nhiều năm hoạt động gian khổ và tâm huyết cùng bao u uất trước vận nước lúc bấy giờ, ngày 27.8.1884 Nguyễn Thông mất tại Ngọa du sào- Phan Thiết (Bình Thuận), nơi sau này các con ông là Nguyễn Quý Anh và Nguyễn Trọng Lội đã tiếp nối truyền thống, thành lập Dục Thanh học hiệu (1) mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh) đã ghé dạy học (3.1909) khi trên đường vào Nam tìm đường cứu nước.

        Về mặt trước tác, Nguyễn Thông để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên công độc, Ngọa du sào văn tập, Việt sử cương giám khảo lược.Theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong “Nghiên cứu lịch sử” số 221, Nguyễn Thông còn là tác giả sách “Kỳ Xuyên thi sao” mới tìm thấy ở miền Nam.

Cuộc đời hoạt động và trước tác của Nguyễn Thông để lại đã khẳng định ông là một nhà hoạt động văn hóa lớn, một trí thức lớn đã thể hiện tấm lòng yêu nước một cách trọn vẹn trong thời kỳ lịch sử đầy biến động ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX.

Nguyễn Thông (1827-1884)

Bia đá Nguyễn Hanh (thân sinh cụ Nguyễn Thông) do Nguyễn Thông lập năm 1868 tại khu di tích Khu lưu niệm Nguyễn Thông.

 Bia do Sở VH-TT Long An lập tại di tích năm 1984

 Mộ cụ Nguyễn Thông ở thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

   

Gươm lịnh và thước của cụ Nguyễn Thông, do cháu cố là bà Nguyễn Thị Minh Trinh đang lưu giữ và thờ tự tại Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Gian thờ cụ Nguyễn Thông của con cháu tại Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

        Nguyễn Thông an nghĩ vĩnh viễn trên quê hương thứ hai Bình Thuận, nhưng nơi sinh ra ông, tên ông đã thành tên đường, tên trường học. Khu vườn nhà ông nay là khu lưu niệm. Đó là một quần thể (rộng 543m2) gồm công trình bia lưu niệm (xây dựng năm 1984 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Thông), nền nhà cũ, mộ phần của bà nội và song thân của Nguyễn Thông bằng đá ong (laterit). Đặc biệt tại đây còn một bia đá cẩm thạch do chính ông tạo lập năm 1868, loại bia một mặt có kiểu dáng và trang trí mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn. Nội dung bia xác định vị trí các ngôi mộ, năm sinh ,năm mất và một bài minh ca ngợi công đức thân sinh ông là Nguyễn Hanh. Ngày nay, “Khu lưu niệm Nguyễn Thông” là địa điểm tham quan, thăm viếng, là địa chỉ về nguồn của học sinh,sinh viên. Bia đá do ông lập là di sản quí ở địa phương, là tư liệu góp phần tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Thông.

        Năm 2001” Khu lưu niệm Nguyễn Thông “ được Bộ văn Hóa & Thông tin công nhận là di tích Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT ngày 19-01-2001).

        Từ sau khi có Nghị quyết Trung ương V khóa 8 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy, trong những năm qua, tỉnh đã triển khai Dự án trùng tu tôn tạo di tích lịch sử-văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông với tâm huyết sao cho xứng tầm với giá trị của di tích.

        Ngày 26/8/2011, Khu lưu niệm Nguyễn Thông được khởi công trùng tu, xây dựng với các hạng mục: khuôn viên mộ, khuôn viên nhà, bia mộ, san nền. Đây là những hạng mục rất quan trọng trong nhiều hạng mục của dự án nhằm bảo tồn, trùng tu những di tích gốc của khu di tích. Theo kế hoạch, các hạng mục này sẽ được hòan thành trong vòng 90 ngày.

        Với lòng kính trọng và tình cảm sâu sắc đối với thế hệ tiền nhân, việc trùng tu xây dựng Khu lưu niệm Nguyễn Thông việc làm hết sức ý nghĩa trong việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho nhân dân, vừa đáp ứng  nguyện vọng của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà, đặc biệt là của huyện Châu Thành-là nơi sinh ra nhà trí thức yêu nước tiêu biểu của Long An và Nam Bộ thế kỷ XIX. Đây là bước đầu của việc hình thành khu di tích này trong tương lai, sẽ góp phần giáo dục truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh của cha ông trên đất Long An, mà còn là điểm tham quan học tập, góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn mới ở xã Phú Ngãi Trị đang trên đà phát triển, cùng với các di tích trọng điểm khác ở huyện Châu Thành đang được trùng tu, xây dựng sẽ tạo nên bộ mặt văn hóa của huyện nhà, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương./.

                                                                                     Bài, ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

(1) Cùng với Liên Thành thư xã và Liên Thành thương quán là 3 cơ sở hoạt động yêu nước và tiến bộ ở miền Nam lúc bấy giờ.

02/12/2011 7:31 SAĐã ban hànhApproved
Làng trống Bình An đón TếtLàng trống Bình An đón Tết

    Thập niên 50 của thế kỷ trước, trống Bình An đã nổi tiếng khắp Nam Bộ và lan xa đến miền Trung... Những ngày chuẩn bị đón tết Nhâm Thìn, không khí lao động ở Bình An rộn rịp hẳn lên vì tín hiệu vui: trống Bình An đã có dịp xuất sang nước ngoài như: Mỹ, Pháp, Úc, Singapore, Trung Quốc, Anh, Campuchia, Hàn Quốc…

    Từ trong nước đến xuất khẩu

    Làng trống Bình An thuộc ấp Bình An xã Bình Lãng, huyện Tân Trụ, Long An. Từ trung tâm huyện, phải đi bộ  băng qua cánh đồng lúa mênh mông hàng trăm hécta chín vàng mơ, đi vào con đường bê tông nhỏ khoảng 1 cây số là đến làng trống. Ông Nguyễn Văn Mến (Năm Mến), một nghệ nhân có thâm niên làm trống cho biết có 20 loại trống, từ trống Sư tử 1,3 triệu đồng  đến 1,5 triệu đồng đến trống Cơm 2,4 triệu đồng, tùy theo kiểu dáng, kích cỡ.

   Ông Năm vừa chỉ các loại trống vừa giải thích cặn kẽ. Đây là loại trống cổ bồng xưa, đít bằng sành, bịt nhựa giống đờn độc huyền, vỗ ra nhiều chữ. Kia là chiếc trống cơm cũ, người ta tiếc rẻ nên thuê bịt lại.

    Năm Mến khoe: “Cái trống khá to do ông cùng nhóm thợ làm ròng rã gần 20 ngày công mới giao cho khách hàng ở tận Cà Mau lên, trị giá 6 triệu đồng. Những loại trống này mỗi tháng làm hàng chục cái là chuyện thường. Cách đây mấy tháng, tôi làm cái trống cao 2,5m; mặt rộng 1,5m; trị giá 25 triệu đồng, mới là cái trống lớn kỷ lục!”

    Chúng tôi nhìn lên tường thấy treo Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng cho ông Năm, một nghệ nhân có nhiều thành tích.

    Năm Mến nhớ lại lời ba ông kể hồi nhỏ, nghề trống ra đời cách đây khoảng 150 năm, do ông cố của ông là Nguyễn Văn Ty khởi xướng. Thời đó, ông Ty có ghe chài chuyên đi mua bán nước mắm từ Long An sang các tỉnh miền Tây.

    Trong quá trình đi buôn, ông Ty phát hiện dọc sông Vàm Cỏ nhiều người làm thịt trâu bỏ da. Thấy vậy, ông mang da trâu về phơi khô rồi mày mò làm trống. Do chưa có kinh nghiệm và thiếu đồ nghề nên trống làm ra tiếng kêu không được thanh và nhỏ xíu. Ngoài gia đình ông Năm Mến, còn những hộ làm trống lâu đời như: Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Văn Tùng…, tất cả đều dòng họ Nguyễn.

     Sau khi ông Ty qua đời, truyền sang ông nội của Năm Mến là Nguyễn Văn Tịnh, sau đó cha ông là Nguyễn Văn Tình, sang đời ông và các con ông: Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn An (đặt tên ghép để nhớ kỷ niệm làng trống Bình An) đã là năm đời làm trống. Riêng ông Năm Mến, làm trống từ năm 16 tuổi đến nay đã 63 xuân.

     Năm Mến cho biết: “Những thợ làm trống mày mò và sáng chế ra phương pháp dùng giàn chò, giàn giáo… để làm công cụ bịt trống; thân trống được làm bằng gỗ Sao rất tốt đảm bảo độ bền cao. Trống được sơn màu đỏ và thiết kế bề ngoài khá đẹp nên rất được ưa chuộng.”

     Làm trống có trên 20 công đoạn. Để làm được trống chất lượng, đảm bảo tiếng kêu tốt và độ bền cao, phải tìm cho được loại da trâu già, vừa mới làm thịt, tuyệt đối không dùng da trâu đã ngâm muối. Sau đó mang da trâu về căng ra phơi khô, lấy cỡ mặt trống, cắt da tròn rồi mới bịt…

     Địa chỉ mua da trâu tươi thường là các lò mổ Phú Thọ (Chợ Lớn), Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh được các nghệ nhân đưa về Long An, dùng gỗ Sao hay Lồng Mứt đốt lửa uốn ngay rồi căng phơi.

     Làng trống Bình An có 26 hộ, hầu hết là nông dân, trong đó có đến 19 hộ ở ấp Bình An, sau đó các anh chị này lập gia đình, đem nghề truyền lại cho các gia đình ở Bình Tịnh, Lạc Tấn và Mỹ Bình.

     Để tồn tại và phát triển, các cơ sở sản xuất trống ở Bình An liên tục thay đổi mẫu mã, hình thức, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Nếu như mấy năm trước, tất cả các công đoạn hầu như chỉ làm bằng phương pháp thủ công truyền thống, hai năm trở lại đây, các nghệ nhân cải tiến từ dụng cụ thủ công chuyển một số công đoạn sang cơ giới hóa và điển khí hóa như: khoan điện, bào, sơn tĩnh điện, chà giấy nhám…

     Ông Năm Mến giải thích thêm: “Tùy theo từng loại trống mà có cách làm da và bịt khác nhau, như trống lân thì làm da dày và bịt thẳng để kêu bong tiếng; trống nhạc lễ thiết kế khi đánh lên nghe tiếng âm dương, cao thấp; rồi trống trường, trống đình, chùa… mỗi loại đều có tiếng kêu riêng biệt”.  Độ bền của trống Bình An kéo dài từ 20- 30 năm mới lủng, sau đó bịt lại mặt và tiếp tục sử dụng.

     Ông Nguyễn Tấn Thành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Lãng, phấn khởi báo tin: “Vừa qua các hộ làm trống được vay 300 triệu đồng từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm. Mỗi hộ được vay từ 12 đến 15 triệu đồng trong 2 năm, lãi suất 0,65%/tháng, nếu có nhu cầu sẽ được đáo hạn. Ngoài ra, Sở Khoa học Công nghệ Long An còn hỗ trợ trên 50 triệu đồng đầu tư cơ giới hóa .” 

Ông Năm Mến giới thiệu trống với khách hàng

     Thương hiệu cho làng trống

     Tân Trụ là huyện nghèo nhất tỉnh. Nhiều cơ sở sản xuất trống “ăn nên làm ra” vươn lên khá giả. Như gia đình anh Ba Khía, không có tấc đất cắm dùi, nhờ nghề làm trống mà anh xây được nhà kiên cố và nuôi 4 con học lên đại học. Rồi ông Năm Mến, nuôi 7 người con có cuộc sống ổn định cũng từ nghề trống mà ra. Hộ ông Nguyễn Văn Lương, ông Hai Phú… cũng sống nhờ vào trống. Theo tổng hợp của địa phương, hiện tại đa phần các nghệ nhân làm trống đều có nhà tường khang trang  và mua sắm nhiều phương tiện nghe nhìn, hon da, điện thoại đủ đầy…

     Để nhân rộng nghề làm trống và mở thêm thị trường xuất khẩu, chính quyền địa phương đã phối hợp cùng các cơ sở thành lập Tổ hợp tác sản xuất trống nhằm tăng cường nguồn vốn, trao đổi tay nghề và mở rộng thị trường hướng đến xuất khẩu phát triển bền vững…

     Sắp tới, các ngành chức năng ở huyện Tân Trụ đang xúc tiến xây dựng thương hiệu độc quyền cho “trống Bình An”.

     Ông Nguyễn Kỳ Đức, Phó Chánh văn phòng UBND tỉnh Long An, cho biết ngoài các làng chiếu Bến Lức, Cần Đước và Tân Trụ-Long An hiện nay địa chỉ làng trống Bình An đang được UBND tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn đưa vào danh mục điểm du lịch trong tua chính phục vụ du khách khi đến tham quan Long An.

     Hiện tại, làng trống Bình An đang tất bật vào mùa sản xuất phục vụ nhu cầu tết Nguyên đán. Có điều da trâu tươi tăng lên 70%, với giá từ 14 ngàn đồng tăng lên đến 27 ngàn đồng/ký.

     Dù hút hàng nhưng giá trống bán ra vẫn giữ như cũ hoặc nhích lên chút ít. Giá mỗi cái trống trung bình từ 200 ngàn đồng đến hơn 20 triệu đồng (tùy lớn nhỏ), trống lân có giá 3,5-4 triệu đồng/cái, trống múa sư tử, múa rồng giá hơn 1 triệu đồng/cái, trống chầu, trống trường giá 4,8 triệu đồng/cái. Trừ chi phí cơ sở sản xuất còn lời 10%-20%. Riêng thợ làm trống được trả công 150.000đ/ngày, cao hơn nhiều so với làm những nghề khác.

     Theo ông Nguyễn Văn Ngọt, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Du lịch Long An, sắp tới tỉnh đang có kế hoạch xúc tiến đầu tư, mời gọi các doanh nghiệp liên kết phát triển làng nghề gắn kết với du lịch để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước một sản phẩm độc đáo truyền thống của địa phương.

                                                                                       Bài và ảnh: Hùng Cường
                                                         (Chi hội Văn nghệ dân gian thành phố Cần Thơ)

05/03/2012 1:14 SAĐã ban hànhApproved
CHĂM SÓC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA NHÀ TỔNG THẬN -  BÀI HỌC “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” CHĂM SÓC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA NHÀ TỔNG THẬN -  BÀI HỌC “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN”

Vừa qua, Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Tân An phối hợp với Phường 1, Phường 7 và các xã An vĩnh Ngãi, Lợi Bình Nhơn, Hướng Thọ Phú thực hiện chăm sóc, dọn vệ sinh Khu di tích lịch sử - văn hóa Nhà Tổng Thận, nơi ghi ấn thời kỳ lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của tỉnh Long An.

7-10-2020 thanh nien cham soc di tich lich su nha Tong Than hinh 2.jpg

Nhà Tổng Thận là tư gia của Cai tổng Trần Khắc Thận, quê quán tỉnh Quảng Nam, được xây dựng từ năm 1892. Sau khi giành chính quyền thành công tại tỉnh lỵ Tân An vào ngày 22/8/1945, Nhà Tổng Thận được chọn làm trụ sở công khai của Tỉnh ủy Tân An. Nơi đây, Tỉnh ủy tổ chức 3 cuộc hội nghị để bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng về xây dựng chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám ở Tân An. Cuối tháng 10/1945, quân Pháp tấn công Tỉnh ủy Tân An, để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, Tỉnh ủy rút khỏi Nhà Tổng Thận về Mộc Hóa.

Di tích lịch sử - văn hóa Nhà Tổng Thận có ý nghĩa quan trọng về giá trị văn hóa và lịch sử, với những hình ảnh, tư liệu, hiện vật trưng bày trong di tích sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hoạt động của Tỉnh ủy trong cách mạng; lối sống, văn hóa của tầng lớp trung lưu tại Tân An vào cuối thế kỷ XIX. Đồng thời, nơi đây chính là một "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ biết được quá trình đấu tranh cùng những khó khăn, vất vả mà thế hệ cha anh đã trải qua để giành lại độc lập cho nước nhà.

7-10-2020 thanh nien cham soc di tich lich su nha Tong Than hinh 1.jpg

Chăm sóc các di tích lịch sử là hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị xã, phường, các trường học trên địa bàn thành phố, nhằm thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của quân và dân thành phố Tân An nói riêng, tỉnh Long An nói chung. Qua đó, nhắc nhở đến các thế hệ trẻ chúng ta phải nhớ ơn các vị anh hùng dân tộc, các liệt sĩ đã hy sinh xương máu để hôm nay Thành phố Tân An được khoác lên mình một diện mạo mới tốt đẹp hơn./.

Phòng VH và TT Tân An

07/10/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
VANG MÃI TRẬN CÙ TRÒN NewVANG MÃI TRẬN CÙ TRÒN

Trận Cù Tròn là trận đánh thể hiện sức mạnh của chiến tranh nhân dân với hình thức mưu trí, dùng ít chống nhiều. Chiến thắng này là nét son trong lịch sử chống càn nói chung và chống xâm lược của nhân dân ta nói chung. Đây được xem là trận đánh lớn nhất, nhì ở huyện Châu Thành, tỉnh Long An góp phần làm bẻ gãy kế hoạch "bình định có trọng điểm" và làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - ngụy ở miền Nam vào thời điểm những năm 1963-1965.

13-4-2021 Cù Tròn từng là căn cứ địa cách mạng.jpg

Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ - ngụy, Cù Tròn từng là
căn cứ địa cách mạng của huyện Châu Thành, đặc biệt với chiến tích
đẩy lùi trận càn của Sư đoàn 7 ngụy

"Cù Tròn" là tên một cù lao tọa lạc tại ấp Tân Long, xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, kéo dài từ Tân Lục (An Lục Long) đến Phú Tây (Thanh Phú Long) và giáp ranh tỉnh Tiền Giang do đoạn uốn cong của sông Cầu Hàng chảy qua. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ - ngụy, Cù Tròn từng là căn cứ địa cách mạng của huyện Châu Thành.

Bước vào năm 1964, có thể nói đây là năm khủng hoảng triền miên của ngụy quyền Sài Gòn, nhiều cuộc đảo chính nổ ra. Trước thực tế đó, đế quốc Mỹ buộc phải đổi chiến lược từ chiến tranh đặc biệt sang kế hoạch "bình định có trọng điểm" và tỉnh Long An là 1 trong 7 trọng điểm chiến lược phòng ngự của Mỹ. Lúc đó, Mỹ đổ vũ khí và quân số ồ ạt vào địa bàn nhỏ, hẹp này, mật độ dân số lúc đó tăng gấp 3, 4 lần so với các tỉnh khác. Địch mở hàng loạt cuộc càn quét vào vùng giải phóng và những nơi chúng nghĩ là căn cứ cách mạng của ta.

Tháng 4/1964, Tỉnh ủy Long An họp đánh giá tình hình, xác định chủ trương và triển khai biện pháp cụ thể, quyết tâm đánh thắng Mỹ - ngụy. Thực hiện quyết tâm của Tỉnh ủy, bộ đội ta đã chủ động tiến công, đánh liên tục bẻ gãy nhiều cuộc càn lớn, diệt được nhiều đơn vị chủ lực ngụy.

Với ý đồ mong muốn thắng lợi trong trận càn tìm diệt chủ lực của ta, địch lên kế hoạch chuẩn bị và chia làm nhiều hướng vào xã Tân Long. Vào ngày 19/11/1964, Trung đội 1 thuộc Đại đội 313 địa phương quân Châu Thành đang đóng quân tại xã An Vĩnh Ngãi nhận triệu tập, hỏa tốc hành quân về căn cứ ngay trong đêm mưa to.

Sáng ngày 20/11/1964, địch càn vào xã Tân Long với quy mô lớn liên tỉnh có bộ binh cơ giới, máy bay, tàu chiến,... Cả tiểu đội đã lợi dụng địa hình, địa vật sẵn sàng đánh địch, chờ địch tới là nổ súng, mỗi viên đạn là một quân thù, kiên quyết đánh, không cho địch vào chiếm địa hình. Ngay trong loạt đạn đầu chính xác của các chiến sĩ ta, đã có hàng chục tên địch chết và bị thương.

Với quân số ít hơn nhiều so với lực lượng địch, nhưng Trung đội 1 thuộc Đại đội 313 địa phương quân Châu Thành đã lập nên chiến công xuất sắc, bám trụ địa bàn, chiến đấu ngoan cường dũng cảm và đẩy lùi 6 đợt tấn công ác liệt của địch gần trọn ngày 20/11/1964. Kết quả, ta đã diệt và làm bị thương trên 120 tên địch và bắn hư 1 thiết vận xa, bẻ gãy trận càn quy mô cấp trung đoàn của Mỹ - ngụy.

Trung đội 1 thuộc Đại đội 313 địa phương quân Châu Thành đã làm rạng danh Cù Tròn, đưa vùng đất này đi vào lịch sử. Và tên tuổi những người lính Trung đội 1 mãi là niềm tự hào của bao thế hệ Châu Thành hôm nay.

13-4-2021 Sức sống mới ở vùng đất anh hùng.jpg

Sức sống mới ở vùng đất anh hùng

Ngày nay, Di tích lịch sử Cù Tròn được UBND tỉnh xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Đây là niềm tự hào to lớn của quân - dân Châu Thành và là một minh chứng khẳng định hùng hồn về sự thất bại không thể tránh khỏi của Mỹ - ngụy trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam.

Đã 57 năm trôi qua, nhiều gian khó với biết bao kỷ niệm, thấm đượm nghĩa tình, vùng đất cằn cỗi với cỏ dại, cây rừng thưa thớt trước đây nay đã trở thành vùng đất trù phú, một màu xanh mướt của những cánh đồng thanh long mang lại thu nhập cao, nhiều hộ khá và giàu từ chính mảnh đất quê hương mình.

Theo Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Phú Long - Trần Lâm Duy Linh, nhờ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao mà kết cấu hạ tầng ở xã từng bước hoàn chỉnh, đời sống người dân cải thiện, nâng lên đáng kể, quốc phòng - an ninh được giữ vững.

Ông Huỳnh Văn Kiệt, ngụ xã Thanh Phú Long, chia sẻ: "Hơn 50 năm sống tại mảnh đất này, tôi chứng kiến quê hương thay đổi từng ngày. Sau bao năm vất vả, giờ đây, cuộc sống của người dân cũng dần được ổn định. Đặc biệt, việc chuyển sang trồng cây thanh long đã mở ra một hướng đi mới cho người dân Thanh Phú Long có thể làm giàu".

Thanh Phú Long ngày nay xóa dần chiến tích chiến tranh, khoác lên mình "chiếc áo mới". Cuộc sống người dân ấm no đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, tô thắm thêm truyền thống quê hương anh hùng.

Ngày nay, Di tích lịch sử Cù Tròn được UBND tỉnh xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Đây là niềm tự hào to lớn của quân - dân Châu Thành và là một minh chứng khẳng định hùng hồn về sự thất bại không thể tránh khỏi của Mỹ - ngụy trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam./.

https://baolongan.vn/vang-mai-tran-cu-tron-a112713.html

Theo Báo Long An Online


13/04/2021 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Lễ công nhận huyện Cần Đước đạt chuẩn huyện điểm điển hình về văn hóaLễ công nhận huyện Cần Đước đạt chuẩn huyện điểm điển hình về văn hóa

Sáng ngày 30/8/2015, Cần Đước đã vinh dự đón nhận danh hiệu huyện điểm điển hình về văn hóa của tỉnh. Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương - Mai Văn Chính, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - Dương Quốc Xuân, Bí thư Tỉnh ủy Long An - Nguyễn Nam Việt, Chủ tịch UBND tỉnh Long An - Đỗ Hữu Lâm … đã đến dự Lễ công nhận.

Qua 5 năm thực hiện Đề án Xây dựng huyện điểm điển hình về văn hóa giai đoạn 2010 - 2015, Cần Đước đã đạt 31/31 tiêu chí. Toàn huyện đã có 15/17 xã, thị trấn đạt chuẩn văn hóa. Liên tục 10 năm liền xếp hạng nhất toàn tỉnh về phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt năm 2009 là 7,5%, đến nay còn 2,4%. Tỷ lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố năm 2009 là 80%, đến năm 2015 là 99%; toàn huyện có 65,8% dân số tham gia thường xuyên các hoạt động văn hóa – thể thao. Cần Đước hiện có 14/17 Trung tâm Văn hóa – Thể thao cấp xã được xây dựng mới, khang trang. Năm 2009, huyện vẫn chưa có xã được công nhận Phổ cập giáo dục bậc Trung học nhưng đến nay đã có 17/17 xã, thị trấn đạt chuẩn Phổ cập giáo dục bậc Trung học. Toàn huyện hiện có 25/57 trường đạt chuẩn Quốc gia, theo lộ trình cuối năm 2015 sẽ đề nghị xét công nhận thêm 5 trường đạt chuẩn. Đường trục xã nhựa hóa hoặc bê tông hóa năm 2009 là 80%, thì đến nay đạt 94,77%. Đường ấp, khu phố, ngõ xóm được cứng hóa, không còn lầy lội vào mùa mưa, có trên 88% đường giao thông nông thôn được cứng hóa. Ngoài việc tập trung thực hiện 31 tiêu chí theo lộ trình xây dựng huyện điểm điển hình về văn hóa, Cần Đước cũng không ngừng cải tạo môi trường, cảnh quan xanh, sạch, đẹp, nâng cao nhận thức trong nhân dân về xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

Chủ tịch UBND tỉnh Long An - Đỗ Hữu Lâm đã trao Bằng công nhận, chúc mừng, biểu dương những nỗ lực mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Cần Đước chung tay góp sức, làm thay đổi diện mạo văn hóa xã hội huyện nhà. Thời gian tới, Tỉnh ủy, UBND tỉnh chủ trương không dừng lại ở các tiêu chí đạt được mà cần tiếp tục nâng cao chất lượng, thúc đẩy phát triển toàn diện hơn để Cần Đước xứng đáng là huyện điểm điển hình về văn hóa của tỉnh trong những năm tiếp theo./.

0107092015.JPG
0207092015.JPG
Tiết mục văn nghệ chào mừng
00307092015.JPG
Lãnh đạo tỉnh tặng hoa cho các Mẹ Việt Nam Anh hùng
0407092015.jpg
Lãnh đạo tỉnh trao Bằng công nhận huyện Cần Đước đạt chuẩn huyện điểm điển hình về văn hóa
0507092015.JPG
Lãnh đạo tỉnh trao Bằng khen cho các tập thể, cá nhân
đã có thành tích tốt trong quá trình xây dựng huyện Cần Đước đạt chuẩn văn hóa của tỉnh giai đoạn 2010-2015
0607092015.JPG
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Tin, ảnh: PHẠM NGÂN

08/09/2015 9:00 SAĐã ban hànhApproved
TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)

    Đầu năm 1859, sau khi vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, thực dân Pháp bỏ dở cuộc tấn công Đà Nẵng để kéo quân vào đánh chiếm Nam Kỳ. Ngày 19/2/1861, thành Gia Định thất thủ, triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương làm Thống đốc quân vụ đại thần vào Nam xây dựng đại đồn Chí Hòa để ngăn chặn quân Pháp, không cho chúng đánh ra lục tỉnh Nam Kỳ. Ngày 24/2/1861, Pháp tăng cường lực lượng phá vỡ đại đồn Chí Hòa rồi tiến quân đánh chiếm Mỹ Tho, Tân An, Cần Giuộc, Gò Công, Rạch Kiến. Để bảo vệ tấc đất ngọn rau mà cha ông đã dày công khai phá, nhân dân phủ Tân An đã dựng cờ kháng chiến dưới sự lãnh đạo của các thân hào, nhân sĩ địa phương như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phạm Tuấn Phát…Ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu L’Espérance tại Vàm Nhựt Tảo, mở đầu cho những trận công kích vào giặc Pháp ở Nam Kỳ. Đêm rằm tháng mười một năm Tân dậu (16/12/1861), nghĩa quân đồng loạt tấn công vào các đồn giặc ở Cần Giuộc, Gò Công và Tân An. Tại Cần Giuộc, nghĩa quân đã đánh úp đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình, đốt nhà thờ, giết viên tri huyện người Pháp và một số lính Mã-tà, Ma-ní. Giặc Pháp phải huy động tàu chiến đến sông Cần Giuộc bắn đại bác dữ dội lên đồn mới đẩy lui được nghĩa quân. Trong trận này, 15 nghĩa quân đã hy sinh, trong đó phần nhiều là người làng Mỹ Lộc (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc). Thi hài của các nghĩa sĩ này được chôn cất tại khu lau sậy sầm uất gần chợ Trường Bình (nay là khu vực Hồ nước Cần Giuộc). Nhân dân còn xây một miếu nhỏ để làm nơi thờ phượng các nghĩa sĩ trận vong nhưng nói tránh đi là Miếu Cô hồn để thực dân Pháp khỏi dòm ngó. Về sau, giặc Pháp biết được nên bắt dân phá miếu, đào mồ mã, nạo vét thành hồ nước.

    Xúc động trước tấm lòng dũng cảm và sự hy sinh oanh liệt của những người nghĩa sĩ nông dân, Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên áng văn bất hủ”Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Với lời lẽ vô cùng bi tráng, thống thiết, kiệt tác văn chương này đã làm rung động mãnh liệt tâm hồn, tình cảm của nhân dân cả nước. Bằng ngòi bút tài hoa với những hình tượng văn học độc đáo, mỹ lệ của Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên, người nông dân chân lấm tay bùn, rất mực bình thường, chỉ biết ‘cui cút làm ăn” bổng trở thành những anh hùng cứu nước. Đây chính là tượng đài lịch sử mà ông đã dựng lên để tôn vinh tinh thần yêu nước quên mình của những người “dân ấp, dân lân” cho sự sống còn của dân tộc và Tổ quốc. Những nghĩa sĩ này, thời bình là người nông dân, chưa bao giờ biết tới cảnh chiến tranh, máu lửa. Nhưng tiếng súng giặc đã vang rền trên bầu trời Gia Định, gót giày đinh của giặc đang giày xéo mồ mả cha ông nên họ phải đứng lên kháng chiến để bảo vệ ngọn rau, tấc đất mà bao thế hệ đi trước đã dày công khai phá. Những người “dân ấp, dân lân” này chỉ với một manh áo vải, một ngọn tầm vông đã dám đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh, có trong tay nhiều tàu to, súng lớn. Họ chiến đấu với một tinh thần dũng cảm mà muôn đời sau phải cúi đầu kính ngưỡng:

Chi nhọc quan quản đánh trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc như không.

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã-tà, Ma-ní hồn kinh.

Bọn hè trước, lũ ó sau, nào sợ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”.

Là những người trọng nghĩa, luôn nhớ câu “Kiến nghĩa bất vi” của thánh hiền, họ sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chiến đấu tới cùng vì chân lý “Chết vinh hơn sống nhục”:

Thà chết mà đặng câu địch khái, theo cùng tổ phụ cũng vinh.

Hơn sống mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Tinh thần ấy, khí tiết ấy của những người nghĩa sĩ nông dân còn mãi với thời gian, dù trận công đồn Tây Dương đã “một trận khói tan” nhưng vẫn “ngàn thu tiết rỡ”. Có thể nói rằng, cùng với ánh trăng rằm tháng 11 năm xưa, tấm lòng son của người nghĩa sĩ nông dân mãi mãi sáng soi trong tâm hồn của biết bao thế hệ tiếp nối. Cũng từ đó, hình tượng của những nghĩa sĩ nông dân này đã trở thành một tượng đài sừng sững trong lòng của mỗi người dân nước Việt.

Kế tục truyền thống chống ngoại xâm của những người nghĩa sĩ nông dân ấy, nhân dân Long An đã viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, thà chết vinh hơn sống nhục của cha ông năm xưa đến hôm nay được làm sáng tỏ thêm bởi  chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của thời đại Hồ Chí Minh và được người Long An phát huy cao độ thành truyền thống “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”. Với ý nghĩa ấy,  trận công đồn Tây dương đêm rằm tháng 11 năm Tân dậu cùng với tinh thần và khí phách của người Nghĩa sĩ Cần Giuộc xứng đáng được  thệ hệ hôm nay và mai sau, kế thừa, phát huy hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

14/12/2011 7:30 SAĐã ban hànhApproved
SỨC SỐNG TỪ CÁC CÂU LẠC BỘ ĐỜN CA TÀI TỬ SỨC SỐNG TỪ CÁC CÂU LẠC BỘ ĐỜN CA TÀI TỬ

Nghệ thuật đờn ca tài tử hiện đã có nhiều thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn, cũng như lan tỏa, phát triển ở nhiều địa phương. Tuy không phải là cái nôi của đờn ca tài tử, thế nhưng loại hình nghệ thuật này cũng đã gắn bó với đời sống của người dân tại huyện Bến Lức và được duy trì, phát triển ngày càng mạnh mẽ.

Thành lập từ năm 2015, Câu lạc bộ (CLB) Đờn ca tài tử xã An Thạnh có 4 thành viên, đến nay tổng số thành viên là hơn 20 người, hoạt động trên cơ sở tự nguyện, bài bản, sinh hoạt thường xuyên. Họ làm nhiều ngành nghề khác nhau nhưng gặp nhau ở một điểm chung là niềm đam mê ca hát, yêu bộ môn đờn ca tài tử. Qua đó, đã tạo sân chơi lành mạnh cho các thành viên sau những giờ làm việc mệt nhọc, cũng như mong muốn duy trì và nhân rộng bộ môn này trên địa bàn.

ngay 23-7-2020, ben luc Suc song tu cac CLN Don ca tai tu (hinh 1).jpg

Một buổi tập luyện của CLB Đờn ca tài tử xã An Thạnh

 Theo anh Lê Minh Trạng (sinh năm 1973), Chủ nhiệm CLB Đờn ca tài tử xã An Thạnh cho biết, CLB tập hợp những người có chung niềm đam mê với đờn ca tài tử, hầu hết mọi người đều làm nghề nông, có người buôn bán nhỏ, đa số đều bận rộn với công việc hàng ngày nhưng mọi người luôn cố gắng tham gia đều đặn các buổi sinh hoạt. CLB vừa hoạt động vừa giao lưu, giúp đỡ các thành viên CLB khác rèn giũa, nâng cao trình độ với mong muốn giữ gìn và tiếp tục phát huy loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử. Hiện tại, CLB sinh hoạt định kỳ vào chiều Chủ nhật hàng tuần, địa điểm luân phiên từng nhà của mỗi thành viên. Nội dung mỗi lần sinh hoạt là 20 bản tổ trong đờn ca tài tử, nhiều nhất là các bài ca vọng cổ và các trích đoạn cải lương ngắn với nội dung ca ngợi quê hương, đất nước, Bác Hồ kính yêu, hát về cha mẹ… Ngoài các buổi sinh hoạt định kỳ, CLB còn phục vụ văn nghệ vào các dịp lễ, ngày hội lớn của địa phương. Thời gian tới, CLB tiếp tục phát triển thêm nhiều thành viên mới và tạo mối quan hệ thân thiết với nhiều người có kinh nghiệm trong và ngoài địa phương để hỗ trợ, dìu dắt các thành viên CLB.

ngay 23-7-2020, ben luc Suc song tu cac CLN Don ca tai tu (hinh 2).jpg

CLB Đờn ca tài tử xã An Thạnh tham gia
Liên quan Đờn ca tài tử huyện Bến Lức lần thứ XII

Những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền huyện Bến Lức luôn quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tạo điều kiện để các tổ, đội, CLB Đờn ca tài tử phát triển, góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân. Toàn huyện hiện có hơn 40 CLB, đội nhóm Đờn ca tài tử trực thuộc Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện. Các xã, thị trấn trong toàn huyện đã tập hợp nhiều cá nhân có khả năng sáng tác kịch bản, đạo diễn và biểu diễn; nhiều giọng hát hay, tay đàn giỏi trong huyện đạt giải tại hội thi, hội diễn nghệ thuật cấp huyện và tỉnh, thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ của địa phương.

Anh Võ Quốc Khánh, CLB Đờn ca tài tử xã Thạnh Lợi vui vẻ cho biết: "Anh em thành lập CLB được chính quyền xã ủng hộ, mình thấy rất vui, đây là điều kiện để mọi người gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa nghệ thuật đờn ca tài tử tại Nam bộ. Bản thân mình là một người đam mê nghệ thuật đờn ca tài tử từ nhỏ, nhưng do điều kiện nên mình chưa được đào tạo bài bản, nhờ tham gia sinh hoạt tại CLB Đờn ca tài tử của xã nhà, được sự hướng dẫn của các thành viên mà kỹ năng ca hát của mình tốt hơn,…"

ngay 23-7-2020, ben luc Suc song tu cac CLN Don ca tai tu (hinh 3).jpg

Các CLB Đờn ca tài tử phát triển, góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị,
nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân

Việc phát huy, bảo tồn và khơi dậy những hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng không chỉ tạo sân chơi giải trí lành mạnh, bổ ích, thiết thực trong nhân dân mà còn góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

Việt Hằng

28/07/2020 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88Di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88

Vừa qua, UBND tỉnh Long An ban hành Quyết định số 1508/QĐ-UBND ngày 10/5/2018 xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88. Di tích tọa lạc tại ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, là nơi ghi dấu tinh thần chiến đấu và hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88 trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang, Kinh 62 xã Vĩnh Đại từ ngày 06-02 đến 07-02-1970.

`Ngày 20-8-2018. Bằng xếp hạng di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sỹ Trung đoàn 88.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ
Trung đoàn 88

Ngược dòng lịch sử, vào tháng 11 năm 1969, Trung đoàn 88 được Bộ chỉ huy Miền điều động về chiến trường miền Trung Nam Bộ làm nhiệm vụ đánh phá kế hoạch “Bình định” của Mỹ - ngụy. Thời gian đầu các đơn vị của Trung đoàn đứng chân hoạt động ở khu vực Bình Hòa, Bình Phong Thạnh, Hưng Điền, vùng biên giới Đồng Tháp Mười. Đầu năm 1970, Bộ chỉ huy Miền điều động 3 Tiểu đoàn (K7, K8, K9) thuộc Trung đoàn 88 xuống chiến trường Kiến Phong (Đồng Tháp), Kiến Tường (Long An). Tiểu đoàn 7 sau khi được củng cố, bổ sung lực lượng được chọn làm đơn vị hành quân đầu tiên.

Đầu tháng 02/1970 Tiểu đoàn 7 nhận lệnh di chuyển xuống chiến trường, do quân số đông nên phải chia làm hai đợt  hành quân. Bộ phận đi trước xuất phát vào đêm ngày 05/02/1970 (29 ÂL Tết Kỷ Dậu), do đồng chí Ong Thế Huệ (còn gọi là Bảy Huệ) Phó Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 88 và đồng chí Trần Duy Quang  Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 7 trực tiếp chỉ huy. Bộ phận đi sau xuất phát vào đêm của ngày 06/02/1970 (tức mùng 1 Tết Canh Tuất) do đồng chí Đào Đức Luyện- Chính trị viên Tiểu đoàn và đồng chí Trần Quốc Thành - Tiểu đoàn phó chỉ huy. Khoảng 7 giờ sáng ngày 06/02/1970 máy bay trinh sát địch phát hiện đội hình thứ nhất ngay khi vừa tiếp cận địa điểm trú quân trong khu rừng tràm non (thuộc khu vực kinh Ngang, địa phận ấp Láng Sen). Biết địch đã phát hiện nhưng do địa hình từng cụm như da beo, khá trống trãi, có chỗ nước ngập lại là ban ngày nên  đoàn quân không thể di chuyển để tránh né được. Về phía địch, chúng án binh bất động chờ cho qua giờ ngừng bắn “Tết” (hết 12 giờ trưa cùng ngày).

   Vừa hết giờ ngừng bắn, máy bay địch gồm trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát  OV10, L19 liên tục bắn phá  bằng đại liên, rốc két vào đội hình trú quân của ta. Tiếp sau đó địch dùng trực thăng đổ quân khoảng 4-5 tiểu đoàn là Liên đoàn 44- biệt động quân, lực lượng bảo an Mộc Hóa, Kiến Bình, lực lượng biệt kích Biên phòng thắt chặt vòng vây và tổ chức tấn công rất nhiều đợt

Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 đã nổ súng chống trả quyết liệt làm cho quân địch thương vong nhiều, song do không có hệ thống công sự chiến đấu, phần đông là chiến sĩ ở miền Bắc mới vào nên không quen thuộc địa hình đồng bằng, sông nước, kênh rạch; không có lực lượng phía sau chi viện và phải chịu đựng sức tiến công tàn phá hủy diệt của bom, đạn, hỏa lực mạnh của địch nên số lượng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn K7 thương vong khá nặng nề.

Sáng ngày hôm sau, địch tiến vào lùng sục không gặp ta nên chúng mở rộng vùng kiểm soát và chạm trán với cánh quân thứ 2 do đồng chí Quốc Thành chỉ huy ở khu vực kinh 62 (ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại). Địch chủ yếu dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào đội hình này kết hợp bộ binh vây chặt. Trận chống càn diễn ra vô cùng ác liệt, bộ đội hy sinh rất nhiều, chỉ dưới đoạn đìa không dài lắm, song mấy chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh dưới đó…. Cánh quân thứ hai bị thương vong rất lớn, quân số còn lại rất ít, đồng chí Đào Đức Luyện - chỉ huy cánh quân thứ hai cũng hy sinh trong đợt này. Đến ngày thứ  ba tức mùng 3 Tết, địch vẫn quay lại lùng sục.

 Như vậy, cuộc hành quân của Tiểu đoàn 7 đã chịu tổn thất nặng nề, các chiến sỹ đã chiến đấu và có khoảng hơn 100 chiến sỹ anh dũng hy sinh. Suốt trong thời gian dài sau đó, Đài phát thanh Ba Xuyên của địch ở Vị Thanh - nay là Hậu Giang - thường xuyên ra rả phát đi bài ca “Tiêu diệt Tiểu đoàn bảy”, K7A của ta. Về phía địch, do sự chống trả quyết liệt, dũng cảm, ngoan cường của bộ đội ta chúng bị thương vong cũng rất lớn.

 Trong đêm mùng một và mùng hai Tết, sau khi luồn thoát ra khỏi vòng vây một số chiến sĩ hành quân về hướng biên giới “Tà Nu” - Campuchia, nơi Trung đoàn 88 đứng chân. Toàn bộ đội hình chỉ còn trên dưới 100 đồng chí. Sau khi trận đánh kết thúc, địch vẫn tiến hành bao vây để lấy xác quân địch chết, đồng thời cài mìn trên người của bộ đội đã hy sinh với mục đích nhằm tiêu diệt lực lượng ta khi đến lấy xác của đồng đội. Do đó, sau một thời gian thì người dân ở địa phương và lực lượng du kích xã Vĩnh Đại mới có thể an táng các chiến sĩ đã hy sinh, nhưng chủ yếu là đậy nilon và lấp đất vì đã quá lâu ngày, còn khoảng 30-40 chiến sỹ nằm ở dưới đìa cặp Kinh 62 thì không thể an táng được.

Sau ngày hòa bình lập lại, khoảng những năm 2000, gia đình chú Nguyễn Văn Dùng (Sáu Dùng) trong lúc làm ruộng đã phát hiện nhiều bộ hài cốt của các chiến sĩ. Năm 2010, gia đình chú đã dựng một ngôi miếu thờ nho nhỏ, được xây bằng xi măng, đặt cạnh Bờ Kinh 62. Sau nhiều lần sửa chữa, đến năm 2014 chú Sáu Dùng cùng bà con góp tiền lại làm ngôi miếu khác “khang trang” hơn. Nhưng thực ra cũng chỉ là ngôi miếu nhỏ, bề ngang và bề dài khoảng 2,5m; mái và vách xung quanh bằng tole, nền lót gạch bông và xi măng. Xung quanh miếu là cánh đồng lúa mà vào mùa nước chỉ toàn  nước, bên trong miếu có đặt một ghế thờ, một bàn con,... Trên ghế thờ là ảnh Bác Hồ, lư hương, bình hoa.Tuy chỉ là  một ngôi miếu nhỏ, đơn sơ nhưng là cả tấm lòng, nghĩa tình, sự trân trọng và biết ơn của người dân nơi đây dành cho các liệt sĩ Trung đoàn 88.

Ngày 20-8-2018. Bên trong ngôi miếu thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88.JPG

Bên trong ngôi miếu thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88

Ngày 20-8-2018. Ngôi miếu nhỏ nơi thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn (ngày 6 đến 7-2-1970).JPG

Ngôi miếu nhỏ nơi thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn
ngày 6 đến 7-2-1970


Hàng năm cứ vào ngày thương binh liệt sỹ 27/7, nhân dân ấp Vĩnh Ân cùng chính quyền địa phương tổ chức lễ giỗ cho các liệt sĩ với tấm lòng của những người dân nghèo. Đám giỗ rất đơn sơ, bà con ai có gì thì cúng thứ ấy, có khi là vài con cá, con lươn, gà hay vịt hoặc chỉ vài ba lít rượu. Đến nay, bình quân mỗi kỳ lễ giỗ có khoảng 250 đến 300 người đến dự, từ bà con trong xã đến chính quyền các cấp, các bác là cựu chiến binh Trung đoàn 88, … Lễ giỗ diễn ra trang nghiêm và ấm cúng, có nghi thức chào cờ, ôn lại truyền thống địa phương cũng như trận chống càn lịch sử ngày 6 đến ngày 07-02-1970, tất cả đều một lòng tưởng nhớ đến người đã khuất.


Ngày 20- 8 -2018 Người dân địa phương đến thắp hương miếu thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88.JPG

Người dân địa phương đến thắp hương miếu thờ các liệt sĩ
Trung đoàn 88

Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88  được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh chính là sự ghi nhận sự hy sinh của nhân dân miền Bắc nói chung, chiến sĩ Trung đoàn 88 nói riêng  đã sẵn sàng vào Nam chiến đấu, góp sức trẻ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Các chiến sĩ xả thân vì quê hương, đất nước khi đang làm nhiệm vụ tại vùng Đồng Tháp Mười đã để lại trong lòng người dân nơi đây lòng cảm thương vô hạn. Di tích còn là biểu hiện cụ thể cho tấm lòng yêu thương, gắn bó và biết ơn của nhân dân Tân Hưng  nói riêng và nhân dân Long An nói chung đối với các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc.

Ngày 20-8-2018. Cánh đồng lúa trong mùa nước nổi- nơi các chiến sĩ Trung đoàn 88 hy sinh.JPG

Cánh đồng lúa trong mùa nước nổi - nơi các chiến sĩ
Trung đoàn 88 hy sinh

Tưởng nhớ đến sự hy sinh của các liệt sĩ và muốn cho đồng đội có ngôi nhà che nắng mưa nên các cựu chiến binh và Ban liên lạc Trung đoàn 88 đã kêu gọi các mạnh thường quân, những người có lòng hảo tâm đóng góp kinh phí xây dựng Đền tưởng niệm. Ý tưởng này đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tân Hưng nhiệt tình ủng hộ. Địa phương đã vận động ông Lê Hoàng Tư, xã Thạnh Hưng, thị xã Kiến Tường hiến 1.944m2 đất để xây dựng Đền tưởng niệm các liệt sỹ Trung đoàn 88. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp UBND huyện Tân Hưng và các đơn vị liên quan tổ chức khảo sát, có ý kiến đề xuất việc xây dựng Bia tưởng niệm liệt sĩ tại kinh 62. Hiện công trình đã  thực hiện phần san lấp mặt bằng, khi hoàn thành, nơi đây sẽ trở thành địa chỉ đỏ của địa phương trong công tác giáo dục lịch sử truyền thống, làm ấm lòng các chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc và trọn vẹn tâm nguyện của các cựu chiến binh Trung đoàn 88.

Hồ Phan Mộng Tuyền

23/08/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
CÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG ANCÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG AN

Nông cụ là những dụng cụ để làm nghề nông, phong phú và đa dạng nhất là các loại nông cụ sử dụng trồng lúa thủ công. Từ xa xưa, với tập quán canh tác lúa nước, lưu dân người Việt trong hành trình mở cõi về phương Nam đã mang theo những nông cụ truyền thống của quê nhà đến vùng đất mới. Đất mới trù phú nhưng vẫn còn hoang vu rậm rạp, muốn khai phá có hiệu quả, lưu dân đã phải thay đổi, chế tác thêm các nông cụ mới cho phù hợp với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng… Rồi dần về sau, hệ thống nông cụ ấy đã được bổ sung, chỉnh sửa, cải tiến để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất. Quá trình ấy trải qua hàng trăm năm thủ công, nên các nông cụ ngày nay mang tính truyền thống, nông cụ truyền thống là vậy.

Long An- vùng đất trù phú về các sản phẩm nông nghiệp trong đó có đặc sản nổi tiếng gạo nàng thơm Chợ Đào với hạt gạo trắng ngần, cơm ngon thơm dẻo. Nhưng mỗi khi ăn bát cơm ấy có mấy ai hiểu hết được hạt gạo làm ra từ đâu, bằng cách nào và bằng cái gì? Một điều chắc chắn rằng không thể thiếu đôi chân lấm, tay bùn của người nông dân cùng những cái cày, cái bừa, cái phảng, cái cộ... Đến Bảo tàng Long An, xem sưu tập nông cụ truyền thống mà ở đó mỗi nông cụ gắn với những chuyện kể về đặc điểm, cách sử dụng cũng như kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân ở địa phương.

 Sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng có trên 40 công cụ, bài viết này chỉ đề cập đến 5 nhóm nông cụ chủ yếu được sử dụng để dọn cỏ, làm đất, gieo cấy, đưa nước vào ruộng và thu hoạch lúa.

PhangCoCo.jpg

Phảng, cù nèo- nông cụ dọn cỏ hữu hiệu.

Cây phảng là nông cụ đặc dụng ở vùng ruộng bưng, có nước sâu, nhiều cỏ. Tùy theo hình dáng của phảng mà người ta đặt tên gọi: phảng cổ lùn thích hợp với ruộng có ít nước, phảng cổ cò phổ biến ở vùng Đồng Tháp Mười, phảng giò nai được nông dân vùng Cần Đước, Cần Giuộc sử dụng, phảng gai được dùng chủ yếu để chặt, chém hay phát cỏ bờ, cỏ ruộng. Tùy theo tính chất chuyên dùng và kinh nghiệm của người sử dụng thì cây phảng mới có thể phát huy được công năng của nó: nếu phát cỏ bờ thì hai tay cầm phảng, đưa lên cao để lấy đà và chặt xuống mép bờ bên trái, vừa chặt vừa lùi dần. Còn khi phát cỏ ruộng thì vung phảng và khom lưng sao cho lưỡi nằm ngang dưới nước, song song với mặt nước, lia lưỡi phảng nương theo nước, lướt tới mà không nghiêng lưỡi để bị nước cản, hạn chế lực của nhát chém. Theo ghi nhận của Trịnh Hoài Đức thì ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XIX với lối làm ruộng trên ruộng cỏ (thảo điền) có bùn sâu, không dùng trâu cày mà chỉ "phát chặt năn lác, cào cỏ đắp bờ rồi cấy" (1). Điều này cũng phù hợp với công năng của chiếc phảng được các lão nông ở Cần Đước khẳng định: trước đây, chiếc phảng cổ cò được dùng để phát cỏ, dọn đất sạch trước khi cấy. Khi ấy, ruộng chỉ làm lúa một vụ và cho đến khi làm hai vụ thì cây cỏ ít có điều kiện phát triển nên cái phảng cũng đã nhường chỗ cho cái cày trong khâu làm đất.

Nhắc đến cây phảng phát cỏ, thì nó phải đi kèm với cây cù nèo móc cỏ. Cù nèo có cán bằng gỗ, nối với cổ và lưỡi bằng sắt, vòng lưỡi như lưỡi liềm (lưỡi hái). Tay phải dùng phảng phát một nhát thì tay trái cầm cù nèo móc số cỏ đã đứt lìa gốc, kéo gom một chỗ cho trống chân cỏ để tiếp tục phát nhát phảng kế tiếp.

CayDoi.jpg

Cày, bừa, trục- nông cụ làm đất.

Con trâu đi trước, cái cày đi sau là hình ảnh thân quen thường xuất hiện trên những cánh đồng quê Việt Nam. Sự hiện diện của cái cày đã giải phóng phần nào sức lực cho con người. Để có thể làm ruộng trên vùng đất có địa hình, thổ nhưỡng phức tạp như vùng đất Long An, người nông dân đã tiếp nhận và sử dụng nhiều loại cày có công năng kỹ thuật khác nhau. Đó là kết quả của nhiều năm cải tạo đất, giao lưu văn hóa với các vùng miền để có được chiếc cày phù hợp. Vùng Cần Đước và Đồng Tháp Mười (Long An) thường sử dụng loại cày đỏi, cày đoạn... để xới đất, lật các lớp trên của đất, đem chất dinh dưỡng mới lên bề mặt và chôn lấp cỏ dại để chuẩn bị bước đầu cho gieo sạ. Với chiếc cày đỏi, nông dân Cần Đước thường dùng người mà không dùng trâu để kéo, vì đất quá lầy lội, sụp lún trâu rất khó đi nhưng nhờ đất mềm nên có thể dùng năm sáu người để kéo thì có hiệu quả hơn (2).

Bừa có đặc điểm chung là kết cấu đơn giản, chất liệu chủ yếu bằng gỗ và tre và thường do người nông dân tự làm. Đây là nông cụ để làm tơi những luống đất mà cái cày lật lên trước khi sạ lúa.

 Trục là nông cụ dùng để cán, nhận cỏ ruộng hoặc dùng để băm nhuyễn đất cày. Giống như nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất Long An thường sử dụng loại trục khía (trục trái khế ) và trục chông. Theo kinh nghiệm của các lão nông nơi đây thì với ruộng bùn sâu có thể dùng kỹ thuật trục nhận, trục đi trục lại nhiều lần để nhấn cỏ chìm sâu khỏi mặt đất, rồi mới cấy lúa.

Ván mạ, nọc chày - nông cụ gieo cấy.

Ván mạ là một tấm ván chuyên dùng được nối với cái cày và ách đôi cho trâu kéo để chở mạ (thay vì gánh mạ) rải đều trên ruộng. Khi xếp mạ lên ván người ta thường xếp quay đầu bó mạ vào trong và đưa rễ ra ngoài, xếp cao hơn đầu người và chỉ cần 4 ván mạ là đủ số mạ cấy cho 1 mẫu đất. Ngày trước, khi làm lúa mùa, tép mạ lớn, bó mạ to và nặng nên phần lớn nông dân không gánh mà dùng ván cho trâu kéo về ruộng. Ngày nay, nông dân áp dụng kỹ thuật sạ lúa và trồng lúa ngắn ngày (tép mạ thấp, bó nhỏ và nhẹ) nên ván mạ hầu như không còn sử dụng.

Nọc cấy gắn liền với đời sống của người nông dân Nam Bộ vào những năm đầu khai phá đất hoang, phát cỏ xong, đất vẫn còn gốc cỏ, rễ cây mọc tua tủa và bén ngót nên không thể dùng tay để cấy mà dùng nọc tạo lỗ rồi cắm mạ xuống. Vùng Đồng Tháp Mười (Long An), ruộng có nước sâu, mạ tốt nên nông dân sử dụng loại nọc cổ bồng để chọc lỗ cấy, còn vùng Cần Đước sử dụng loại nọc chày và nọc nhánh. Nọc chày có cán dài nối liền với phần nọc to ra và đầu nhọn để chọc lỗ cấy ở nơi đất rẫy, lầy lội. Người chọc lỗ cấy thường là nam sẽ đi giật lùi, chọc lỗ theo hàng ngang để người đi sau cấy vào lỗ. So với đồng bằng sông Cửu Long, Cần Đước là nơi mà cây nọc cấy có hình dáng khá đẹp: dài, có cán cong vút, đầu nọc khá cầu kỳ, mang tính thẩm mỹ cao (3).

GauVai.jpg

Gàu giai, xa quạt nước- nông cụ đưa nước vào ruộng.

Gàu giai được đan bằng tre, có 4 thanh tre kẹp ở miệng, đáy và hai bên cho cứng, 4 đoạn dây được nối ở 2 bên miệng và đáy gàu. Tác nước bằng gàu giai phải có 2 người cùng cầm 2 đoạn dây và hạ gàu xuống rồi múc nước, kéo lên đổ vào ruộng.

Xa quạt nước có cấu tạo là một trục gỗ dài, mỗi đầu trục gắn các chân đạp, ở giữa trục có 8 cánh quạt. Bộ phận dẫn nước đặt dưới trục gồm 2 thanh gỗ đặt song song có gắn chân và mang theo môt cái ống để hứng nước.  Dùng xa quạt để dẫn nước vào ruộng phải có 2 người, đứng trên chân đạp ở 2 đầu trục, đi giật lùi làm cho trục quay, đưa nước vào lồng máng.

BoDapLua.jpg

Vòng hái, bồ đập lúa- nông cụ thu hoạch.

Vòng hái được làm bằng loại gỗ nhẹ và chắc, có cán dài, trên thân khoét một cái rãnh để cắm lưỡi hái. Lưỡi hái cấu tạo theo dạng răng chấu rất bén. Vòng hái phù hợp việc gặt lúa mùa, thân cao. Khi nông dân chuyển sang trồng lúa ngắn ngày, thân thấp, bụi nhỏ thì chỉ cần sử dụng phần lưỡi hái để cắt lúa. Sau đó là đến lưỡi liềm, với lưỡi dài hơn lưỡi hái cũng được người nông dân sử dụng trong việc cắt lúa. Lưỡi hái, lưỡi liềm thay thế vòng hái, lúa cắt trên đồng được rãi thành hàng, người nông dân không phải cộ lúa về nhà mà đã có cách lấy hột lúa ngay tại ruộng, và bồ đập lúa đã xuất hiện.

Bồ đập lúa cấu tạo có 2 chân để trượt trên đồng cùng phần che 3 phía để lúa khỏi văng ra ngoài khi đập, bộ phận bàn đập là những thanh gỗ tròn song song. Khi đập lúa, người đập nắm chặt bó lúa nhỏ bằng cái kẹp đập mạnh vào bộ phận bàn đập sao cho hạt lúa văng vào bồ.

Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, canh tác nông nghiệp đang từng bước chuyển sang cơ giới hóa, máy móc đã được thay thế sức người, sức vật, sức kéo. Từ đó, các nông cụ thô sơ bị mai một, thậm chí đang dần biến mất khỏi đời sống nông thôn. Có thể rồi mai đây cây phảng khẩn hoang, chiếc nọc cấy của vạn hò… sẽ đi vào dĩ vãng, còn chăng chỉ được tìm thấy trong sách báo, tranh ảnh, trong các nhà bảo tàng. Vì vậy, sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng Long An là rất quý, có ý nghĩa về văn hóa, xã hội. Bộ sưu tập chính là những kỷ vật gắn bó với người nông dân trên vùng đất Long An nói riêng, Việt Nam nói chung một thời lam lũ, làm nên hạt gạo, củ khoai nuôi sống cả dân tộc. Đây là di sản văn hóa của cha ông phải được bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị để nó không bị chìm sâu vào dòng chảy của cuộc sống hiện đại./.

                                                                              Bài, ảnh:  Đỗ Thị Lan

                                                                                                           (Bảo tàng LA)

(1) Gia Định thành thông chí, Sản vật chí, sđd, tờ 3b.

(2) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.121.

(3) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.140.

15/10/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Lễ hội Vía bà Ngũ hành Long ThượngLễ hội Vía bà Ngũ hành Long Thượng
Tín ngưỡng thờ mẫu ở Long An là rất phổ biến. Một thống kê chưa đầy đủ từ cuộc tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể do Bảo tàng Long An tiến hành năm 2005 cho biết, toàn tỉnh có 46 điểm thờ bà Ngũ Hành, 40 điểm thờ Bà Chúa Xứ. Đó là số ngôi miếu thờ các nữ thần được lập riêng biệt, chưa kể hàng trăm nơi phối tự và các địa điểm thờ bà Thuỷ Long, bà Cố Hỉ, bà Ngũ Thổ, bà Thiên Hậu…Con số trên ít nhiều cho chúng ta một cái nhìn tương đối về tính phổ biến của tục thờ bà Ngũ Hành ở Long An. Xin giới thiệu một trong những lễ hội điển hình biểu hiện rõ nét của tín ngưỡng này ở Long An: Lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng.

          Tín ngưỡng thờ mẫu ở Long An là rất phổ biến. Một thống kê chưa đầy đủ từ cuộc tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể do Bảo tàng Long An tiến hành năm 2005 cho biết, toàn tỉnh có 46 điểm thờ bà Ngũ Hành, 40 điểm thờ Bà Chúa Xứ. Đó là số ngôi miếu thờ các nữ thần được lập riêng biệt, chưa kể hàng trăm nơi phối tự và các địa điểm thờ bà Thuỷ Long, bà Cố Hỉ, bà Ngũ Thổ, bà Thiên Hậu…Con số trên ít nhiều cho chúng ta một cái nhìn tương đối về tính phổ biến của tục thờ bà Ngũ Hành ở Long An . Xin giới thiệu một trong những lễ hội điển hình biểu hiện rõ nét của tín ngưỡng này ở Long An: Lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng.

         Địa điểm diễn ra lễ hội này là Miếu bà Ngũ hành Long Thượng, xã Long Thượng, huyện Cần Giuộc. Đó là một ngôi miếu cổ, một thiết chế văn hóa làng xã được hình thành trong quá trình khai hoang, lập làng của cư dân địa phương, thờ năm yếu tố vật chất theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành được tín ngưỡng hóa thành năm vị phúc thần là Ngũ Hành Nương Nương mà dân gian tin rằng có quyền năng trong các lĩnh vực liên quan đến vàng, bạc (kim), gỗ, cây (mộc), sông nước (thủy), củi lửa (hỏa) và đất đai (thổ), giúp cho mưa thuận gió hoà, bảo hộ nghề nghiệp. Miếu tọa lạc trên diện tích khoảng 500 m2 trước chợ Long Thượng nhộn nhịp. Qua lần trùng tu năm 1950, miếu vẫn còn giữ được nét cổ kính qua kiến trúc tứ trụ truyền thống kiểu đình làng, mái ngói âm dương, nóc trang trí các mô típ cổ điển như “lưỡng long tranh châu”, “nhựt nguyệt”… Miếu được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa năm 1997 (Quyết định số 400/UBQĐ ngày 22/2/1997).

        

        Đối tượng thờ chính Ngũ Hành Nương Nương được thể hiện trên tranh nổi bằng gỗ, sơn màu, hình vuông, vị trí của mỗi bà theo màu áo và phương hướng Đông (Mộc), Nam (Hoả),Trung ương (Thổ), Tây (Kim), Bắc (Thủy). Dù vậy, qua lối phối tự các vị trong bài trí thờ tự cho thấy nơi đây có sự dung hợp tín ngưỡng.Và Ngũ Hành Nương Nương ở đây tuy có nguồn cội sâu xa về triết lý sáng tạo Âm Dương-Ngũ Hành của Khổng giáo, Lão giáo ở Trung Hoa xưa nhưng về cơ bản mang yếu tố Việt. Các đối tượng phối tự trong miếu là một hệ thống cấu trúc như trong một ngôi đình Nam Bộ như Tả ban, Hữu ban, Tiền hiền, Hậu hiền, Tiên sư, Thái giám Bạch mã, Thanh Long Bạch Hổ…, bên cạnh Phật Quan Am Bồ Tát và các đối tượng thờ gốc Hoa do quá trình cộng cư như Quan Thánh đế Quân, Thiên Hậu Thánh Mẫu. Đặc biệt, Nguyễn Hữu Tình, người được tương truyền đã chiêu mộ nghĩa binh ở địa phương chống Pháp trong phong trào Trương Định, hy sinh, cũng được nhân dân tôn kính lập bài vị thờ trong miếu. Toàn bộ được tôn trí một cách hài hòa trong chánh điện với bao lam, hoành phi, câu đối, lỗ bộ được chạm trổ tinh vi, vàng son rực rỡ, thể hiện giá trị văn hóa vật chất, tinh thần tinh túy nhất của cộng đồng địa phương trong quá khứ.

        Với lịch sử hơn 100 năm và trở thành nét văn hóa truyền thống của đất và người nơi đây, Lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng diễn ra vào dịp đại lễ Cầu An được tổ chức khá long trọng trong ba ngày 19, 20 và 21 tháng Giêng. Từ năm 2000 đến nay, do lượng khách hành hương quá đông, lễ Cầu An được kéo dài thêm 1 ngày (ngày 18). Cứ sau tết Nguyên Đán và rằm tháng Giêng hàng năm, nhân dân trong vùng lại náo nức nhộn nhịp chuẩn bị cho lễ hội của mình. Dưới sự giám sát của Ban hội hương, mỗi người theo chức trách được phân công bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ. Thanh niên thì tập trung vào việc dọn dẹp vệ sinh, treo đèn kết hoa, dựng rạp, kê bàn ghế, lau chùi, đánh bóng bàn thờ, đồ thờ. Phụ nữ thì lo việc hậu cần, đem gạo, hoa trái, rau củ…đến hiến cho miếu để chuẩn bị tiếp đãi khách hành hương. Mọi người đều náo nức mong chờ ngày cử hành  lễ Cầu An.

        Diễn trình nghi lễ gồm các nội dung sau:

 - Ngày 18 tháng Giêng: lễ Khai môn thượng kỳ, lễ Mộc Dục, lễ Khai chung cổ, hương chức đình Long Thượng và miếu Kim Điền cúng Bà, lễ Khai mạc lễ hội (do chính quyền sở tại tổ chức), tiếp đãi quan khách và khách thập phương đến chiêm bái Ngũ Hành Nương Nương, Phật tử chùa Long Hoa tụng 3 thời kinh cầu an vào lúc 18-20 giờ, 23-24 giờ, 4-5 giờ.

 - Ngày 19 tháng Giêng: hát bóng rỗi và múa bóng ca tụng sự linh hiển và công đức của Bà, lễ Đại bội, hát tuồng.

 - Ngày 20 tháng Giêng: lễ Túc yết, hát bóng rỗi và múa bóng, hát chặp Địa Nàng.

 - Ngày 21: lễ Đoàn Cả, Ban hội hương cùng chính quyền địa phương họp tổng kết lễ hội.

        Lễ vật cúng là những sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp mà địa phương sản xuất, gồm: thịt, xôi, trà, rượu, bánh, trái. Theo lệ xưa, thịt dùng để cúng Ngũ Hành nương nương là thịt heo.Trong lễ Yết, heo cúng Bà được gọi là heo Yết, trọng lượng khoảng 1 tạ, và phải là heo có sắc lông đen tuyền. Tuy nhiên, do khan hiếm nên ngày nay quy định này cũng được chế giảm. Ngoài ra, một số khách hành hương còn dâng cúng Ngũ Hành Nương Nương đầu heo luộc, heo quay, vịt quay trong  lễ Cầu An. Xôi là lễ vật không thể thiếu vì là sản phẩm đặc trưng của nghề nông-nghề nghiệp của đại đa số nhân dân trong vùng.Trà, rượu, bánh, trái thường được chọn loại ngon nhất để dâng cúng. Bánh trái, hoa quả thì mùa nào thức ấy, tùy lòng hảo tâm, có thể dâng cúng bất kỳ loại hoa quả, bánh trái nào mà không cần kiêng kỵ.

        Trong suốt bốn ngày, Lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng thực sự là một ngày hội của nhân dân địa phương và khu vực với các hoạt động cầu an, hội hè vui chơi và giao lưu cộng đồng.

        Lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng qua nghi thức cúng tế có thể thấy rằng ngoài nghi thức của một Lễ Kỳ Yên ở đình thờ Thần Hoàng bổn cảnh như Khai môn thượng kỳ, Khai chung cổ, Mộc dục, Đại bội, Túc yết Đòan cả, do tính chất thờ nữ thần nên Lễ Vía bà Ngũ Hành Long Thượng có nghi thức không thể thiếu, gọi chung là hát bóng rỗi. Đó là một hình thức diễn xướng tổng hợp được hình thành từ sự tiếp nhận, chắt lọc của nhiều dòng văn hóa, có chức năng thực hành nghi lễ, mà qua các trò diễn dân gian như khai tràng, thỉnh tổ -chầu mời,  dâng bông, dâng mâm, bán lộc, an vị, mời tiên ra tuồng, Phước Lộc, Địa Nàng, nghinh bà và các trò diễn tạp kỹ khác, chúng ta có thể thấy bóng dáng của văn hóa Chăm trong nghệ thuật múa, văn hóa Hoa trong nội dung, đề tài và nghi thức cúng tế, văn hóa Việt trong nhạc lễ và đặc biệt trò diễn dân gian vui nhộn của Nam Bộ. Tụng kinh cầu an trong đêm 18 của Phật tử chùa Long Hoa cũng là điểm đặc biệt, cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo và tín ngưỡng trong cộng đồng dân cư nơi đây.

        Do tính chất hội tụ này mà lễ hội Vía bà Ngũ hành Long Thượng đã thu hút quảng đại quần chúng nhân dân, với hàng chục ngàn người hành hương, lễ bái, cầu an, giao lưu, cộng cảm. Vì với trí thức, đó là hình trạng của “Tam giáo đồng nguyên”, nhưng với người bình dân, đó là điều kiện (có đủ các vị thần) để chiêm bái, khẩn cầu, giao lưu cộng đồng trong bất cứ trường hợp nào.

        Những đặc điểm trên của Lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng cho thấy một số vấn đề sau:

            -Dưới góc độ tín ngưỡng, tục thờ mẫu nói chung và bà Ngũ Hành nói riêng, người Việt ở Nam Bộ không chỉ tiếp thu, ảnh hưởng, mà thực sự đã hình thành nguồn tín ngưỡng phổ biến, mang tính chất thiêng liêng về phương diện triết lý nhân sinh và nhận thức, thể hiện niềm tin của con người luôn khát vọng vươn lên gặt hái những thành tựu trong cuộc sống.

            -Dưới góc độ giải trí, nghệ thuật múa tạp kỹ và những trò diễn xướng là nhằm thoả mãn nhu cầu vui chơi của cộng đồng trong các dịp lễ hội. Nhìn ở góc độ này, các nghệ nhân dân gian của loại hình này xứng đáng được nhìn nhận và đánh giá đúng mức hơn về vị trí của mình trong nghệ thuật truyền thống.

            -Dưới góc độ xã hội, các nghi lễ cúng bà gắn với các trò vui là biểu hiện của tình đoàn kết xóm làng, là sự đồng tâm, đồng cảm của cộng đồng về một cuộc sống bình yên, lương thiện và phát triển. Đây là mỹ tục cần bảo lưu giữ gìn.

        Gắn liền với những dặm đường lịch sử, Lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng nói riêng, lễ hội tín ngưỡng dân gian nói chung là một bảo tàng sống động và phong phú về đời sống văn hóa- tinh thần của dân tộc. Mặc dù bên ngoài lễ hội bao giờ cũng hướng đến một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn: những nhiên thần và nhân thần, nhưng xét cho cùng cội rễ thì đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của những vị anh hùng vô danh đã từng khai cơ dựng nghiệp để tạo nên cuộc sống yên vui tốt đẹp cho làng - nước ở đời sau. Đó là những giá trị văn hóa, nhân sinh đích thực mà chúng ta cần có thái độ trân trọng đúng mực, từ đó xác lập một cách ứng xử phù hợp trong việc bảo tồn.

        Với ý nghĩa và nhận thức trên, sau khi Miếu Ngũ Hành Long Thượng được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 1997, năm 2009, Lễ hội Vía bà Long Thượng tiếp tục được hỗ trợ đầu tư nghiên cứu các giá trị phi vật thể. Hiện nay, cụ thể hóa một số nội dung mới của Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30-6-2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc “Quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia” đã được triển khai thực hiện trên toàn quốc. Thiết nghĩ lễ hội Vía bà Ngũ Hành Long Thượng xứng đáng được quan tâm nghiên cứu và đánh giá đúng mức./.

                                                                                                             Tấn Quốc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

17/10/2011 7:38 SAĐã ban hànhApproved
Long An, những hình ảnh quý giá về sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975Long An, những hình ảnh quý giá về sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975

Hơn 04 thập kỷ trôi qua, mỗi khi nhắc lại sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975, trong mỗi con người Việt Nam đều cảm thấy kiêu hãnh và tự hào về một dân tộc anh hùng. Ngày 30/4/1975, khoảnh khắc lịch sử ấy đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của đất nước - kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến tranh đã lùi xa, nhớ về ngày 30/4, mỗi người con Long An càng cảm thấy tự hào với những chiến công của ông cha ngày trước đã không tiếc máu xương hy sinh cho độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Những ngày tháng 4 này, hòa trong không khí chào mừng kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2018), chúng ta cùng nhìn lại những hình ảnh sống động, hiếm có, ghi lại khoảnh khắc lịch sử đáng nhớ này ở Long An.

24-4-2018 Bộ đội địa phương huyện Đức Huệ tải đạn ra chiến trường phục vụ chiến dịch 1975.jpg

Bộ đội địa phương huyện Đức Huệ tải đạn ra chiến trường phục vụ chiến dịch 1975

24-4-2018 Bộ đội chủ lực miền binh đoàn 232 trên đường từ Đức Huệ về giải phóng Sài Gòn 29.4.1975.JPG

Bộ đội chủ lực miền Binh đoàn 232 trên đường từ Đức Huệ về giải phóng Sài Gòn 29/4/1975

24-4-2018 Bộ đội tiến vào giải phóng Hậu Nghĩa (nay thuộc huyện Đức Hòa).jpg

Bộ đội tiến vào giải phóng Hậu Nghĩa (nay thuộc huyện Đức Hòa)

24-4-2018 Từ Long An các chiến sĩ bộ binh tiến về Sài Gòn, năm 1975.jpg

Từ Long An các chiến sĩ bộ binh tiến về Sài Gòn, năm 1975

24-4-2018 Sân bay Hậu Nghĩa bị ta đốt cháy  29-4-1975.jpg

Sân bay Hậu Nghĩa bị ta đốt cháy ngày 29/4/1975

24-4-2018 Chi khu Cần Đước được giải phóng, ngày 30-4- 1975.jpg

Chi khu Cần Đước được giải phóng ngày 30/4/1975

          Th. Lan (Bảo tàng tỉnh Long An)           

02/05/2018 3:00 CHĐã ban hànhApproved
TỰ HÀO NGÔI TRƯỜNG MANG TÊN LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ TỰ HÀO NGÔI TRƯỜNG MANG TÊN LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ

Phát huy truyền thống là ngôi trường đầu tiên của tỉnh mang tên Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, được thành lập từ năm 2002, đến nay Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, huyện Bến Lức đã ươm mầm tài năng cho rất nhiều thế hệ học sinh.

ngay 7-7-2020, ben luc Tu hao mai truong mang ten Luat su Nguyen Huu Tho.JPG

Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, nơi ươm mầm tài năng

Cùng với các trường trong toàn huyện, những ngày này, Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ đang tích cực tổ chức tuyên truyền về lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tới cán bộ, giáo viên, học sinh thông qua các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Đồng thời, hưởng ứng tham gia cuộc thi "Tìm hiểu sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và Lịch sử Đảng bộ huyện Bến Lức" do huyện phát động với 100% học sinh tham gia.

Song song đó, để làm tốt công tác giáo dục truyền thống, vào đầu năm học mới, nhà trường đều tổ chức buổi ngoại khóa tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cho tất cả học sinh mới vào trường. Không chỉ thông qua những buổi sinh hoạt đầu tuần, các buổi sinh hoạt ngoại khóa hay những câu chuyện về Luật sư qua sách vở, bài học, các em còn được nhà trường tạo điều kiện tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ với hình ảnh và thông tin phong phú ở phòng truyền thống của trường. Qua đó, giúp các em nêu cao tinh thần tự hào về ngôi trường cũng như hiểu biết về người trí thức yêu nước.

Em Nguyễn Tâm Bình, học sinh lớp 12A8 vẫn thường xuyên cùng các bạn đến phòng truyền thống của trường. Bảng tiểu sử chi tiết, những hình ảnh sống động về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã giúp các em có được những kiến thức chân thực nhất về Luật sư. "Em được các thầy cô kể rất nhiều chuyện về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Chúng em rất tự hào và vinh dự khi được học tập dưới mái trường mang tên Luật sư. Chúng em sẽ ra sức học tập, nguyện xứng đáng là học sinh của trường"- em Tâm Bình bộc bạch.

Kể từ khi thành lập đến nay, chất lượng giáo dục của trường không ngừng nâng lên. Trong đó: Học sinh khá, giỏi đạt tỷ lệ từ 60-80%; tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt từ 99% trở lên. Bảng vàng thành tích của nhà trường ngày một dày thêm với những phần thưởng và danh hiệu cao quý: Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu đơn vị tiên tiến xuất sắc, được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh tặng bằng khen. Hiện cơ sở vật chất của trường đã được đầu tư xây dựng khang trang, đầy đủ các phòng học, phòng chức năng và trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập theo quy định chuẩn. Với 80 lớp, 3.270 học sinh, trường cũng là một trong những đơn vị tiên phong áp dụng các phương pháp dạy và học tiên tiến, toàn diện. Nhờ vậy, chất lượng dạy và học của trường không ngừng được nâng cao.

Cô Phạm Thị Xuân Hương, giáo viên trường THPT Nguyễn Hữu Thọ chia sẻ: "Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ có truyền thống dạy và học từ nhiều năm nay. Để các em tiếp thu bài nhanh thì giáo viên phải chịu khó nghiên cứu cách truyền đạt kiến thức. Tôi lúc nào cũng phải nghĩ cách lồng những câu chuyện thực tế đời thường vào các bài học để giúp các em dễ mường tượng và nắm rõ điểm mấu chốt hơn".

ngay 7-7-2020, ben luc Tu hao mai truong mang ten Luat su Nguyen Huu Tho (3).JPG

Chất lượng dạy và học của trường không ngừng được nâng cao

Mỗi bước đi của thời gian, là mỗi bước đánh dấu truyền thống hiếu học của học sinh và sự trưởng thành của nhà trường. Mỗi bước đi lên, mỗi thành tựu nhà trường giành được đều bắt nguồn từ công lao to lớn của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý của nhà trường. Họ đã làm nên những "mùa vàng" bội thu của sự nghiệp "trồng người" trên mảnh đất giàu truyền thống hiếu học này. Các thế hệ hiệu trưởng như thầy Vũ Huy Tưởng, Huỳnh Văn C, Hồ Văn Mãnh, Trương Văn Bi, Phan Văn Toàn... và hàng trăm thầy giáo, cô giáo khác là những tấm gương hết lòng vì học sinh thân yêu, là sự mẫu mực về năng lực sư phạm cũng như về nhân cách làm người, làm thầy để học sinh noi theo.

Cô Đặng Thị Bích Loan, Phó hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Hữu Thọ chia sẻ: "Chính vì nỗ lực không ngừng của những "người lái đò" tâm huyết, từ mái trường này, nhiều thế hệ học sinh đã tốt nghiệp ra trường, tiếp tục học lên các bậc học cao hơn, tham gia công tác trên nhiều lĩnh vực và xây dựng quê hương, đất nước. Cũng từ đây, rất nhiều học sinh đã trở thành thạc sĩ, kỹ sư, nhà lãnh đạo, quản lý các cấp. Để rồi, mỗi năm họ quay về trường cũ, mang theo những suất học bổng thay lời tri ân để giúp thế hệ sau có động lực thành công trong tương lai".

Với những nỗ lực vươn lên trong hoạt động giáo dục, Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ đã và đang khẳng định vị thế, thương hiệu chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi, về công tác quản lý học sinh luôn đứng tốp đầu các trường THPT trong huyện và trong tỉnh./.

Việt Hằng – Lê Hạnh

14/07/2020 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”

Trải qua quá trình phát triển rực rỡ, cải lương đang mất dần vị thế "độc tôn" bởi qui luật phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển của công nghệ thông tin. Cải lương ở Long An không nằm trong ngoại lệ đó. Ngày 28/4/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Trung ương và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học "Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương ở Việt Nam (1918-2018) - Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển". Kết thúc loạt bài này, tác giả muốn thể hiện quan điểm tiếp cận bảo tồn phát triển của cuộc hội thảo này.

1. Đôi điều suy nghĩ

Bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng phải chấp nhận những nguy cơ bị đào thải trong sự phát triển chung của nền văn hóa nghệ thuật, đó là qui luật, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin, các loại hình giải trí khác trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã dần tước đi vị thế "độc tôn" của Cải lương. Trong khi đó, quá trình chuyển giao thế hệ ở sân khấu cải lương có một khoảng trống về đội ngũ kế thừa, nhất là 3 nhân tố quan trọng làm nên vở cải lương là: tác giả, danh cầm và diễn viên. Cải lương vì vậy đang không theo kịp tiết tấu cuộc sống đương thời để thể hiện những cảm quan mới, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ trong công chúng nghệ thuật.

Trong bối khó khăn, khủng hoảng chung hiện nay, cải lương ở Long An có những thuận lợi cơ bản. Đó là được sự quan tâm và định hướng của lãnh đạo tỉnh về nghệ thuật truyền thống này, đầu tư kinh phí để đảm bảo tồn tại và hoạt động, có điều kiện đối nội, đối ngoại, nguồn kịch bản và những trụ cột nghề nghiệp liên kết các thế hệ, cơ sở vật chất trang thiết bị được đầu tư, sự hài hòa đồng điệu giữa các thế hệ diễn viên… Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của cải lương Long An là vấn đề kịch mục, Đoàn không có tác giả và đạo diễn riêng, phải lệ thuộc bên ngoài và công tác dàn dựng rất tốn kém.

Hai nghị quyết có tác động tích cực và trực tiếp đến đời sống, sự phát triển của nền văn học nghệ thuật cả nước là Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ngày 16/7/1998 về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" xác định nhiệm vụ trọng yếu là "phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người" và Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới" chỉ rõ "tài năng văn học nghệ thuật là vốn quý xã hội". Nghệ thuật Cải lương với những đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà suốt 100 năm qua phải chăng là "vốn quí xã hội". Chính vì vậy, người viết tán thành quan điểm mạnh dạn xác định Cải lương là di sản văn hóa phi vật thể, một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc và cần được Nhà nước bảo trợ nhằm bảo tồn trước nguy cơ bị tác động làm cho suy thoái, mai một.

Về vấn đề quan điểm bảo tồn, trở lại với tên gọi cải lương. Dưới dạng danh từ chung, cải lương (không viết hoa) hay chủ nghĩa cải lương là một học thuyết chính trị chủ trương cải cách thể chế xã hội đang tồn tại; dưới dạng động từ thì có nghĩa cải tiến, cải thiện, tiến bộ hay làm cho hoàn thiện; dưới dạng danh từ riêng, Cải lương (viết hoa) dùng để gọi tên một thể loại sân khấu ở Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ XX. Còn chính thức được gọi riêng cho một kiểu sân khấu mới, theo Giáo sư Trần Văn Khê (Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, 2004, Nhà xuất bản Trẻ) là do ghép lại từ hai chữ đầu của hai câu liễn treo trên bảng hiệu của gánh hát Tân Thinh - Sa Đéc của ông bầu Trương Văn Thông vào năm 1920, mọi người sử dụng dần dà rồi thành thông dụng: Cải cách hát ca theo tiến bộ/Lương truyền tuồng tích sánh văn minh. Như vậy, cải lương (không viết hoa) hay Cải lương (viết hoa) thì nội hàm đều là sự vận động và đổi mới (cải tiến, sáng tạo) không ngừng. Cải lương vì vậy từ bản chất và với tên gọi ban đầu của nó đã cho thấy luôn phải vận động để phù hợp với thời đại mà nó đang tồn tại.

2. Thử đi tìm giải pháp

Trên quan điểm đó, thiết nghĩ Long An trong bảo tồn và phát huy di sản cải lương là không thể theo kiểu bao cấp lâu dài vì địa phương còn nhiều khó khăn, cũng không thể bảo tồn và phát huy theo kiểu tự hào quá khứ, đề cao danh hiệu, mà không có kế hoạch chăm lo phát triển theo đà phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, chỉ có thể bảo tồn trên cơ sở phát huy.

Trước tình hình trên, Long An có hai hướng để giải quyết. Một, là về những vấn đề cần thiết trước mắt để duy trì và ổn định hoạt động cải lương chuyên nghiệp nhằm kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh nhà. Hai, là về lâu dài, từng bước giải quyết có định hướng phát triển nghệ thuật truyền thống này đi đôi với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, an ninh quốc phòng… nhằm đáp ứng nhu cầu nghệ thuật truyền thống tỉnh nhà hòa nhập với thời đại chung với yêu cầu phát triển các lĩnh vực của toàn tỉnh.

Từ định hướng đó, thiết nghĩ giải pháp bảo tồn và phát triển cần chú ý đến các vấn đề sau:

Một, nâng cao năng lực thưởng thức trong công chúng. Theo đó, các ngành truyền thông tỉnh Long An cần có chương trình phổ cập kiến thức âm nhạc tài tử, cải lương cho công chúng qua hình thức báo, đài với chương trình định kỳ để công chúng cơ hội nắm bắt, tiếp cận loại hình nghệ thuật truyền thống này. Tổ chức hội, chi hội sân khấu, trung tâm văn hóa, các câu lạc bộ… ngoài hoạt động chuyên môn nên dành thời gian và điều kiện cho hoạt động phổ cập kiến thức này thông qua tạp chí chuyên ngành, trang thông tin… Việc nâng cao năng lực thưởng thức nghệ thuật cải lương sẽ tác động tích cực đến các giải pháp khác như hỗ trợ bồi dưỡng nhân lực; duy trì và tăng cường hoạt động hội diễn/hội thi; góp phần hỗ trợ cho các câu lạc bộ.

Hai, bồi dưỡng nhân lực, do đặc thù đào tạo diễn viên sân khấu cải lương, nên cần phải có chiến lược bồi dưỡng nhân lực từ xa và có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng chuyên nghiệp hơn. Đó là bồi dưỡng từ xa là phải tạo ra cho đối tượng sự ham thích bộ môn nghệ thuật này thông qua chương trình đào tạo ngoại khóa ở nhà trường phổ thông và các khóa học chuyên môn ở các câu lạc bộ địa phương; có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng có tính chuyên nghiệp là tạo cho lớp nhân lực này được vào các trường đại học sân khấu - điện ảnh và các trường đào tạo sân khấu, âm nhạc cổ truyền bậc đại học, cao đẳng, để sau này trở thành lực lượng chuyên nghiệp.

Ba, duy trì và tăng cường hoạt động tổ chức, tham gia hội thi, hội diễn, cần nên duy trì các hoạt động bằng nguồn ngân sách đã được hỗ trợ; mặt khác, vận động thêm các doanh nghiệp, công ty giúp kinh phí tăng cường tổ chức/tham gia hội thi/hội diễn của doanh nghiệp vừa để tạo phong trào, vừa để tăng thêm kinh phí hoạt động, nâng cao năng lực chuyên môn.

Bốn, thực hiện mô hình biểu diễn, cần vận động xã hội tạo điều kiện cho những mô hình ban hát hoạt động thường xuyên trong các dịp gia đình cần có âm nhạc để giúp vui hoặc chia buồn trong những đám tiệc, sinh nhật, cưới hỏi, hoặc tang gia, giỗ chạp ở địa phương. Sự tương tác này chắc chắn sẽ giúp gia chủ thỏa mãn nhu cầu âm nhạc; đồng thời hỗ trợ cho hoạt động cải lương có thêm kinh phí hoạt động nâng cao năng lực biểu diễn, bởi niềm đam mê nghệ thuật trong công chúng còn rất cao. Vấn đề là làm cách nào cho phù hợp với tình hình mới.

Thay lời kết

Xin gửi lời tri ân đến các thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ qua từng bước thăng trầm lịch sử của đất nước nói chung, nghệ thuật nước nhà nói riêng, đã suốt đời "tằm trả nợ dâu", hoạt động và cống hiến nghệ thuật không mệt mỏi để nhạc tài tử và cải lương góp phần làm nên "cốt cách Nam Bộ", trở thành một loại hình nghệ thuật dân tộc đặc trưng đất phương Nam, làm phong phú và đồ sộ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là làm sao để di sản tinh thần ấy tiếp tục trường tồn và phát huy, tiếp tục đóng góp vào quá trình hội nhập và phát triển của đất nước./.

 Nguyễn Tấn Quốc

(Hết)

12/09/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI KỂ CHUYỆN THEO SÁCH NĂM 2020 CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI KỂ CHUYỆN THEO SÁCH NĂM 2020

Với hình thức sân khấu hóa, Hội thi kể chuyện theo sách năm 2020 do Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Đước phối hợp cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức thu hút sự tham gia của các em học sinh, tạo sự lan tỏa hơn trong phong trào đọc sách ở các trường.

1.2 Tiet muc thi ke chuyen theo sach tai truong THCS My Le.JPG

Hội thi được tổ chức từ ngày 23 - 31/10/2020 tại 5 điểm trường trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện gồm Trường THCS Tân Lân, THCS Tân Chánh, THCS Phước Đông, THCS Mỹ Lệ và THCS Long Hòa, với 43 thí sinh tham gia dự thi được chọn từ các phần thi kể chuyện tiêu biểu ở các khối lớp. Thấy được tầm quan trọng của việc đọc sách đối với học sinh nên Ban Giám hiệu các trường có sự quan tâm, đầu tư cho hội thi, nhất là từng lớp học khối THCS đều có thí sinh tham gia dự thi và có sự đầu tư cho các tiết mục khá công phu. Với chất giọng ngọt ngào cùng phần sân khấu hóa sinh động, các em đã tái hiện những câu chuyện về tình yêu quê hương, đất nước, về Bác Hồ, anh hùng liệt sĩ, tình cảm gia đình, lòng yêu thương bao la của cha mẹ và phê phán những thói hư tật xấu, lòng tham của con người, ca ngợi tinh thần hiếu học, vượt khó vươn lên.

Đây là năm thứ 3 liên tiếp kể từ năm 2018, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện phối hợp với phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi kể chuyện theo sách ở tất cả các trường THCS. Kết quả hội thi cho thấy từng trường, từng thí sinh tham gia dự thi đều có sự tập trung và chăm chút cho phần thi của mình. Thông qua hội thi đã khuyến khích các em học sinh thêm yêu thích đọc sách, sưu tầm và kể những câu chuyện đã đọc, đã học, làm phong phú thêm vốn từ cho các em, giúp các em rèn luyện kĩ năng làm chủ bản thân, mạnh dạn, tự tin hơn trong các hoạt động phong trào./.

Cẩm Tú – Hồng Phong

04/11/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Đón nhận bằng công nhận Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (17 tháng Chạp Âm lịch)Đón nhận bằng công nhận Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (17 tháng Chạp Âm lịch)
CHẤT KẾT DÍNH KHỐI CỘNG ĐỒNG
Mang ý nghĩa dâng lễ vật cầu thần vào đầu năm với ước vọng "quốc thới dân an", "phong điều vũ thuận"…, lễ Kỳ Yên đình thần Tân Phước Tây năm nay có lẽ tươi vui và ý nghĩa hơn khi đúng vào dịp đại lễ 3 năm đáo lệ và đặc biệt là trong không khí đón nhận bằng công  nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

a1.JPG
Đình Tân Phước Tây trong những ngày chuẩn bị lễ hội
a2.JPG
Rước bằng chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
từ UBND xã Tân Phước Tây về Đình

    "Mỗi thôn xã đều làm một cái đình. Kỳ tế thì chọn ngày tốt trước. Khi đến ngày, lúc mặt trời xế chiều thì người lớn, kẻ nhỏ đều tụ họp, ngủ lại ở đình suốt đêm, gọi là Túc Yết. Sáng sớm ngày hôm sau, mặc áo mũ, đánh chiêng trống, làm lễ chính tế, ngày hôm sau nữa thì tế dịch gọi là Đại đoàn, lễ xong rồi về. Ngày giờ để tế, tùy theo tục từng làng, phần nhiều không giống nhau, hoặc tế vào tháng Giêng lấy nghĩa mùa xuân cầu phúc, hoặc tế vào tháng 8, tháng 9 lấy nghĩa là mùa thu báo ơn thần, hoặc tế vào ba tháng mùa đông lấy nghĩa cả năm thành công. Tế chủng (tế mùa đông), tế chạp đều gọi là tế Kỳ Yên. Ngoài những đồ tế ra, có mổ trâu bò, hát xướng hay không đều theo tục lệ từng làng. Khi làm lễ, thứ tự, nghi tiết đều nhường cho chức dịch trong làng đứng đầu. Gián hoặc làng nào có học thức, thì theo lễ "Hương ẩm tửu" (lễ uống ruợu trong hương thôn-theo kinh Lễ) mà làm, lại giảng quốc luật, đọc hương ước, thế là làng có phong tục tốt…".

Ghi nhận của Trịnh Hoài Đức trong sách Gia Định thành thông chí (khoảng năm 1820) cho thấy tính chất tế bào xã hội của thiết văn hóa đình làng với lễ hội Kỳ Yên của làng xã Nam Bộ truyền thống.

Hình 3.JPG
Đưa bằng chứng nhận di sản vào khu vực sân lễ
Hình 4.JPG
Quang cảnh buổi lễ đón nhận bằng chứng nhận di sản

Lễ Kỳ Yên tức lễ Cầu an - lễ tế thần Thành Hoàng lớn nhất trong năm của cộng đồng cư dân Nam Bộ tại ngôi đình thần của làng, có nguồn gốc trong thờ lễ thần của người Việt để cầu an cư lạc nghiệp, bình yên mạnh khỏe, ăn nên làm ra. Ở miền Bắc xưa kia xuân qua hè nóng bức, thường có dịch bệnh gây bất an cho xóm làng nên người ta làm lễ Cầu an, hay còn gọi lễ tống ôn (dịch) ở đình miếu, lễ cầu mát với lễ vật cháo lá đa (cháo bồ hèo) và nghi thức rải gạo muối thí thực để tống tiễn ôn dịch. Ông cha ta vào Nam khẩn hoang lập làng trong điều kiện khó khăn, gian khổ, y học chưa phát triển, phong thổ mới, hiểm nguy, bệnh tật luôn rình rập, sẵn sàng lấy đi mạng sống nên nhu cầu cộng đồng lại với nhau để cầu an, gởi gắm những khát khao về cuộc sống tốt đẹp hơn trở thành nhu cầu bức thiết. Lễ Kỳ Yên ở đình Tân Phước Tây ra đời như vậy, do 3 năm đáo lệ với đầy đủ nghi thức, ngoài 3 lễ chính là Túc yết, Đàn (đoàn) cảTiền hiền, Hậu hiền, còn đan xen Nghi tụng kinh cầu an, Nghi lễ rước tổ hát bội, Nghi thỉnh sắc và hồi sắc, Lễ xây chầu đại bội, Lễ tôn vương (tôn soái), Lễ hồi chầu, Lễ đưa khách, Lễ cúng miễu, nên gọi là Đại lễ Kỳ Yên.

Hình 5.JPG
Ông Phạm Văn Trấn (đứng thứ nhất bên phải sang), TUV, Giám đốc Sở VH, TT và DL
trao bằng chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể
đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây cho Ban Hội đình
Hình 6.JPG
Ông Phạm Văn Trấn TUV, Giám đốc Sở VH, TT và DL phát biểu nội dung, ý nghĩa lễ hội
và công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đại lễ Kỳ Yên ở địa phương

Từ thị trấn Tân Trụ thong dong về Tân Phước Tây yên bình bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông thơ mộng, đình Tân Phước Tây hiện ra giữa mênh mông màu xanh của những cánh đồng lúa trong dáng vẻ cổ kính với cổng tam quan, kiểu nhà tứ trụ cùng các công trình phối tự truyền thống như Tiên sư miếu, Ngũ Hành miếu, bàn thờ Thần Nông, bàn thờ Sơn Quân, Miễu Điền…, thấp thoáng dưới những tàn cổ thụ như ôm vào lòng mái nhà chung của cộng đồng. Đình làng được sắc phong vào ngày 29 tháng 11 Tự Đức năm thứ năm (8-1-1853).

Những ngày cận lễ, bà con háo hức chuẩn bị hoa quả, xôi, thịt, trà, rượu, bánh trái… và đặc biệt là heo, bò, dê để làm lễ vật tế thần. Lệ xưa phải chọn heo sắc lông đen tuyền do quan niệm màu trắng là màu tang chế, có đốm hoặc màu khác là không thuần khiết, nhưng nay chế giảm bằng heo trắng tuyền sắc khỏe mạnh, khoảng 70-80kg, trên lưng có cắm một cây dao phay ngụ ý để Thần dùng xẻ thịt. Đối tượng cử lễ ngoài Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh còn có Tiền hiền, Hậu hiền, Tả ban, Hữu ban, Tiên sư, Ngũ Hành Nương Nương, Thần Nông, Sơn Quân, Nữ Oa, Thổ chủ…

Hình 7.JPG
Đại diện Hội đình, ông Võ Hữu Tài phát biểu cảm tưởng trong buổi lễ đón nhận bằng di sản
Hình 8.JPG
An vị bằng chứng nhận di sản trong đình

Theo diễn trình, 9 giờ sáng ngày 15 tháng Chạp, chánh tế, bồi tế và chấp sự làm Lễ khai môn thượng kỳ, là nghi lễ mở cửa chính của đình và treo cờ  ngũ sắc, cờ Tổ quốc ngụ ý thông báo làng xã thời điểm chính thức mở ra lễ hội. 11 giờ, tất cả các vị trong trang phục áo dài, khăn đóng làm Lễ mộc dục tắm rửa thần vị, phơi sắc thần, y quan, mão, hia của Thần Thành Hoàng, dâng hương, dâng rượu, dâng trà trong không khí kính cẩn, trang nghiêm của lễ nhạc, trống chiêng, sau đó là nghi thức "nghinh sắc". 20 giờ, nghi tụng kinh cầu an diễn ra ở tiền sảnh đình để cầu an cho dân chúng. Sang ngày 16, lễ Tiền hiền, Hậu hiềnTiền vãng, Hậu vãng để tế các vị tiền nhân có công lập làng, lập đình và anh hùng liệt sĩ vào lúc 15 giờ. Lễ Tỉnh sanh giết lợn sống tế thần vào lúc 20 giờ. Lễ ế mao huyết ngay sau đó ở bàn thờ Thần Nông có ý nghĩa nhằm phục hồi sinh khí, cầu mong cho cây lành trái ngọt, ruộng vườn tốt tươi. Lễ Đàn cả (lễ Chánh) để tế thần là lễ quan trọng nhất diễn ra vào thời điểm thanh tịnh lúc 24 giờ. Ngày 17 diễn ra các nghi lễ Tế hậu sở và thập loại cô hồn vào lúc 19 giờ. Từ 21 giờ diễn ra lễ xây chầu, đại bội, hát tuồng. Trước khi chấm dứt chương trình hát bội và bế môn hạ kỳ kết thúc lễ hội, các diễn viên làm lễ tôn soái tề tựu trước bàn thờ Thần để thắp hương làm lễ yết kiến và chào thần. Trong suốt 3 ngày, bà con và khách thập phương nhộn nhịp với các hoạt động niệm hương, cầu an, sinh hoạt cộng đồng.

Hình 9.JPG
Nhân dân chiêm bái linh thần
Hình 10.JPG
Nhân dân đi lễ hội Kỳ Yên đình Tân Phước Tây

Với nghi thức cúng tế đặc trưng của lễ hội đình làng Nam Bộ, đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây là nơi bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống, cân bằng đời sống tâm linh, giáo dục ý thức hướng về cội nguồn với tâm thức "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của chính mình và cộng đồng qua việc tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo, tái hiện và cùng hưởng thụ, bảo tồn và trao truyền văn hóa, liên kết cộng đồng, góp phần hình thành nét văn hóa làng xã Nam Bộ.

Văn hóa người Việt là văn hóa làng xã - thành tố cơ bản cấu tạo nên xã hội Việt Nam mà ở đó ngôi đình là ngôi nhà chung với cái hồn của nó là lễ hội cổ truyền - chất kết dính khối cộng đồng. Yếu tố thiêng liêng của lễ hội vừa làm phong phú đời sống tinh thần vừa có sức cộng cảm, củng cố tình đoàn kết thôn xóm, tình yêu quê hương, đất nước. Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia sẽ góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của di sản chính mình đang nắm giữ, để cùng sáng tạo, cùng gìn giữ và cùng thụ hưởng. Bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPVT lễ hội Kỳ Yên đình Tân Phước Tây chính là bảo tồn và phát huy sức mạnh nội sinh của cộng đồng địa phương để khẳng định mình trong thời kỳ hội nhập./.

         Bài, ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

10/03/2015 12:00 CHĐã ban hànhApproved
KHU LƯU NIỆM TRUYỀN THỐNG TIỂU ĐOÀN 261 - GIRON, NƠI THẮM ĐƯỢM TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CUBA KHU LƯU NIỆM TRUYỀN THỐNG TIỂU ĐOÀN 261 - GIRON, NƠI THẮM ĐƯỢM TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CUBA

Ngày 16/6/2020, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định số 2008/QĐ-UBND xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron, xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

25-8-2020 Bằng xếp hạng di tích “Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron”.jpg

Bằng xếp hạng di tích Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron

Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron là nơi minh chứng cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã thực hiện ở Việt Nam. Đây cũng là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của quân và dân Thạnh Hóa nói riêng, tỉnh Long An nói chung, xứng đáng với danh hiệu tám chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" mà Long An đã được phong tặng. Đặc biệt, đây còn là nơi lưu niệm mối quan hệ hữu nghị đoàn kết, gắn bó khắng khít giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như xây dựng đất nước và cho đến hôm nay.

Ngược dòng lịch sử, sau chiến thắng Đồng Khởi năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời đã phản ánh thắng lợi của phong trào. Quân giải phóng chính thức là bộ phận trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường. Quân khu 8 lúc đó gồm 7 tỉnh: Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang cũng tiến hành thành lập các đơn vị chủ lực của mình nhằm đáp ứng kịp thời với tình hình mới. Liền sau đó, vào ngày 02/01/1961 tại khu vực Trấp Tre, Kiến Tường (nay thuộc xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa), đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân khu 8 đã được thành lập, đó là Tiểu đoàn 261.

Tiểu đoàn 261 ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và toàn Đảng bộ khu 8, cho thấy được ý chí quyết tâm làm chủ tình hình, xây dựng lực lượng vững mạnh, cùng các tỉnh trong quân khu và toàn miền Nam tiến hành chống "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - Diệm. Biên chế ban đầu của tiểu đoàn gồm hai đại đội (I, II) và một trung đội trợ chiến là bộ đội địa phương và du kích của các tỉnh thuộc Quân khu 8. Quân số ban đầu của tiểu đoàn chỉ khoảng 300 đồng chí, theo biên chế thì còn thiếu nhiều nhưng tinh thần chiến đấu và khí thế rất mạnh mẽ.

Với khẩu hiệu "Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm", Tiểu đoàn 261 đã cùng với bộ đội địa phương tham gia nhiều trận đánh ở các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre và Đồng Tháp, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần cùng khu 8 và cả nước giành thắng lợi hoàn toàn. Trong đó, tiêu biểu là chiến thắng lịch sử Ấp Bắc vào ngày 02/01/1963, không những gây tiếng vang trong nước mà còn chấn động cả thế giới. Trận Ấp Bắc bước đầu báo hiệu "chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, phượng hoàng bay, phượng hoàng vồ mồi…" của Mỹ - Nguỵ bị phá sản sau một năm tung hoành trên bầu trời của khu 8 nói chung và Nam Bộ nói riêng. Chiến thắng Ấp Bắc đã mở ra một trang mới, một hướng đi mới cho lực lượng vũ trang trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta. Sau trận Ấp Bắc, tháng 4/1963, Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát động phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" trên toàn miền Nam.

25-8-2020 Bia lưu niệm tại khu di tích.jpg

Bia lưu niệm tại khu di tích với khẩu hiệu"Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm"
của Tiểu đoàn 261 - Giron

Trước đó, vào ngày 19/4/1961, tại bãi biển Giron của nước Cuba, quân và dân Cuba đã đánh tan cuộc đổ bộ của hơn một ngàn tên giặc Mỹ xâm lược. Để tỏ lòng đoàn kết với nhân dân Việt Nam và khâm phục tài nghệ của Tiểu đoàn 261 đã đánh thắng chiến thuật "trực thăng vận, thiết xa vận" của Mỹ - Ngụy trong trận Ấp Bắc, vào ngày 02/01/1964, Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba do Chủ tịch Nhà nước Cuba – Fidel Castro gởi tặng tiểu đoàn lá cờ có dòng chữ "Giron" và khẩu súng ngắn Col 12 ly mà quân đội Cuba đã lấy được trên bãi biển Giron ngày đánh tan quân xâm lược Mỹ; đồng thời, lấy tên Ấp Bắc đặt cho một địa phương và cho xây dựng Tượng đài Chiến thắng Ấp Bắc ngay trên đất nước Cuba. Bởi vì, Cuba xem chiến thắng Ấp Bắc có giá trị và tầm quan trọng như chiến thắng Giron của nhân dân Cuba. Kể từ đó, Tiểu đoàn 261 chính thức có tên Tiểu đoàn 261 - Giron, tên gọi thắm tình hữu nghị Việt Nam - Cuba, trở thành biểu tượng chiến thắng của cả hai dân tộc trước kẻ thù chung. Hai hiện vật này đã từng được trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng vũ trang Quân khu 9. Sau khi vinh dự được mang tên mới, Tiểu đoàn 261 - Giron đã ghi vào lịch sử chống Mỹ trên vùng đất khu 8 xưa rất nhiều chiến công huy hoàng, lừng lẫy. Đó cũng là lý do tại sao Tiểu đoàn 261 - Giron đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều quân công, chiến công các hạng: Quân công hạng 3, Huân chương Chiến công và đặc biệt là ba lần được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

25-8-2020 Bà Indira Lopez Arguelles.jpg

Bà Indira Lopez Arguelles - đại diện Tổng Lãnh sự Cuba tại Thành phố Hồ Chí Minh
 phát biểu trong Lễ công bố quyết định và đón nhận bằng xếp hạng
di tích Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron

Hiện nay, được sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp, Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron đã được xây dựng xong phần thô của hạng mục nhà bia cùng một số công trình phụ và đang tiếp tục xây dựng hạng mục nhà trưng bày và các hạng mục khác nhằm làm cho nơi đây hứa hẹn là một điểm đến hấp dẫn, một địa chỉ đỏ của tỉnh trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, khu lưu niệm còn là nơi thắt chặt quan hệ ngoại giao, tình đoàn kết, gắn bó của hai nước Việt Nam - Cuba./.

Hồng Nhung

28/08/2020 2:00 CHĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ XÓM TRẦU DI TÍCH LỊCH SỬ XÓM TRẦU

Xóm Trầu là một địa danh nổi tiếng từ lâu đời, đã in sâu vào trong tâm trí của nhân dân xã Thạnh Đức nói riêng cũng như huyện Bến Lức nói chung. Nó được khắc ghi trong lòng người dân không chỉ bởi xưa kia nơi đây là khu vực chuyên tập trung buôn bán trầu của làng Bình Tự (nay thuộc ấp 4, xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức) mà trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc, Xóm Trầu còn là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử trọng đại, nơi che chở, đùm bọc cho các cán bộ chiến sĩ, bộ đội ta trước sự càn quét, lùng sục, bắt bớ ráo riết của địch. Do đó, Xóm Trầu đã được UBND tỉnh Long An xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định số 1177/QĐ-UBND vào ngày 08/02/2021.

Bang xep hang di tich lich su Xom Trau.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Xóm Trầu

Di tích lịch sử Xóm Trầu hiện tọa lạc tại ấp 4, xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Là vùng đất có truyền thống đấu tranh cách mạng từ lâu đời, nhân dân xã Thạnh Đức sớm đã hun đúc cho mình một ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất với kẻ thù, họ nguyện "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" chứ nhất quyết không chịu làm nô lệ cho bè lũ cướp nước và bán nước. Do đó, trước sự bóc lột, đàn áp dã man của bọn thực dân Pháp, nhiều đảng viên bị chúng bắt đi đày, nhiều chiến sĩ cách mạng phải rời bỏ quê hương đi đến các vùng căn cứ kháng chiến, Đảng ủy xã Bình Đức (nay thuộc xã Thạnh Đức) đã chủ trương đào hầm bí mật để bám địa bàn hoạt động. Hầm bí mật trong khuôn viên chùa Đức Hòa, ấp Xóm Trầu (nay là chùa Gia Phước, ấp 4, xã Thạnh Đức) là một trong những căn hầm bí mật được ra đời trong hoàn cảnh ấy. Lúc bấy giờ, căn hầm bí mật này chỉ cách đồn địch khoảng 300m nên chúng hoàn toàn lơ là, không cảnh giác. Chính vì vậy, tuy nằm trong vùng tạm chiếm nhưng căn hầm bí mật này đã giúp cho các đồng chí lãnh đạo phong trào cách mạng tại địa phương hoạt động rất hiệu quả, tránh được nhiều cuộc khủng bố của địch, củng cố các cơ sở cách mạng tại địa phương, chờ đợi thời cơ để tiến công giành thắng lợi. Căn hầm này đã được cán bộ, chiến sĩ cách mạng sử dụng liên tục cho đến ngày đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược ra khỏi bờ cõi.

Phía sau Miếu Ngũ Hành là hầm bí mật - nơi ẩn náu của chiến sĩ cách mạng.jpg

Phía sau Miếu Ngũ Hành là hầm bí mật - nơi ẩn náu của chiến sĩ cách mạng

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, xã Thạnh Đức trong đó có Xóm Trầu là một địa bàn quan trọng có tính chiến lược của cả ta và địch. Nằm ở vùng hạ phía Tây cửa ngõ Sài Gòn và cạnh Quốc lộ 4 (nay là Quốc lộ 1A) nên hầu hết các căn cứ lớn của địch đều tập trung gần đây và được canh gác ngày đêm cẩn mật. Do đó, Thạnh Đức đã trở thành một vùng tranh chấp quyết liệt của ta và địch. Đứng trước những thủ đoạn, âm mưu  tàn độc của kẻ thù, nhân dân Thạnh Đức với trái tim rực lửa và lòng căm thù giặc sâu sắc, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã ra sức chiến đấu phá hủy các tổ chức kìm kẹp của kẻ thù, tiêu diệt ác ôn, tiêu diệt gián điệp,… giành quyền làm chủ ở địa phương. Ngày 30/12/1960, để chào mừng sự kiện ra mắt của Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, lực lượng du kích Thạnh Đức đã tổ chức treo cờ Mặt trận trên ngọn cây sao cổ thụ ở chùa Đức Hòa (di tích lịch sử Xóm Trầu). Đây là sự kiện gây chấn động, cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân trong công cuộc đuổi Mỹ, diệt Ngụy của dân tộc. Mặt khác, việc treo cờ Mặt trận làm cho địch rất lo sợ, chúng điên cuồng bắn phá, khủng bố địa bàn nhằm biến nơi đây thành vùng trắng để dễ bề kiểm soát. Tuy nhiên, các cán bộ, chiến sĩ ta đã kiên cường bám trụ, sử dụng khu vực Xóm Trầu cất giấu vũ khí từ chiến khu Ba Thu để vận chuyển xuống vùng hạ của tỉnh. Tại đây đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt của ta và địch, đáng kể nhất là trận chiến ngày 01/6/1969 khi địch phát hiện ra nơi cất giấu vũ khí và các đồng chí cách mạng đã chống trả quyết  liệt. Trong trận này, ta đã tiêu diệt và làm bị thương 47 tên lính Mỹ, thu nhiều chiến lợi phẩm.

Từ giữa năm 1969, do kẻ thù đánh phá ác liệt nên lực lượng cách mạng gặp rất nhiều khó khăn, nhiều chiến sĩ đã phải anh dũng hy sinh để giữ vững địa bàn hoạt động, trong đó có đồng chí Bí thư xã Thạnh Đức Nguyễn Thị Cúc (Ba Cúc). Đồng chí Ba Cúc là một chiến sĩ hoạt động cách mạng rất tích cực, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp đến giai đoạn chống đế quốc Mỹ. Ngày 15/10/1969, Đảng ủy xã đang họp tại khu vực Xóm Trầu thì bất ngờ bị địch tấn công, đồng chí Ba Cúc do đang bị thương nên đã bị địch bắt. Bọn chúng đưa chị về chùa Đức Hòa, tra tấn dã man hòng khai thác thông tin những đồng chí khác, nhưng chị đã cương quyết không khai một lời. Một lúc sau, lợi dụng sơ hở của địch, đồng chí giả vờ xin đi tiểu. Khi được mở trói, đồng chí Ba Cúc liền đá mấy đá vào tên Trung úy ngụy và hô to: "Đả đảo đế quốc Mỹ", "Hồ Chí Minh muôn năm". Bọn địch bắn chết đồng chí ngay tại chùa Đức Hòa. Tấm gương hy sinh anh dũng của đồng chí Nguyễn Thị Cúc đã nêu cao khí tiết của người Đảng viên Cộng sản, một lòng bảo vệ đồng chí, bảo vệ  Đảng và phong trào cách mạng, tấm gương ấy là minh chứng cho tinh thần sẵn sàng chiến đấu, vì nước quên thân của những người con ở Thạnh Đức nói riêng, cũng như các chiến sĩ cộng sản nói chung trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Ngoài ra, Xóm Trầu còn là địa điểm chọn lựa của Ban Cán sự Đảng liên xã Bình Đức - Nhị Bình - Bình Thành làm nơi đảm bảo cho việc bám trụ địa bàn để hoạt động cách mạng. Căn hầm bí mật tại di tích đã chứng kiến nhiều cuộc hội họp của Ban Cán sự Đảng quận Thủ Thừa, nơi cất giấu các tài liệu mật của ta và là nơi trú ẩn thường xuyên của hai đồng chí Phạm Thanh Phong – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Long An, lúc bấy giờ là Bí thư Ban Cán sự Đảng liên xã và đồng chí Nguyễn Văn Bi – Cán sự viên Ban Cán sự Đảng liên xã, Bí thư xã Bình Đức.

Căn hầm bí mật nằm trong khuôn viên chùa Gia Phước.jpg

Căn hầm bí mật nằm trong khuôn viên chùa Gia Phước

Trong quá trình bám trụ địa bàn, không chỉ nhờ những căn hầm bí mật che chở các cán bộ lãnh đạo, các chiến sĩ cách mạng vượt qua được nhiều trận chiến cam go với kẻ thù mà phải kể đến "căn cứ lòng dân" ở xã Thạnh Đức đã bao che, trên dưới một lòng cùng chiến sĩ ta vượt qua hết cửa ải khó khăn này đến cửa ải khó khăn khác, trở thành bức thành đồng vững chắc không kẻ thù nào có thể xâm lấn được. Bởi không có căn cứ nào bao la rộng lớn và an toàn như lòng dân. Đây là một căn cứ xuất phát từ lòng yêu nước, từ sự đoàn kết, chung sức đồng lòng đánh đuổi kẻ thù xâm lăng. Trong suốt những năm trường kỳ kháng chiến, dưới sự càn quét gắt gao của kẻ thù, nếu không có lòng dân nuôi dấu thì cũng sẽ không có căn hầm nào đủ sâu, địa đạo nào đủ dài, căn cứ nào đủ bí mật để che chở cho các chiến sĩ ta đi hết con đường cách mạng. Tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng của nhân dân Thạnh Đức đã tiếp thêm sức mạnh cho các đồng chí lãnh đạo, chiến đấu vượt qua muôn ngàn khó khăn, hiểm trở, kiên cường kháng chiến, liên tiếp giành được chiến công, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Tuy chiến tranh đã đi qua nhưng chúng ta những thế hệ tiếp bước cần phải nối tiếp lòng yêu nước nồng nàn của cha ông nhằm nhân lên sức mạnh của cộng đồng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di tích lịch sử Xóm Trầu là một trong những địa chỉ đỏ phát huy tốt giá trị văn hóa, dẫn mạch truyền thống ấy phát triển mạnh mẽ không chỉ từ ngàn xưa mà cho đến ngày sau./.

Hồng Nhung


05/04/2021 2:00 CHĐã ban hànhApproved
CHÙA ÔNG - NGÔI CỔ MIẾU TIÊU BIỂU CHO QUÁ TRÌNH  KHAI HOANG, MỞ CÕI CHÙA ÔNG - NGÔI CỔ MIẾU TIÊU BIỂU CHO QUÁ TRÌNH  KHAI HOANG, MỞ CÕI

Di tích lịch sử - văn hóa là "bằng chứng sống" gắn liền với quá trình hình thành và phát triển lịch sử của địa phương. Chùa Ông tọa lạc tại thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là một trong những bằng chứng ấy. Nơi đây còn lưu giữ được những giá trị vật chất, tinh thần, tinh hoa văn hóa của ông cha ta để lại. Tuy có tuổi đời hơn trăm năm nhưng ngôi chùa vẫn giữ được nét đặc trưng của quá trình khai hoang, mở đất, lập làng và trở thành cơ sở tín ngưỡng cho người dân làng Tân Trụ qua bao đời nay.

Trong chùa vị thần được thờ chính là Quan Thánh Đế Quân nên ngôi thờ còn có tên là Đền Quan Thánh Đế Quân. Thế nhưng trong dân gian từ xưa đến nay thường gọi tên thân thuộc là Chùa Ông.

15-3-2021 Bàn thờ Quan Thánh Đế Quân.jpg

Bàn thờ Quan Thánh Đế Quân

Chùa Ông được xây dựng trên mảnh đất có diện tích 220m2, là một cụm gồm 3 ngôi: võ ca, tiền điện và chính điện, được xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ mang nét đặc trưng của đình làng vùng đất Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Theo thông tin từ các dòng lạc khoản, Chùa Ông có niên đại vào năm Tân Tỵ (1881). Lúc đầu, ngôi chùa được xây dựng bằng những vật liệu đơn sơ vách gỗ, mái lá. Dần về sau, khi ổn định được cuộc sống nơi vùng đất mới, người dân ở làng Tân Trụ xưa đã góp công của để trùng tu ngôi chùa nhiều lần. Đến nay, ngôi chùa đã được thay thế bằng mái lợp ngói âm dương, vách được dựng bằng chất liệu bê tông chắc chắn nhưng nó vẫn giữ được nét uy nghiêm, cổ kính của một nơi thờ tự tín ngưỡng linh thiêng. Trên mái được trang trí hai tượng rồng cùng một trái châu bằng xi măng mềm mại uyển chuyển. Theo truyền thống văn hoá tâm linh người Việt, rồng tượng trưng cho sự cao quý, sức mạnh, quyền uy tối thượng, là con vật đứng đầu trong Tứ Linh. Việc trang trí hình ảnh "lưỡng long tranh châu" trên mái chùa thể hiện được vẻ đẹp tôn nghiêm mà trang trọng, bởi hình tượng con rồng thường gắn với hình ảnh Thần trong tín ngưỡng tâm linh của người Việt qua bao đời nay.

Phía trước chùa là khoảng sân rộng 100m2. Từ sân bước vào là cánh cửa, trên có bảng tự "Đền thờ Ông Quan Thánh". Vừa vào cửa là võ ca có diện tích khoảng 80m2, ngôi võ ca này sau ngày giải phóng được trưng dụng làm hợp tác xã mua bán, đến năm 1992 được sửa chữa lại nhưng vẫn giữ lối kiến trúc Tứ trụ như cũ. Võ ca được thiết kế theo kết cấu một trệt hai mái, chính giữa mái lớn là một cổ lầu được lợp ngói vảy cá, bốn góc vòm được uốn lượn theo đường cong hướng lên, trên có gắn hình tượng bốn con rồng uy nghiêm. Nằm nối liền với võ ca là ngôi tiền điện, tiếp theo ngôi tiền điện là chính điện. Chính điện của Chùa Ông giống như bao ngôi đình làng khác ở Nam Bộ là được xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ, gồm bốn cột cái tròn được nối với nhau bởi những cây xuyên bằng gỗ.

15-3-2021 Thờ tự và bày trí trong Chùa Ông.jpg

Thờ tự và bày trí trong Chùa Ông

Cấu trúc bài trí thờ tự trong chính điện như sau: giữa là hương án có đặt khánh thờ bằng gỗ cụm ba tượng Quan Thánh Đế Quân, hai bên thờ Tả Ban và Hữu Ban, là những vị có nhiệm vụ túc trực để bảo vệ Linh thần, bởi đây là hai quân hiệu do vua Trần Duệ Tông (1373 – 1377) đặt ra vào năm Long Khánh thứ hai (1374). Kế bên hương án thờ Tả Ban là hương án thờ Chủ Thị (chợ) ông Trần Quang Tập như là một vị "Tiền hiền chủ thị" do ông là người đã đóng góp công sức, tiền của vào việc thành lập và phát triển chợ Quản Tập của làng Tân Trụ xưa (nay là chợ Tân Trụ thuộc thị trấn Tân Trụ) theo đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc ta. Bên cạnh là bàn thờ những vị đã có công trong việc tu bổ, sửa chữa ngôi chùa. Kế bên hương án thờ Hữu Ban là hương án thờ Tiên Sư.

15-3-2021 Bức hoành “Thiên cổ nhất nhân”.jpg

Bức hoành "Thiên cổ nhất nhân"

Ngoài những lối kiến trúc, cách bày trí thờ tự còn được lưu giữ cho đến ngày nay thì Chùa Ông còn một hệ thống hiện vật, hoành phi, câu đối, tượng thờ… có giá trị cả về mặt lịch sử lẫn nghệ thuật.

15-3-2021 Chuông đồng có niên đại 1881.jpg

Chuông đồng có niên đại 1881

Hàng năm, người dân Tân Trụ có lệ vía Ông vào các ngày 13 tháng Giêng và 13 tháng 5 (Vía chính) đã thu hút đông đảo nhân dân trong vùng, những vùng lân cận và khách thập phương xa gần tề tụ về thắp hương, lễ bái cho Ông và cầu nguyện. Đây không chỉ là một buổi lễ trọng thể nhằm thể hiện lòng tôn kính của hậu thế đối với bậc Thánh nhân mà đây còn là dịp để người dân có thể gặp gỡ, giao lưu, cố kết tình cảm tại vùng đất Tân Trụ này.

15-3-2021 Bằng xếp hạng di tích lịch sử Chùa Ông.jpg

Bằng xếp hạng Di tích lịch sử Chùa Ông

Chùa Ông đã gắn liền với sự thịnh vượng của vùng đất Tân Trụ này hơn một trăm năm nay bởi sức sống vô cùng mãnh liệt của nó trong cộng đồng người Hoa lẫn người Việt. Dù trải qua bao thăng trầm của thời gian, biến cố của lịch sử nhưng Chùa Ông vẫn tồn tại, vẫn hiên ngang, minh chứng cho một quá trình khai phá, vun đắp, xây dựng đầy gian lao của nhiều thế hệ con người trên vùng đất Tân Trụ ngày càng hiện đại, phồn vinh này. Bởi từ lúc hình thành, Chùa Ông đã được sự tin tưởng, gửi gắm tâm tư nguyện vọng của cộng đồng. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, có thể nói Chùa Ông là một trong những ngôi chùa hiếm hoi ở Tân Trụ còn giữ được gần như nguyên trạng cả về mặt kiến trúc lẫn tín ngưỡng đặc trưng từ lúc xây dựng cho đến nay. Sau ngày giải phóng, Chùa Ông còn là nơi được sử dụng làm hợp tác xã mua bán nhưng giá trị tinh thần của nó vẫn được cộng đồng gìn giữ, tiếp biến chưa bao giờ là ngừng nghỉ từ đời này sang đời khác. Điều này được thể hiện rõ qua sự thu hút đông đảo bà con nhân dân tín tâm đến đây tham quan, chiêm bái. Cùng với nhiều cơ sở tín ngưỡng dân gian khác, Chùa Ông đã góp phần hình thành nên một diện mạo văn hóa tâm linh của cộng đồng các dân tộc ở Tân Trụ ngày thêm phong  phú, sinh động, giàu sức sống, làm động lực cho sự phát triển văn hoá - xã hội ở nơi đây. Chùa Ông đã được UBND tỉnh Long An xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định số 5060/QĐ-UBND vào ngày 31/12/2020./.                                                        

Hồng Nhung


15/03/2021 11:00 SAĐã ban hànhApproved
XÓM NHÀ GIÀU - CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC MANG ĐẬM DẤU ẤN THỜI GIAN XÓM NHÀ GIÀU - CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC MANG ĐẬM DẤU ẤN THỜI GIAN

Xóm nhà giàu tại ấp Thanh Phú, xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An là tên thường gọi của cụm nhà cổ Thanh Phú Long - một trong số hai khu nhà cổ của tỉnh được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia; vừa có giá trị to lớn về mặt kiến trúc, nghệ thuật vừa là minh chứng một giai đoạn lịch sử, được dòng họ Nguyễn Hữu có tiếng giàu có bậc nhất ở vùng này xây dựng cách đây hơn 100 năm với lối kiến trúc mang đậm nét đặc trưng nhà ở của tầng lớp thượng lưu Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX.

17-9-2019 Một ngôi nhà trong xóm nhà giàu nằm giữa vườn thanh long.jpg

Một ngôi nhà trong xóm nhà giàu nằm giữa vườn thanh long xanh mướt
hơn 100 năm tuổi

Di tích gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rọi, ba gian hai chái với tường gạch mái ngói tráng lệ mà uy nghiêm; vừa mang nét kiến trúc truyền thống Việt Nam, vừa pha lẫn nét kiến trúc Pháp. Nhà có hình chữ "khẩu", gồm nhà trước và nhà sau, nối với nhau bằng hai nhà cầu, chính giữa là sân "thiên tỉnh". Toàn bộ rường cột, vách ngăn và các vật dụng bên trong ngôi nhà đều được làm từ các loại gỗ quý bởi một nhóm thợ giỏi nhất từ miền Trung vào.

17-9-2019 Sân “thiên tỉnh” ở giữa nhà.jpg

Sân "thiên tỉnh" ở giữa nhà

Nghệ thuật trang trí và chạm khắc trong các ngôi nhà khá phong phú và đa dạng mang đậm mô típ cổ điển như "tứ linh", "bát bửu"... xen lẫn với các đề tài miêu tả cảnh vật thiên nhiên Nam bộ như "chim ăn xoài", "sen và chim bói cá" cùng với kỹ thuật chạm khắc gỗ chắc tay, điêu luyện của các nghệ nhân trên các hoành phi, cuốn thư trong các ngôi nhà đã thể hiện được cuộc sống sung túc, giàu có của gia chủ.

Có thể nói, xóm nhà giàu đã trở thành một trong những nét đặc sắc của kiến trúc nghệ thuật độc đáo, một nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của vùng đất Châu Thành trù phú xưa, là chứng tích của biết bao sự kiện lịch sử quan trọng, nhưng do trải qua thời gian chúng không còn nguyên hiện trạng. Vừa qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An đã ra quyết định khởi công xây dựng công trình chống xuống cấp, tu bổ di tích cụm nhà cổ Thanh Phú Long. Di tích sẽ được trùng tu tôn tạo theo di tích gốc nhằm phục vụ khách tham quan cũng như hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu về kiến trúc và điêu khắc truyền thống Việt Nam./.

Hồng Nhung

18/09/2019 10:00 SAĐã ban hànhApproved
VĨNH THUẬN - BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ  DI TÍCH LỊCH SỬ GÒ ÔNG LẸT VĨNH THUẬN - BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ  DI TÍCH LỊCH SỬ GÒ ÔNG LẸT

Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Hưng có nhiều hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị Di tích lịch sử Gò Ông Lẹt. Qua đó, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

GO ONG LET 3.jpg

Gò Ông Lẹt thuộc ấp Ông Lẹt, xã Vĩnh Thuận. Nơi đây là một gò đất cao nằm về phía Tây của quận Tuyên Bình (nay là huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An), xung quanh là đồng ruộng trống. Chọn Gò Ông Lẹt làm căn cứ dã chiến, địch lấy 3 vuông nhà dân để đóng quân, dùng nhà các hộ dân và cây cối um tùm để che chắn. Đây là căn cứ liên hoàn với căn cứ Măng Đa vừa để bảo vệ quận lỵ Tuyên Bình, đào tạo gián điệp, khống chế hành lang chiến lược của ta. Chính vì vậy, hoạt động biệt kích ở Gò Ông Lẹt đã gây cho quân ta rất nhiều khó khăn.

Tháng 10/1965, Thường vụ Tỉnh ủy và Tỉnh đội Kiến Tường quyết định tấn công tiêu diệt căn cứ địch ở Gò Ông Lẹt. Sau một tháng trinh sát, trận đánh được xác định vào đêm 16, rạng sáng ngày 17/11/1965. Lực lượng tham gia trận đánh gồm: Đại đội 1 cơ động tỉnh Kiến Tường, quân số trên 300 đồng chí là đơn vị chủ công kết hợp với bộ đội địa phương là Đại đội 408 Vùng 8,… Ban Chỉ huy trận đánh ở các cánh quân gồm các đồng chí: Hồ Ngọc Dẫn, Võ Văn Vị, Trương Văn Tâm,… trong đó đồng chí Võ Văn Vị làm chính trị viên. Phương án được xác định là đánh từ hướng Bắc sau lưng địch, vì tuyến này địch không bố trí phòng thủ cố định.

Đúng 18 giờ, ngày 16/11/1965, toàn bộ lực lượng tham gia trận đấu xuất phát, dùng xuồng lướt nhẹ trong đêm, di chuyển từ hướng Đông vòng sang hướng Bắc. Ngẫu nhiên địch cũng tung ra một trung đoàn đóng ngay hướng này. Ban Chỉ huy lập tức cắt một tổ gồm 7 đồng chí trong đội dự bị kìm chân lực lượng khi ta tấn công Gò Ông Lẹt.

0 giờ 30 phút, ngày 17/11/1965, quân ta đồng loạt nổ súng. Các mũi tấn công diệt ngay các mục tiêu của địch. Lực lượng đặc công của ta thọc sâu đánh vào sở chỉ huy và truyền tin của địch, đánh chiếm các mục tiêu quy định. Bị tiến đánh bất ngờ, địch rối loạn hàng ngũ, tháo chạy về hướng Nam phía sông Vàm Cỏ Tây, bị vướng mìn. Cánh quân địch ở hướng Bắc nghe tiếng súng bao vây của ta ở Gò Ông Lẹt cũng bỏ chạy.

Kết quả trận đánh, ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 80 tên, bắt sống 10 tên, thu 51 súng các loại, 1 chiếc bo bo,… Sau trận đánh, quân dân Kiến Tường được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất.

Đây là một trong những chiến công tiêu biểu của quân dân địa phương trong 21 năm chống Mỹ, cứu nước. Đó còn là dấu son chói lọi, tô thắm thêm trang sử hào hùng của mảnh đất Long An "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc", góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhằm thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử trên địa bàn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Vĩnh Thuận có nhiều hoạt động, giải pháp thiết thực. Theo đó, công tác quản lý, bảo vệ, vệ sinh môi trường và phát huy giá trị của di tích lịch sử được thực hiện thường xuyên, liên tục. Bí thư Đoàn xã Vĩnh Thuận - Trần Văn Hiện cho biết: "Hàng tháng, Đoàn xã tổ chức các hoạt động trồng cây, vệ sinh, phát quang cây cỏ; sinh hoạt truyền thống về trận đánh lịch sử tại khu di tích. Thông qua các hoạt động này góp phần nâng cao hiểu biết, giúp mỗi đoàn viên, thanh niên, học sinh ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình để sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ cha anh đi trước. Từ đó, chung tay giữ gìn và bảo vệ cảnh quan của khu di tích".

Ông Võ Văn Cho - Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Thuận cho biết: "Những năm qua, nhằm tri ân các anh hùng liệt sĩ, gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng, lãnh đạo Đảng ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Vĩnh Thuận tổ chức nhiều hoạt động về nguồn, đền ơn đáp nghĩa,... Hàng tháng, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và các em học sinh các trường trên địa bàn xã trực tiếp phụ trách vệ sinh tại khu di tích lịch sử. Ngoài ra, phát huy sức trẻ, xung kích, đoàn kết, tình nguyện vì cộng đồng, các thế hệ trẻ chúng tôi tiếp bước lịch sử hào hùng của bậc cha, anh đi trước tiếp tục thi đua lao động, sản xuất, xây dựng quê hương Vĩnh Thuận ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với truyền thống quê hương Long An anh hùng".

Có thể nói, thực hiện tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử không chỉ là trách nhiệm của thế hệ hôm nay mà còn thể hiện sự tri ân, lòng thành kính đối với các bậc tiền nhân; qua đó góp phần giữ gìn và phát huy tốt giá trị lịch sử của dân tộc./.                                     Phòng VH và TT Vĩnh Hưng


10/03/2021 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Thị trấn Tân Hưng với hoạt động văn hóa - thông tin cơ sởThị trấn Tân Hưng với hoạt động văn hóa - thông tin cơ sở

Là đơn vị luôn dẫn đầu thi đua hoạt động văn hóa thông tin cơ sở nhiều năm liền của ngành văn hóa và thông tin huyện Tân Hưng, riêng trong năm 2016 thị trấn Tân Hưng được huyện chọn đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong hoạt động văn hóa và thông tin cơ sở.

Với thuận lợi cơ bản là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện, có 04 khu phố với 1.310 hộ, 5.764 nhân khẩu, nhân dân chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chương trình hỗ trợ cho nhân dân nâng cao đời sống như giải quyết việc làm - giảm nghèo…Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn như: Một bộ phận dân cư từ nơi khác chuyển đến phần đông không có nghề nghiệp, chủ yếu làm thuê nên việc bố trí sắp xếp và quản lý dân cư gặp không ít khó khăn, cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa phục vụ cho nhu cầu tinh thần của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, trật tự an toàn xã hội vẫn còn diễn biến phức tạp, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, đá gà, ma túy, chạy xe lạng lách đánh võng…vẫn còn xảy ra trên địa bàn. Nhưng với sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân thị trấn, trong năm 2016 hoạt động văn hóa - thông tin cơ sở đã đạt những kết quả đáng ghi nhận.

Trên lĩnh vực xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện nâng chất các tiêu chí danh hiệu được công nhận "Thị trấn văn hóa", tiếp tục phát động xây dựng "Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị", phấn đấu đạt được 25/25 tiêu chí vào năm 2018 để đề nghị Ban Chỉ đạo huyện phúc tra công nhận. Hiện tại cơ bản đã hoàn thành được 17/25 tiêu chí xây dựng thị trấn văn minh đô thị. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng và hiệu quả có nâng lên so với trước. Thị trấn có 4/4 khu phố giữ vững 10 năm liền danh hiệu khu phố văn hóa; 6 cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa (tỉ lệ 100%), có 1.188/1.243 hộ gia đình văn hóa đạt ba năm liên tục giai đoạn 2014 - 2016 (tỷ lệ 95,58%), trong đó có 80 gia đình văn hóa tiêu biểu, 17 cá nhân đạt danh hiệu "Gương người tốt việc tốt". Tổ chức tốt Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, có trên 90% hộ dân tham dự ở các khu phố.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền cổ động được quan tâm, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Hiện nay, có 05 câu lạc bộ văn nghệ ở 04 khu phố và 01 câu lạc bộ văn nghệ hát với nhau. Ngành văn hóa đã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, tạo được không khí phấn khởi, sôi nổi, có sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Qua đó, động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân tích cực lao động sản xuất, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Nhân các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước và các sự kiện chính trị của địa phương, thị trấn tổ chức nhiều cuộc biểu diễn, hội thi, giao lưu văn nghệ quần chúng như: Văn nghệ Mừng Đảng - Mừng Xuân; ngày 30/4 ; 1/5; Quốc tế Thiếu nhi, tổ chức kể chuyện về tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức văn nghệ đón tết Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng...Tham gia các cuộc hội diễn, hội thi văn hóa, văn nghệ do huyện tổ chức, cung cấp nhiều cộng tác viên tiêu biểu cho huyện tham gia các phong trào do tỉnh tổ chức, đạt nhiều thứ hạng cao. Vận động nhân dân trên địa bàn thị trấn chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước như treo cờ đầy đủ vào các dịp lễ, tết, tham gia sinh hoạt hội họp ở khu phố nhất là vào Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11.

Phong trào thể dục thể thao được phát triển mạnh mẽ, có nhiều khởi sắc,  hiện có 10 câu lạc bộ thể thao quần chúng ở các khu phố, 01 câu lạc bộ thể thao ở thị trấn. Công tác xã hội hóa luôn được quan tâm, kêu gọi đầu tư của các tập thể, cá nhân. Hiện có 03 sân cỏ nhân tạo được nhân dân tự bỏ vốn ra đầu tư, ở các khu phố đều có sân bóng đá, bóng chuyền, Nhà nước đầu tư các dụng cụ thể dục ngoài trời đặt ở Trung tâm Văn hóa – Thể thao…, từ đó thu hút nhân dân tích cực tham gia tập luyện, rèn luyện sức khỏe nhất là lực lượng thanh thiếu niên…Các câu lạc bộ thể thao thường xuyên duy trì hoạt động, tổ chức thi đấu giao hữu với nhau tạo không khí vui tươi, sôi nổi. Phong trào "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" ngày càng phát triển, theo thống kê hàng năm số người thường xuyên tham gia tập luyện đều cao hơn năm trước. Các loại hình tập luyện phong phú như: Đi bộ, chạy bộ, chạy xe đạp, tập thể dục dưỡng sinh, đánh cầu lông, bóng đá, bóng chuyền…

Công tác quản lý nhà nước về các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa được tăng cường. Toàn thị trấn có 08 điểm kinh doanh karaoke, 08 điểm kinh doanh Internet, 03 hộ kinh doanh trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm, 05 hộ kinh doanh trong lĩnh vực photocoppy, 10 cơ sở lưu trú du lịch. Đội kiểm tra liên ngành của thị trấn thường xuyên tổ chức kiểm tra, đặc biệt tăng cường công tác kiểm tra vào các dịp lễ, tết nhằm tuyên truyền, nhắc nhở bà con nhân dân kinh doanh theo qui định của pháp luật. Nhờ đó, trong thời gian qua trên địa bàn thị trấn không xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục như chưa thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; đám tang còn kéo dài ngày; một bộ phận người dân chưa có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, còn vứt rác bừa bãi; các hoạt động văn hóa như karaoke di động, nhạc sống chưa đi vào nề nếp còn vi phạm thời gian, gây tiếng ồn lớn ảnh hưởng đến mọi người xung quanh…

Để hoạt động văn hóa - thông tin cơ sở ngày càng đi vào chiều sâu góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn mới theo Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thiết nghĩ cần sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền hơn nữa, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân thông suốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để đồng thuận hưởng ứng thực hiện vì người dân là chủ thể cũng là người hưởng lợi. Tin rằng, với những giải pháp đồng bộ, thị trấn Tân Hưng sẽ trở thành thị trấn văn minh đô thị vào năm 2018 góp phần xây dựng huyện Tân Hưng ngày thêm giàu đẹp./.

Bài: Nguyễn Thị Liễu

 Phòng VH và TT huyện Tân Hưng.

04/05/2017 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Sách chuyên đề về thương binh - liệt sĩ có tại Thư viện tỉnhSách chuyên đề về thương binh - liệt sĩ có tại Thư viện tỉnh

Sinh thời  Bác Hồ rất quan tâm đến thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Chính vì thế, tháng 6, năm 1947, Bác đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm ngày " Ngày thương binh" để đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh. Thực hiện lòng mong muốn của Bác, một  Hội nghị  trù bị đã khai mạc tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gồm có một số đại biểu ở Trung ương, khu và tỉnh. Hội nghị nhất trí lấy ngày 27 tháng 7 hàng năm là ngày  thương binh liệt sĩ và ngày 27/7/1947 ngày thương binh liệt sĩ  được tổ chức lần đầu tiên.

 Đọc sách Hồ Chí Minh toàn tập hay những quyển sách về cuộc sống hàng ngày của Bác được ghi lại theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ - thư ký riêng của Bác hay của những người phục vụ bên cạnh Bác, chúng ta thấy Bác đặc biệt quan tâm đến thương binh và gia đình liệt sĩ. Ngày 27/7 hàng năm Bác đều viết thư hay đến thăm hỏi thương binh và gia đình liệt sĩ. Người có nhiều bài viết, bài nói chuyện về thương binh liệt sĩ trong các ngày lễ lớn  như bài nói chuyện tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Người nói: "…Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta".

Trong sách Những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có rất nhiều mẫu chuyện về tình cảm của Bác dành cho thương binh và gia đình liệt sĩ như mẫu chuyện " Để Bác quạt" kể về việc Bác đến thăm trại điều dưỡng thương binh ở Hà Nội. Chuyện kể rằng, hôm ấy trời nóng bức, Bác vừa trò chuyện vừa cầm chiếc quạt giấy của Bác quạt cho anh em thương binh. Có người định làm thay, Bác nói "Để Bác quạt". Hôm ấy, lúc ra về Bác không vui vì thương các thương binh phải chịu cảnh nóng bức. Và có lẽ đó là nguyên nhân của mẫu chuyện "Chiếc máy điều hòa nhiệt độ đặt trong phòng Bác". Chuyện kể rằng, phòng làm việc của Bác lúc mới tiếp quản Thủ đô rất nóng, Bác thì chỉ xài quạt tay và không cho người quạt hộ. Các đồng chí phục vụ Bác đang nghĩ cách chống nóng cho Bác thì các đồng chí bên Bộ Ngoại giao đi công tác ở nước ngoài biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Lúc đó, Bác đi công tác vắng. Các anh quyết định cho lắp máy điều hòa vào phòng của Bác. Khi Bác về các đồng chí trình bày lý do gắn chiếc máy điều hòa nhiệt độ và xin lỗi Bác vì chưa xin ý kiến Bác đã gắn. Không thấy Bác tỏ thái độ gì ai nấy đều vui. Nhưng đến đầu giờ chiều hôm ấy Bác gọi đồng chí Vũ Kỳ lại và ân cần bảo: "Chiếc máy điều hòa nhiệt độ tốt đấy, các chú có thể đem đến quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này được rồi." Đồng chí Vũ Kỳ và các đồng chí phục vụ đã hết lời đề nghị nhưng Bác vẫn không thay đổi ý kiến.Thế là ngay chiều hôm ấy chiếc máy điều hòa được chuyển đến gắn ở trại điều dưỡng thương binh.

Mot so sach ve Thuong binh - Liet si co tai Thu vien tinh Long An.jpg

Với chức năng thu thập và lưu giữ, bảo quản, tổ chức khai thác tài liệu, thư viện tỉnh hiện có rất nhiều sách nói về tình cảm của Bác đối với thương binh liệt sĩ như: Bác Hồ với thương binh liệt sĩ; Những bài nói của Bác Hồ về công tác lao động- thương binh và xã hội; Những lời dạy của Bác về công tác thương binh liệt sĩ; Tấm lòng của Bác.v.v…. Thực hiện lời dạy của Bác "ăn quả nhớ người trồng cây", Thư viện tỉnh cũng đã thu thập, lưu giữ nhiều tài liệu về anh hùng liệt sĩ như: Hỏi đáp về chính sách người có công với cách mạng; Những người con thành đồng tổ quốc của miền Nam anh hùng; Địa chỉ đỏ của tuổi trẻ Việt Nam; Chân dung vị tướng anh hùng, liệt sĩ Kim Tuấn; v,v…Đặc biệt, quyển sách Điển hình của thương - bệnh binh làm giàu theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của Nhà xuất bản Lao động-Xã hội là quyển sách đáng để chúng ta tìm đọc. Quyển sách tập hợp những bài viết về điển hình của thương-bệnh binh làm giàu theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được đăng trên báo, đài trung ương và địa phương. Đọc quyển sách ta thật sự xúc động bởi khi chiến tranh đi qua, thương binh, bệnh binh trở về đời thường với cơ thể không còn lành lặn nên gặp nhiều khó khăn trong vấn đề mưu sinh. Nhưng với bản chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" không cam chịu đói nghèo, họ đã làm nên những kỳ tích. Họ là những thương-bệnh binh tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm giàu, cải thiện đáng kể đời sống và góp phần xây dựng quê hương đất nước, xây dựng nông thôn mới. Họ đã  chứng tỏ được là người "tàn nhưng không phế" như lời căn dặn của Bác đối với họ. Đây chính là những tấm gương điển hình đóng góp vào công tác xóa đói giảm nghèo của cả nước, giúp bạn đọc tìm ra phương pháp, cách thức, cách làm tốt, phù hợp với điều kiện cụ thể của bản thân, địa phương để phát triển kinh tế. Với vốn tài liệu hiện có, Thư viện tỉnh sẽ làm thỏa mãn bạn đọc muốn tìm hiểu có hệ thống về tư tưởng, tình cảm, việc làm đầy ân nghĩa của Bác với thương binh và gia đình liệt sĩ, về chính sách của Đảng và Nhà nước ta  đối với thương binh - liệt sĩ cũng như đời sống vật chất, tinh thần của họ và gia đình họ trong cuộc sống hiện tại. Đây là nguồn tư liệu quý đối với những người quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu về chính sách đối với người có công với cách mạng. đồng thời là nguồn tư liệu góp phần rất lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ phát huy nét đẹp đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc và giáo dục thế hệ trẻ phát huy truyền thống vẻ vang của cha anh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

                                                                                                                            Lê Thị Ngọc Lệ

Thư viện Long An.

22/07/2016 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Lễ cúng Kỳ yên Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Đình Tân Chánh và Lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn Lễ cúng Kỳ yên Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Đình Tân Chánh và Lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn

Đình Tân Chánh và Lăng Mộ Nguyễn Khắc Tuấn là một quần thể kiến trúc bao gồm hai kiến trúc nằm tách biệt nhau là đình làng Tân Chánh ở ấp Đình và Lăng mộ ông Nguyễn Khắc Tuấn ở ấp Lăng của xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

Theo thông lệ hằng năm, năm nay Đình Tân Chánh tổ chức Lễ Kỳ Yên (Lễ Cầu An) vào ngày 5 và 6 tháng 2 (âm lịch) nhằm ngày 21 và 22 tháng 3 năm 2018. Đây là lễ tế Thần Thành Hoàng bổn cảnh, lễ tế lớn nhất trong năm của đình. Ngoài lễ cúng Kỳ Yên thì Đình Tân Chánh còn có Lễ Hạ Điền, Thượng Điền và lễ Cầu Bông.

22-3-2018 Lễ cúng Kỳ Yên Đình Tân Chánh và Lăng Mộ Nguyễn Khắc Tuấn.jpg

Người dân địa phương xem ngày cúng Thần Thành Hoàng bổn cảnh ở đình cũng là ngày giỗ của Ông Nguyễn Khắc Tuấn – nhân vật được đồng hóa như một vị thần của làng Tân Chánh, điều này cũng được khẳng định qua bài vị của ông Nguyễn Khắc Tuấn được thờ tại đình. Ông Nguyễn Khắc Tuấn là một quan võ triều Nguyễn người địa phương, vì có công lao lớn đối với dân với nước, sau khi mất  được triều đình biểu dương công trạng, nhân dân nơi đây tôn kính ông như một vị thần. Lễ cúng Kỳ Yên tại Đình Tân Chánh bao gồm các lễ: Lễ Tống Phong; Lễ Thỉnh Sắc; Lễ Xây Chầu, hát tuồng; Lễ Tỉnh Sanh; Lễ Túc Yết; Lễ Chánh Tế (Lễ Đàn Cả).

22-3-2018 Lễ cúng Kỳ Yên Đình Tân Chánh.jpg

Lễ Kỳ Yên Đình Tân Chánh năm nay thu hút lượng khách hành hương về cúng đình rất đông. Qua đó cho thấy, hiện nay dù người dân ở Tân Chánh nói riêng và Cần Đước nói chung phải bận rộn với công việc hằng ngày, nhưng không vì vậy mà quên đi ngày cúng Thần Thành Hoàng bổn Cảnh hay ngày giỗ Ông Nguyễn Khắc Tuấn. Đây còn là dịp để người dân địa phương ôn lại cội nguồn dân tộc, lễ hội còn mang yếu tố thiêng liêng đã trở thành nét văn hóa xóm làng, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương./.

Thu Vân (Bảo tàng Long An)

05/04/2018 2:00 CHĐã ban hànhApproved
NGƯỜI CÁN BỘ TÂM HUYẾT VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA NGƯỜI CÁN BỘ TÂM HUYẾT VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA

Gần 10 năm gắn bó với công tác văn hóa, anh Trương Văn Trẩn (sinh năm 1976), xã Lương Bình, huyện Bến Lức luôn được cấp trên và đồng nghiệp tin tưởng, người dân quý mến bởi sự năng động, nhiệt tình, không ngại khó khăn, luôn miệt mài với công việc.

ngay 22-12-2020, ben luc Nguoi can bo tam huyet voi hoat dong van hoa.jpg

Anh Trương Văn Trẩn – Người có nhiều đóng góp tích cực
trong hoạt động văn hóa tại địa phương

Năm 2011, anh Trương Văn Trẩn về công tác tại UBND xã Lương Bình với chức danh công chức Văn hóa - Xã hội. Sinh ra và lớn lên ở xã, nên anh Trẩn nắm rõ địa bàn và hiểu được đời sống văn hóa của người dân địa phương... Tuy nhiên, thời kỳ này do cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hóa của xã còn thiếu thốn, các ấp chưa có nhà văn hóa nên chưa có nhiều hoạt động, chưa thu hút được đông đảo nhân dân tham gia. Để từng bước khắc phục những khó khăn này, anh Trẩn đã làm tốt công tác tuyên truyền và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đưa ra các giải pháp phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, đồng thời kêu gọi các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn ủng hộ kinh phí, tạo nguồn lực để tổ chức các hoạt động. Với sự quan tâm đầu tư của xã, sự chung tay góp sức của các tầng lớp nhân dân, đến nay 4/4 ấp đều có nhà văn hóa, mỗi ấp thành lập 1 câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ hoạt động tích cực, sôi nổi. Là cán bộ văn hóa, anh Trẩn kiêm phụ trách hoạt động của đài truyền thanh xã. Bên cạnh việc tiếp âm 3 cấp, hàng ngày anh còn biên soạn, viết các tin, bài để phát thanh, giúp người dân nắm bắt kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các hoạt động của địa phương. Hình ảnh người cán bộ văn hóa đa năng thể hiện rõ nét ở các đợt tuyên truyền về những sự kiện lớn, các ngày lễ, tết của huyện, của xã, đặc biệt là trong đợt phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Anh Trương Văn Trẩn, cán bộ Văn hóa – Xã hội, xã Lương Bình chia sẻ: "Để xây dựng, tổ chức và phát huy tốt các hoạt động văn hóa, thể thao, người làm công tác văn hóa cơ sở phải luôn nỗ lực hết mình. Chính vì thế, bản thân luôn chủ động nghiên cứu nắm bắt các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp trên và cấp ủy, chính quyền địa phương thuộc lĩnh vực mình được giao; cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ, triển khai đến cơ sở. Đồng thời theo dõi, nắm bắt tình hình tại cơ sở, qua đó kịp thời phát hiện những hạn chế, thiếu sót để có những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động phong trào".

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, anh Trẩn đã thường xuyên tuyên truyền, vận động các ấp và nhân dân ký cam kết thực hiện. Các ấp cũng đưa quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội vào quy ước hoạt động, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân. Việc xây dựng gia đình, ấp, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2020, xã Lương Bình có 97,07% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa; 4/4 ấp được công nhận văn hóa, 100% cơ quan, đơn vị và trường học được công nhận văn hóa. Nhiều năm nay, anh Trẩn cũng đã tham mưu cho lãnh đạo xã tổ chức các giải thể thao phong trào như giải bóng chuyền nam, bóng bàn, cờ tướng, cầu lông, bóng đá thanh, thiếu niên... Qua đó, đưa phong trào luyện tập thể dục thể thao trên địa phương ngày càng phát triển.

Anh Nguyễn Thanh An, Phó Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Bến Lức cho biết: "Anh Trương Văn Trẩn là người cán bộ văn hóa năng động, sáng tạo, đầy nhiệt huyết với phong trào chung, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng tại địa phương nói riêng và huyện Bến Lức nói chung".

Nhiệt tình, tâm huyết với công việc, lại có thời gian làm công tác văn hóa lâu năm, anh Trương Văn Trẩn đã có nhiều đóng góp tích cực, góp phần đưa xã Lương Bình đạt chuẩn xã văn hóa - nông thôn mới vào cuối năm 2020. Bản thân anh Trẩn đã được các cấp, các ngành ghi nhận, tặng nhiều giấy khen và bằng khen./.

Việt Hằng – Thái Tần

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Long An được phong tặng danh hiệu " trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc" trong kháng chiến chống MỹLong An được phong tặng danh hiệu " trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc" trong kháng chiến chống Mỹ

Phát huy truyền thống của cha ông, kể từ Đồng khởi đến 1967, quân dân Long An đã tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân và phong trào toàn dân đánh giặc phát triển cao độ, nên tại Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ II, họp tại vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ vào trung tuần tháng 9-1967, Long An vinh dự được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu “trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”. 

Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11-6-1948) trên cả nước, biến phong trào cách mạng trở thành sự nghiệp của nhân dân, ở miền Nam, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là kỳ đại hội thi đua yêu nước lần thứ hai (trong năm lần đại hội). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện đến đại hội với những lời nhắn nhủ ân cần và niềm tin vào các đại biểu ưu tú của miền Nam, trong đó có Long An, bức điện ghi rõ: Kính nhờ Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ chuyển tới Đại hội, có đọan:

“Nhân dịp các cô, các chú về dự Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam lần thứ II, Bác gửi các cô, các chú những cái hôn thân ái nhất và nhiệt liệt khen ngợi các cô, các chú lập được nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1965, Đại hội anh hùng miền Nam lần thứ nhất là Đại hội đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của giặc Mỹ. Đại hội anh hùng lần này là Đại hội của những người sẽ đánh thắng “chiến tranh cục bộ” của chúng, thực hiện Cương lĩnh chính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Là tinh hoa của dân tộc, các anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã nêu cao tinh thần trung với nước, hiếu với dân, dũng cảm, mưu trí, khiêm tốn, giản dị, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, khó khăn không ngại, gian khổ không sờn, quyết hòan thành mọi nhiệm vụ cứu nước, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc ta.

Bác tin chắc rằng dưới ngọn cờ vẻ vang của Mặt trận dân tộc giải phóng, đồng bào và chiến sĩ miền Nam, với tinh thần anh dũng và kinh nghiệm phong phú của mình, sẽ giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn tòan.

Chào thân ái vá quyết thắng!”.

Cùng với danh hiệu “trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”, ngày 17-9-1967, 3 anh hùng của Long An là Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Văn Thể và Hùynh Văn Tạo cũng được tuyên dương trong số 47 anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng toàn miền Nam được tuyên dương tại Đại hội. Tuy nhiên đi dự đại hội chỉ có Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Văn Thể, do anh hùng Hùynh Văn Tạo đã hy sinh vào ngày 8-6-1966. Anh hùng Hùynh Việt Thanh ở Kiến Tường cũng được tuyên dương trong kỳ đại hội này nhưng cũng không dự được vì cũng hy sinh ngày 21-9-1966. Trước đó, tại Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ I, từ ngày 2 đến 6-5-1965, Long An có 2 anh hùng trong 23 anh hùng quân đội giải phóng được tuyên dương, là Hùynh Văn Đảnh và Nguyễn Minh Tua. Đó là những cá nhân xuất sắc trong phong trào toàn dân đánh giặc ở Long An. Nguyễn Thị Hạnh (1937-1972), quê xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, là một chỉ huy du kích xuất sắc họat động trong lòng địch với những trận đánh gan dạ, mưu trí, đồng thời tổ chức đấu tranh chính trị, binh vận, xây dựng cơ sở cách mạng, trở thành điển hình trong phong trào phá ấp chiến lược ở Long An những năm 1963-1964. Hùynh Văn Tạo (1946-1966), quê ở xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa, khi được tuyên dương Anh hùng là tiểu đội phó, đại đội 2, tiểu đoàn 2 Long An, là một chiến sĩ xung kích dũng cảm, gan dạ, mới hơn 1 tuổi quân, đã đánh trên 20 trận với nhiều trận mưu trí. Trong một lần đánh đồn, giữa lúc đơn vị gặp khó khăn bởi một bãi mìn và lựu đạn của địch trước cửa mở, đồng chí không ngại hy sinh, đã xung phong lên trước, khéo léo bò qua bãi mìn, mưu trí dùng 1 bó chà rào kéo cho mìn, lựu đạn nổ, mở đường cho xung kích xung phong tiêu diệt đồn địch. Hùynh Việt Thanh (1926-1966), quê Cai Lậy, trú quán ở xã Hậu Thạnh, huyện Tân Thanh, khi được tuyên dương Anh hùng là xã đội trưởng xã Hậu Thạnh, một cán bộ chỉ huy du kích tài trí, có nhiều sáng kiến trong việc chế tạo, sử dụng vũ khí thô sơ đánh địch, hơn 10 năm tham gia hoạt động cách mạng và chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, có mặt ở những nơi khó khăn nguy hiểm nhất, sẵn sàng xả thân, cứu đồng đội. Địa phương bị địch đánh phá quyết liệt, bị chúng gom dân, lập ấp chiến lược, đồng chí đã cùng đội du kích quyết tử bám đất, bám dân, trụ lại đánh địch, diệt trừ ác ôn, phá thế kìm kẹp, góp phần đưa phong trào chiến tranh du kích ở xã tiến lên mạnh mẽ. Chỉ trong hai năm 1965-1966, đồng chí đã chỉ huy đội du kích chiến đấu trên 100 trận, diệt 400 tên địch, thu nhiều súng các loại. Hùynh Văn Đảnh (1939-1971), quê ở xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, khi được tuyên dương Anh hùng là chính trị viên trung đội bộ đội địa phương huyện Tân Trụ, một chỉ huy mưu trí, linh hoạt, kiên quyết và là một cán bộ giỏi, có nhiều kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh, nổi danh thiện xạ, trong một lần bắn xuyên táo, 1 viên sát thương hai tên địch, từng là trưởng đòan Đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ta thăm miền Bắc và gặp Bác Hồ, năm 1966. Nguyễn Minh Tua, sinh 1939, quê ở xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Hưng, khi đươc tuyên dương Anh hùng là trung đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 261 (tiểu đoàn Hi-rông), Khu 8, là một chỉ huy mũi nhọn, luôn luôn thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, linh hoạt, bị thương vẫn xông lên giết giặc, qua hơn 5 năm ở quân đội, tính đến ngày được tuyên dương anh hùng, đã chiến đấu 24 trận, tự tay diệt 29 tên địch, bắt sống 14 tên, thu 12 súng các loại, bắn cháy 1 tàu chiến và 4 xe GMC. Đặc biệt trong trận Tân Niên Tây, trung đội do đồng chí chỉ huy đã diệt 170 tên địch, bắt sống 7 tên, thu 32 súng, bắn cháy 3 xe M.113, bắn hỏng 4 xe M.113 khác; trong trận Long Khánh, diệt 25 tên địch, bắt sống 9 tên, thu 35 súng, bắn rơi một máy bay. Nguyễn Văn Thể, quê xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, khi được tuyên dương anh hùng mới 20 tuổi, là một chiến sĩ có tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, nhiều lần bị thương vẫn tiếp tục chiến đấu, trong hai năm 1965-1966, tham gia đánh 26 trận, góp phần cùng đơn vị diệt 1 tiểu đoàn, 13 đại đội, 12 trung đội địch, riêng anh diệt 34 tên (có 3 tên Mỹ), bắt sống 12 tên, thu 19 súng.

Cùng với những cá nhân được tuyên dương anh hùng do những thành tích xuất sắc trên trong phong trào đánh Mỹ, Tám chữ vàng trên thực sự là niềm vinh dự và tự hào lớn lao của quân dân Long An, bởi chỉ có Long An “trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” cùng với Quảng Nam “trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” và Củ Chi “đất thép thành đồng” là những địa phương được phong tặng danh hiệu cao quý trong đợt này do những thành tích xuất sắc đạt được giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt trên chiến trường toàn miền Nam. Danh hiệu cao quý đó chính là sự đúc kết truyền thống yêu nước chống ngoại xâm và đấu tranh cách mạng của nhân dân Long An dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành nguồn động viên lớn lao để quân dân Long An tiếp tục phát huy trong chặng đường về sau, hoàn thành nhiệm vụ trong cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân (1968) và mùa Xuân 1975, góp phần hoàn thành công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

            Bước lên chặng đường mới trong công cuộc xây dựng quê hương, truyền thống ấy lại được nhân dân Long An phát huy để hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo một vùng xung yếu trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam; song song với những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng lại quê hương, mà tiêu biểu là đi đầu trong việc xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp trong quản lý kinh tế và lưu thông phân phối, đóng góp cơ sở thực tiễn cho đường lối đổi mới của Đảng; khai phá tiềm năng kinh tế Đồng Tháp Mười, góp phần tăng sản lượng lương thực ở miền Nam và củng cố an ninh quốc phòng, đưa Long An cùng cả nước bước vào thời kỳ đổi mới.

                                                                               Người viết: Nguyễn Tấn Quốc

                                                                                Ảnh: Tư liệu Bảo tàng

17/10/2012 1:32 SAĐã ban hànhApproved
SẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANSẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
  1. Sắc phong

        Sắc phong (gọi đầy đủ là đạo sắc phong) xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ XV, dưới triều nhà Lê, được xác nhận bằng ấn triện của nhà vua mang nội dung công nhận có tính nhà nước, đồng thời thể hiện quyền lực của triều đình đối với các làng xã. Cùng với các loại văn bản và thư tịch cổ như chiếu, chỉ, hịch, văn bia, gia phả… sắc phong được xem như một loại văn bản chính thống của nhà nước phong kiến.

        Về cơ bản, sắc phong gồm có hai loại: sắc phong chức tước cho quý tộc, quan chức của các vương triều và sắc phong thần do nhà Vua phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình, đền, miếu, từ đường…Loại thứ nhất không còn nhiều và đây được xem như vật gia bảo, thường được cất giữ cẩn thận tại các gia đình hoặc nhà thờ họ. Loại thứ hai tuy đã mất mát nhiều nhưng khối lượng còn lại đến nay khá lớn và thường được bảo tồn trong các kiến trúc tín ngưỡng của làng, xã. Các vị thần được phong tặng có thể là nhân vật lịch sử có công với nước, thường gọi là nhân thần và các thần linh trong tín ngưỡng dân gian như nhân vật huyền thoại, vật linh, các hiện tượng thiên nhiên...

        Sắc phong là một nguồn tư liệu có giá trị về nhiều phương diện: mang tên tuổi và công lao của một số nhân vật lịch sử kèm theo quê quán, công tích và xếp hạng; các sắc phong phản ánh vai trò tối thượng của nhà vua, không chỉ trị vì muôn dân trong thế giới trần tục mà còn cai quản cả thế giới thần linh, kết hợp với các tín ngưỡng và đời sống tâm linh (Thành hoàng, Tổ tiên, Vật  linh, Tổ sư, Sùng bái thiên nhiên…); sắc phong phản ánh hệ thống hành chính với những địa danh và đơn vị hành chính mang niên đại cụ thể; đó là chứng cứ về những đặc trưng của thư pháp Hán Nôm và sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử…

        Phân tích kỹ dưới nhiều góc độ chuyên môn còn có thể khai thác từ sắc phong nhiều thông tin mang nhiều ý nghĩa và giá trị…Vì thế, sắc phong là nguồn tư liệu quý, một di sản văn hoá cần được bảo tồn. Ở Long An, hiện còn tồn tại cả hai loại sắc phong như vừa nêu.

        Di tích Lăng mộ và đền thờ Kiến xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia (QĐ số 435/QĐ/BT-ngày 11/5/1993), tọa lạc tại phường Khánh Hậu, thành phố Tân An. Lăng mộ được xây dựng năm 1817, là một trong những lăng mộ cổ nhất của Long An còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay. Ngoài đền thờ và những hiện vật có giá trị, di tích hiện đang lưu giữ 08 sắc phong, chiếu, chế, chỉ của các vua triều Nguyễn, tiêu biểu cho loại thứ nhất, cụ thể:

        Chỉ sai Nguyễn Huỳnh Đức đem quân giúp nước Xiêm chống lại sự xâm lăng của Miến Điện, chất liệu giấy, kích thước 0,37 x 0,32m. Năm Cảnh Hưng thứ 59 (1798), ngày mồng hai, tháng hai.

        Sắc phong quan tước cho Nguyễn Huỳnh Đức ngày mồng một tháng năm, năm Gia Long Nguyên niên (1802). Sắc bằng giấy dó màu bạc, in rồng chìm, dài 1,35m, rộng 0,50m.

        Sắc vua Gia Long truy phong cho ông Huỳnh Công Châu, tổ phụ Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Sắc bằng lụa vàng, thêu rồng, dài 0,75m, rộng 0,40m. Ngày mồng một, tháng chín, năm Gia Long thứ ba (1804).

        Chiếu vua Minh Mạng phong chức tước cho Nguyễn Huỳnh Thành (thứ nam Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chiếu bằng giấy vàng, in rồng chìm, dài 0,8m, rộng 0,4m. Ngày 22 tháng 8 năm Minh Mạng thứ 10 (1829).

        Chế của vua Tự Đức tập phong cho Nguyễn Huỳnh Kim (cháu nội Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chế bằng lụa trắng thêu rồng vàng, dài 1,3m, rộng 0,3m. Ngày 2 tháng 8 năm Tự Đức thứ 3 (1851).

 chiếu Minh Mạng năm thứ 10 (22-8-1829) tại lăng Nguyễn Huỳnh Đức

 Ấn triện trên sắc phong Tự Đức tam niên (11-12-1850) tại Đình Khánh Hậu

 Sắc thần đình Tân Chánh bị hư hỏng nặng

        Ngoài sắc phong cho các quan lại, trên địa bàn tỉnh còn tồn tại loại sắc phong các vị thần trong các đình, miếu. Trong tổng số 90 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh, đình chiếm số lượng khá lớn và đây cũng là đối tượng chính được triều đình Nguyễn phong sắc. Trong số những ngôi đình được phong sắc như đình Vĩnh Phong, đình Phú Khương, Tân Xuân, Xuân Hòa, Hòa Điều, Vĩnh Bình… thì đình Khánh Hậu thuộc khu phố Quyết Thắng 2, phường Khánh Hậu, thành phố Tân An là có nhiều sắc nhất (06 sắc). Thời gian phong sắc sớm nhất (theo số liệu hiện có) là năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) và muộn nhất là của vua Khải Định năm 1925. (Sắc phong cho Thành Hoàng bổn Cảnh làng Long Hậu Tây (xã Long Hậu, Cần Giuộc) của vua Khải Định năm 1925).

         Các vị thần được vua sắc phong chủ yếu là thần Thành hoàng Bổn cảnh và các vị phúc thần như Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Chi Thần, Dũng Mẫn Nghiêm Dực nhị đại Tướng quân...  nhằm giúp vua bảo hộ lê dân của mình.

        Về tình trạng các sắc phong, do phải trải qua một thời gian dài, điều kiện khí hậu, các biến cố lịch sử và do cả sự bất cẩn của con người nên nhiều sắc phong đã bị hư hỏng, hủy hoại. Các nguyên nhân thường do:

        -Thiếu phương tiện bảo quản, các sắc phong thường được quấn lại rồi bọc giấy bên ngoài, đựng trong ống tre, do không được chăm sóc thường xuyên cộng với khí hậu nóng ẩm làm các sắc phong hư hỏng dần, có nơi còn bị mối mọt, côn trùng gặm nhấm, phá họai.

        - Người bảo quản không có ý thức hay thiếu hiểu biết, để cho mọi người mở xem tùy tiện làm hư hại, rách nát sờn vụn những giấy sắc đã lâu đời. Cũng có người lợi dụng lòng tin của người bảo quản, mượn sắc rồi không trả lại.

Hiện nay, hiện tượng sắc phong bị lấy trộm để bán cho những người sưu tầm đồ cổ hay bán ra nước ngoài ngày càng phổ biến, trở thành một mối đe dọa lớn đối với loại di sản quí báu này.

        Tuy nhiên, đó chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể, đa số người dân hiểu biết về giá trị văn hoá và tâm linh của sắc phong, có ý thức bảo quản nghiêm ngặt nhờ vậy mà một số lượng lớn sắc phong triều Nguyễn vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

  1. Phương án bảo tồn sắc phong

        Để bảo tồn vốn di sản văn hóa đã tồn tại hàng trăm năm này, thiết nghĩ nên áp dụng một số phương án như mở các lớp tập huấn cho người dân, chủ nhân di tích về phương pháp bảo quản hiện vật giấy, đặc biệt là các đạo sắc phong.

        Là hiện vật có giá trị đặc biệt, gắn liền với cộng đồng, tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân địa phương nên việc sưu tầm sắc phong là rất khó. Vì vậy cần có một dự án bảo tồn, trong đó thuê các nghệ nhân bồi lại sắc phong và sử dụng phương tiện bảo quản phù hợp; lưu giữ phần chữ và trang trí của các sắc phong bằng cách chụp ảnh kỹ thuật số với những thông tin về tên gọi và địa điểm nơi đang gìn giữ đi kèm rồi đưa vào đĩa. Những đĩa này sẽ được sắp xếp theo hệ thống đơn vị hành chính hiện nay (tỉnh, huyện, xã, ấp) và tập trung bảo quản tại Thư Viện Quốc Gia ( cùng trong phòng tư liệu Hán Nôm) - nếu thực hiện ở qui mô lớn - cũng như bảo quản ở địa phương.

Thông qua các hình thức trưng bày, triễn lãm, giới thiệu trên phương tiện truyền thông đại chúng… nhằm giới thiệu, tuyên truyền đến nhân dân những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của sắc phong để nâng cao ý thức trân trọng giữ gìn loại di sản văn hóa quí báu của dân tộc.

        Là một trong những tỉnh được khai phá sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, Long An còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, sắc phong là một di sản quý của dân tộc và là nguồn tư liệu quý hiếm cần được bảo vệ và nghiên cứu hơn nữa để phát huy tác dụng. Với những giải pháp như vừa nêu, nếu được thực hiện kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản quý báu này.

                                                                                        Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

                                                                                  Ảnh: Văn Ngọc Bích 

21/12/2011 6:56 SAĐã ban hànhApproved
Khánh thành Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh (xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ), ngày 02/9/2017. Kỳ cuối: Điểm đến vùng biênKhánh thành Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh (xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ), ngày 02/9/2017. Kỳ cuối: Điểm đến vùng biên

Di tích lịch sử Căn cứ Bình Thành (tức Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh) với ý nghĩa lịch sử trọng đại và có tính xuyên suốt trong chiều dài lịch sử đấu tranh cách mạng gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ, đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BVHTT ngày 4-2-1998. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ IX xác định công trình trùng tu di tích này là công trình trọng điểm.

Ảnh kỳ 3 - Một góc Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh nhìn từ trên cao.jpg

Một góc Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh

Tôn vinh truyn thống cách mạng

Chủ trương trùng tu, tôn tạo di tích quan trọng này, từ năm 1998, tỉnh thành lập Ban Quản lý Dự án Xây dựng khu di tích trực thuộc UBND tỉnh để tiến hành giai đoạn I với các hạng mục chính: Đền bù, san lấp, trồng cây xanh và một số hạng mục hạ tầng khác. Đến năm 2003, Ban Quản lý dự án được chuyển giao về Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Ngày 17/4/2001, UBND tỉnh phê duyệt dự án (giai đoạn II) tại Quyết định số 1185/QĐ-UB với tổng diện tích sử dụng đất 98,25ha, trong đó, phần diện tích xây dựng 20,2ha, gồm 3 nhóm hạng mục chính với tổng cộng 14 hạng mục công trình. Sau khi cơ bản hoàn thành một số hạng mục: Khu bảo tồn nguyên trạng các di tích gốc, khu các công trình tưởng niệm, công viên, cảnh quan và một số hạng mục hạ tầng khác, ngày 21/10/2013, UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh dự án tại Quyết định số 3656/QĐ-UBND, gồm 45 hạng mục công trình từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa của Trung ương hỗ trợ và ngân sách tỉnh, thời gian thực hiện 5 năm (2013-2017).

Đó là một tổng thể gồm nhóm nội dung chính: Phục hồi, phục dựng, bảo tồn nguyên trạng các di tích gốc của căn cứ như cơ quan làm việc,...; xây dựng các công trình tưởng niệm, công viên, cảnh quan và các hạng mục hạ tầng khác; phục hồi hệ sinh thái tự nhiên ngày xưa để tái hiện, giúp khách tham quan có thể hình dung phần nào cảnh quan, hình ảnh của vùng căn cứ xưa.

Đến nay, dự án hoàn thành 33/45 hạng mục công trình, trong đó có các hạng mục chính: Đền tưởng niệm, nhà khách - nhà truyền thống, trang trí nội thất trưng bày, phục hồi các di tích gốc như Văn phòng Tỉnh ủy, Phòng họp Tỉnh ủy, nhà làm việc của Thường trực Tỉnh ủy, Bộ phận cơ yếu, Văn thư - in ấn và các hạng mục phụ trợ: Hầm trú ẩn, hố bom, đường mòn nội bộ, cầu qua kênh,... đồng thời, đầu tư nội thất trưng bày bên trong các hạng mục này để phục vụ tham quan khu di tích. Đặc biệt, khu di tích còn có hệ thống bia ghi danh của trên 25.000 anh hùng liệt sĩ của địa phương và mọi miền Tổ quốc hy sinh trên đất Long An qua các thời kỳ cách mạng.

Việc trùng tu, tôn tạo Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh là biểu hiện của tâm huyết, ý chí và nỗ lực của nhiều thế hệ cách mạng, lãnh đạo, các cấp, các ngành và người dân trong tỉnh trong việc tôn vinh truyền thống cách mạng và tri ân các thế hệ đi trước hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Khu di tích từng bước trở thành điểm đến, nơi Về nguồn, tham quan, vui chơi, giải trí,... góp phần giáo dục truyền thống, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển.

Điểm đến vùng biên, đôi điu suy nghĩ

Mục tiêu của dự án trùng tu, tôn tạo Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh là xây dựng khu trung tâm di tích đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tổ chức nghi lễ, thăm viếng, Về nguồn, thể hiện tinh thần đền ơn đáp nghĩa, bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong 2 cuộc kháng chiến; tái hiện cảnh quan vùng Đồng Tháp Mười, kết hợp tôn tạo di tích thành quần thể công trình văn hóa - lịch sử - du lịch cảnh quan, nhằm phục vụ tham quan, du lịch, nghỉ ngơi, giải trí của mọi tầng lớp nhân dân và khách nước ngoài, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đồng Tháp Mười và cả tỉnh.

Những năm qua, cùng với quá trình trùng tu, tôn tạo, dần hoàn thiện để đưa vào sử dụng, khu di tích được tăng cường các hoạt động sinh hoạt truyền thống, Về nguồn, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu trên các phương tiện truyền thông,... Từ đó, tác động tích cực, hiệu quả và lan tỏa đến cộng đồng, khu di tích được mọi người biết đến nhiều hơn để tìm về nơi đây như là một địa chỉ quan trọng của Long An.

Dù vậy, khu di tích cần phải được kết nối với các di tích "vệ tinh" có ý nghĩa lịch sử gắn bó mật thiết với căn cứ cách mạng này trong lịch sử, nhất là các di tích trên địa bàn huyện Đức Huệ: Khu vực Quéo Ba, nơi ghi dấu chiến công giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ, năm 1964 (xã Mỹ Quý Tây); khu vực Sân Vận động Quéo Ba, nơi ghi dấu tội ác thảm sát chiến tranh, năm 1948 (xã Mỹ Quý Tây); Giồng Dinh, nơi ghi dấu chiến thắng trận Giồng Dinh, năm 1947 (xã Mỹ Thạnh Tây); khu Hội đồng Sầm, nơi thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Long An, năm 1961 (xã Bình Hòa Bắc); địa điểm thành lập Khu 7, Khu 8, Khu 9, năm 1945 (xã Bình Hòa Nam); miếu ông Lê Công Trình (xã Mỹ Thạnh Đông, xã Mỹ Thạnh Tây).

Một vấn đề quan trọng là cách tiếp cận công chúng phải chủ động hơn và làm như thế nào để công chúng đến với di sản văn hóa của chúng ta nhiều hơn trong điều kiện cạnh tranh thông tin và các lĩnh vực khác ngày nay.

Hiện nay, chúng ta đang triển khai Chương trình số 13-CTr/TU ngày 16/5/2017 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về "Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", khu di tích cần được tiếp cận ở góc độ rộng hơn để xây dựng nơi đây thành điểm đến. Phải chăng, chúng ta vẫn chưa đặt nó trong không gian lịch sử - văn hóa vùng Đồng Tháp Mười (thậm chí trong sự liên kết với các địa phương ngoài tỉnh có không gian văn hóa, sinh thái tương đồng) để từ đó, các nhà chuyên môn về du lịch kết nối vào các tour, tuyến?

Phải chăng, chúng ta vẫn chưa kết hợp di sản văn hóa vật thể này với các di sản văn hóa phi vật thể khác có mối liên hệ cùng tồn tại và đặt nó trong không gian văn hóa đặc thù của vùng đất này mà quá trình ứng xử, thích nghi của con người với môi trường thiên nhiên nơi đây tạo ra yếu tố văn hóa đặc trưng, biểu hiện ở văn nghệ dân gian, văn hóa ẩm thực, nghề truyền thống,... để khai thác, hình thành sản phẩm, tạo điểm đến? Cửa khẩu Mỹ Quý Tây được công nhận là cửa khẩu quốc gia đánh thức sự phát triển kinh tế cửa khẩu, kéo theo du lịch cửa khẩu, phải chăng đây là cơ hội để kết nối Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh và các di tích khác của huyện Đức Huệ vào tour, tuyến du lịch để nơi đây trở thành điểm đến?

Cuối cùng, trong công tác xã hội hóa, phải chăng, chúng ta chưa mời gọi có hiệu quả các nhà đầu tư, cho họ thấy được tiềm năng của di sản văn hóa nhằm khai thác du lịch; hỗ trợ họ tiếp cận những chính sách, quy định cụ thể về thực hiện chủ trương hỗ trợ, ưu đãi, khuyến khích,... đầu tư về du lịch ở địa phương?

Từ một vùng đất hiểm địa, khắc nghiệt và vắng bóng người nơi biên cương Tổ quốc, theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước, các thế hệ yêu nước và đấu tranh cách mạng tìm đến, biến nơi đây thành "thánh địa" của cách mạng trong suốt 2 thời kỳ chống thực dân, đế quốc ở địa phương với biết bao sự kiện, dấu ấn, tên đất, tên người đi vào lịch sử, góp phần làm nên truyền thống "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

Thế hệ đi trước hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Tôn vinh, kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, giá trị di sản tinh thần của cha ông trong điều kiện hội nhập và phát triển, tạo nền tảng tinh thần vững chắc, làm động lực cho mục tiêu phát triển bền vững của vùng đất xung yếu về quốc phòng - an ninh này của Tổ quốc là trách nhiệm của các thế hệ hôm nay./.

 Nguyễn Tấn Quốc

07/09/2017 11:00 SAĐã ban hànhApproved
Kỷ niệm 82 năm ngày hy sinh của đồng chí Châu Văn Liêm (04/6/1930 - 04/6/2012)Kỷ niệm 82 năm ngày hy sinh của đồng chí Châu Văn Liêm (04/6/1930 - 04/6/2012)

Gương hy sinh của người chiến sĩ cộng sản

Là một trong bảy người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn) tại cuộc họp hợp nhất ba tổ chức đảng tại Hưong Cảng ngày 3-2-1930, đồng chí Châu Văn Liêm gắn bó cuộc đời hoạt động lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược trên mảnh đất Long An.Và cũng trên quê hương Long An, đồng chí đã ngã xuống như là một trong những tấm gương hy sinh tiêu biểu nhất của người chiến sĩ cộng sản.

            Châu Văn Liêm có bí danh là Việt, sinh ngày 29-6-1912 ở ấp Rạch Tra, xã Thới Thạnh, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ (nay là ấp Thới Bình B, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ) trong một gia đình nông dân bậc trung. Nhờ cha là Châu Khắc Chấn làm nghề dạy học và bốc thuốc Bắc nên Châu Văn Liêm được học chữ Hán từ nhỏ, rồi học chữ quốc ngữ ở trường làng, sau đó đi học ở Cần Thơ, học rất giỏi nên được cấp học bổng toàn phần mỗi tháng 4 đồng lúc bấy giờ, đến tháng 7-1918, đậu bằng sơ học (Certificat), tháng 7-1922 đỗ đầu trung học (Diplome) Cần Thơ rồi được tuyển thẳng vào trường Sư phạm Hậu bổ Sài Gòn (còn gọi là Sư phạm Đông Dương). Ở đây, ông học rất giỏi, bỏ qua một lớp mà thi tốt nghiệp hạng ưu.

            Sinh ra trong một gia đình có học lại gần dân, sớm hấp thụ tình yêu quê hương đất nước và nhìn thấy bất công xã hội, nay ở Sài Gòn, Châu Văn Liêm có điều kiện quen biết những người yêu nước và tiếp xúc với sách báo tiến bộ như sách của Đông Kinh Nghĩa Thục, thơ văn yêu nước của Trần Tuấn Khải, Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu và nhất là báo Tiếng Chuôn Rè (La Cloche Fèlée)-tờ báo đầu tiên ở Đông Dương dám đăng công khai Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Ông rất hâm mộ tư tưởng dân tộc bài Pháp, yêu nước và tiến bộ và thường xuyên tìm đến trao đổi quốc sự với người sáng lập tờ báo này là nhà trí thức yêu nước Nguyễn An Ninh, vừa tham gia đấu tranh cùng học sinh, giáo sinh thành phố chống luật lệ bất công của Nha học chính Pháp.

            Ra trường năm 1924, ông về dạy học lớp Nhứt ở Long Xuyên. Thay vì dạy theo chương trình của Pháp, ông vận động đấu tranh đòi bỏ lối giảng dạy và thi cử xa rời thực tế này và dạy cho học sinh tư tưởng tự do dân chủ và tinh thần dân tộc, nên năm 1926 bị nhà cầm quyền đổi về trường sơ học ở quận Chợ Mới, xem như một hình thức kỷ luật đối với một giáo viên có “đầu óc chống Pháp này”. Ở đây, ông hưởng ứng cuộc để tang Phan Chu Trinh bằng cách tổ chức đoàn đại biểu đi Sài Gòn dự lễ truy điệu rồi trở về tổ chức lễ truy điệu ở Mỹ Luông, Long Điền (Chợ Mới) với khoảng 3.000 người dự mà ông là diễn giả chính. Sau cuộc bãi khóa ở trường trung học Cần Thơ (Collège de Cần Thơ), nhiều học sinh tiến bộ bị đuổi học tìm về Châu Văn Liêm và ông lập ra Hội học sinh giáo viên hữu ái ở Long Xuyên. Ở thôn quê, vừa dạy học, Châu Văn Liêm vừa vận động nông dân đấu tranh chống luật lệ bất công của địa chủ, cường hào. Kỳ nghĩ hè năm ấy, ông về Ô Môn lập Đảng Việt Nam phục quốc, nhằm tập hợp những người yêu nước chịu ảnh hưởng tư tưởng Nguyễn An Ninh, liên lạc với các tổ chức cách mạng ở nước ngoài,  nhờ tích cực hoạt động, đã bắt được liên hệ với tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (thường gọi tắt là Thanh niên) của Nguyễn Ái Quốc sáng lập từ tháng 6-1925. Cuối năm 1927, Châu Văn Liêm được kết nạp vào tổ chức cộng sản này, đến năm 1928 làm bí tư Tỉnh bộ Long Xuyên. Sau vụ án tại nhà số 5 đường Barbier, Tổng bộ lập Kỳ bộ mới, tháng 3-1929, Châu Văn Liêm được bầu vào Ban thường vụ Kỳ bộ Nam kỳ và được cử đi dự đại hội Thanh niên toàn quốc ở Hương Cảng (Trung Quốc). Trở về nước giữa lúc tình hình nhiều hội viên Thanh niên bị bắt và nhận được chỉ đạo ở hải ngoại, Châu Văn Liêm thành lập tổ chức Đảng cộng sản lấy tên là An Nam cộng sản đảng, được cải tổ từ một bộ phận của tổ chức Thanh niên.

Trở về từ Hương Cảng sau cuộc họp hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Đông Dương, Châu Văn Liêm trở thành người có tư cách thực hiện việc thống nhất các tổ chức cộng sản từ Khánh Hòa đến Cà Mau. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ này, đồng chí giữ chức bí thư Liên tỉnh ủy Gia Định-Chợ Lớn-Tân An, đã chọn Đức Hòa làm địa bàn đứng chân xây dựng cơ sở và phong trào cách mạng-nơi ấy có nhà cách mạng Võ Văn Tần, người mà Châu Văn Liêm đã móc cơ sở khi dừng chân trên đường từ Cần Thơ về Sài Gòn. Và cũng tại Đức Hòa, từ sự chỉ đạo của đồng chí Châu Văn Liêm, chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn ra đời ngày 6-3-1930 do Võ Văn Tần làm bí thư. Ở Đức Hòa, dù trong hoàn cảnh bị Pháp và tay sai đánh hơi, lùng sục dò xét gắt gao, đồng chí với lối tuyên truyền giản dị, dễ hiểu mà sâu sắc, được quần chúng nhân dân tin yêu hết lòng bảo vệ, đã tích cực hoạt động, sau đó đến tháng 5-1930, trực tiếp thành lập thêm chi bộ làng Hựu Thạnh với 8 đảng viên, từ đó tiến tới thành lập Quận ủy, đưa phong trào đấu tranh nhanh chóng lên mạnh ở Đức Hòa.

Tháng 5-1930, Đảng lãnh đạo nhiều cuộc biểu tình lớn nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, trong đó có cuộc biểu tình của 1.000 người ở Long Xuyên bị thực dân Pháp đàn áp, đồng chí Châu Văn Liêm chủ trương huy động lực lượng nông dân Chợ Lớn-Gia Định nhất loạt cùng một ngày tổ chức ba cuộc biểu tình lớn ở Đức Hòa, Hóc Môn và Bà Hom để chia lửa với Long Xuyên. Ngày 04-6-1930, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần (lúc này là Bí thư Quận ủy Đức Hòa), khoảng 1.500 nông dân ở các làng quanh quận lỵ Đức Hòa gồm Hựu Thạnh, Bình Tả, Bình Hữu, Đức Hòa, Hòa Khánh, Lương Hòa, Đức Hòa, Tân Phú, Mỹ Hạnh…vác cờ đỏ búa liềm kéo về dinh quận đưa yêu sách bớt xâu, giảm thuế, chống đem lính đàn áp, khủng bố dân chúng… Quận Sành (Huỳnh Văn Đẩu) sợ hãi lẩn tránh việc giải quyết nên cuộc biểu tình kéo dài. Chiều tối, thực dân Pháp huy động lực lượng lính khố xanh từ Bà Hom, cảnh sát từ Sài Gòn, do tên cò Dreuil chỉ huy kéo xuống đàn áp, súng ống lưỡi lê chĩa thẳng vào đoàn người. Quận Sành ra mặt, lệnh giải tán đoàn biểu tình. Theo chỉ đạo của đồng chí Châu Văn Liêm, đoàn người siết chặt hàng ngũ, hô to khẩu hiệu “giảm thuế’, đòi bắt tên chủ quận. Đang lúc giằng co, đồng chí Châu Văn Liêm bước lên một chỗ cao hô lớn: “Đừng sợ chết, chục này còn chục khác, trăm này còn trăm khác !”, rồi một mình dũng cảm tiến lên phía trước đối mặt với tên thực dân, bằng vốn tiếng Pháp thông thạo của mình, đòi y phải giải quyết yêu sách cho dân. Hành động và lời kêu gọi của đồng chí như một lời hiệu triệu cho đoàn biểu tình xốc tới với khí thế ngày càng mạnh mẽ. Tên cò Dreuil rút súng lục bắn vào giữa ngực đồng chí Châu Văn Liêm rồi ra lệnh cho lính xả đạn vào đoàn biểu tình, làm thêm nhiều người chết và bị thương ngay cách dinh quận khoảng 100m. Đoàn biểu tình chựng lại, tản ra nhưng chưa giải tán hẳn. Đến 11 giờ đêm, địch điều thêm lực lượng và bắt đi khoảng 100 người với sự thị thực của Thống đốc Nam Kỳ và chủ tỉnh Chợ Lớn Renault thì cuộc biểu tình mới chấm dứt. Đồng chí Châu Văn Liêm hy sinh, nhân dân Đức Hòa đem xác đồng chí về chôn ở ấp Nhơn Hòa (nay thuộc Đức Hòa Thượng) nhưng sau đó tề địch gom chung với số ngươi bị chết, bị thương đưa lên Chợ Lớn rồi biệt tích mà không biết đó là xác “người An Nam cầm đầu cuộc biểu tình” mà chúng đang truy tìm.

Hơn 80 năm trôi qua, nơi đồng chí Châu Văn Liêm hy sinh đã trở thành di tích lịch sử, nhưng cái chết của đồng chí Châu văn Liêm vẫn ngời sáng như là một trong những tấm gương hy sinh tiêu biểu nhất của người cộng sản. Giặc giết đồng chí và giải tán cuộc đấu tranh ngày ấy bằng súng đạn nhưng không giết được tinh thần Châu Văn Liêm và phong trào đấu tranh cách mạng mà đồng chí gieo mầm nơi đây. Xin mượn lời của nhà nghiên cứu lịch sử Trung Chính trong tác phẩm Những người sống mãi, Nhà xuất bản Sử học, Viện sử học, Hà Nội 1960 để kết luận cho bài này: “ Là một vị sáng lập viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Châu Văn Liêm đã treo cao cho toàn Đảng ngay từ những ngày đầu Đảng mới thành lập một gương hy sinh vô điều kiện vì quyền lợi của quần chúng lao khổ. Tinh thần cách mạng của đồng chí tiêu biểu đầy đủ cho truyền thống cách mạng sôi nổi và tinh thần bất khuất của đồng bào Nam bộ nói riêng và đồng bào toàn quốc nói chung”.

Kỷ niệm 82 năm ngày hy sinh của đồng chí Châu Văn Liêm, nhắc lại gương hy sinh của người chiến sĩ cộng sản kiên cường ấy cũng là cái cách tự soi mình trong bối cảnh chúng ta đang triển khai học tập Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”./.

  

 Châu Văn Liêm (1902-1930)

Thân sinh đồng chí Châu Văn Liêm, cụ Châu Khắc Chấn 

Nơi sinh đồng chí Châu Văn Liêm, ấp Rạch Tra, xã Thới Thạnh, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ (nay là ấp Thới Bình B, xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ). 

Trường trung học Cần Thơ (Collège de Cần Thơ), nơi Châu Văn Liêm học và tốt nghiệp Diplome 

Chùa Minh Sư (Nam Nhã Đường, Cần Thơ), nơi Châu Văn Liêm lập Đảng Việt Nam phục quốc, 1926 

Tranh “Hội nghị thành lập Đảng, 3-2-1930 

Ngã tư Đức Hòa, nơi đồng chí Châu Văn Liêm lãnh đạo nông dân Đức Hòa đấu tranh và hy sinh ngày 4-6-1930

Phu nhân đồng chí Châu Văn Liêm, bà Phạm Thị Các và con gái Châu Kim Y

Phù điêu Châu Văn Liêm ở di tích Ngã tư Đức Hòa (thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa).

      

Tượng Châu Văn Liêm ở trường Châu Văn Liêm, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa

                    Nguyễn Tấn Quốc (theo Những hạt giống đỏ trên đất Long An, 1991)

27/06/2012 1:39 SAĐã ban hànhApproved
KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ - ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA TỈNH CHỢ LỚN KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ - ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA TỈNH CHỢ LỚN

Khu nhà ông Bộ Thỏ tọa lạc tại ấp Bình Hữu 2, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Đây là tư gia của ông Nguyễn Văn Thỏ, tên thật là Nguyễn Văn Thới. Ông giữ chức Hương bộ - một chức vụ trong Ban hội tề của làng, nên dân trong vùng thường gọi là ông Bộ Thỏ.

17-9-2019 Nhà ông Bộ Thỏ với kết cấu khung sườn bằng gỗ.jpg

Nhà ông Bộ Thỏ với kết cấu khung sườn bằng gỗ

Nơi đây, vào ngày 06/3/1930, trước tình hình khai thác thuộc địa ngày càng gay gắt của thực dân Pháp, cũng như phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân diễn ra sôi nổi, đồng chí Võ Văn Tần đã tổ chức cuộc họp bí mật, thống nhất tuyên bố chuyển Chi bộ An Nam Cộng sản Đảng làng Đức Hòa thành Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam làng Đức Hoà. Lúc này, nhằm đảm bảo tính bí mật, các đồng chí trong chi bộ đã tổ chức cuộc họp tại ao nước bên trái ngôi nhà ông Bộ Thỏ. Bên cạnh ao nước là cây khế, dưới cây khế có hầm bí mật thông ra hào nước để ẩn tránh khi có động. Đây là chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn và là một trong những chi bộ Đảng được thành lập sớm nhất ở Nam Kỳ. Chi bộ gồm có 7 đồng chí: Võ Văn Tần (Bí thư), Nguyễn Văn Sậy (Phó Bí Thư), Võ Văn Tây, Võ Thị Phái, Võ Văn Ngân, Nguyễn Văn Thới, Nguyễn Văn Ngọc. Chi bộ đã ra Nghị quyết lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung tuyên truyền và phương hướng hoạt động của Đảng ở địa phương.

17-9-2019 Ao nước - nơi diễn ra cuộc họp thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên.jpg

Ao nước - nơi diễn ra cuộc họp thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên
của tỉnh Chợ Lớn

Ngày 04/6/1930, đồng chí Võ Văn Tần đã lãnh đạo hàng ngàn người tiến về quận lỵ biểu tình chống sưu cao, thuế nặng. Mặc dù cuộc biểu tình bị đàn áp nhưng đoàn biểu tình quyết không lùi bước, buộc địch phải nhân nhượng xuống lệnh giảm thuế, giảm sưu. Điều này chứng minh cho khả năng lãnh đạo, vai trò của Đảng trong công cuộc đấu tranh của dân tộc là hết sức quan trọng. Từ hạt nhân Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này, các tổ chức Cộng sản đã phát triển ra khắp nơi trong tỉnh và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trải qua thời gian hơn 80 năm, cùng với sự tàn phá nặng nề của thiên nhiên và hai cuộc chiến tranh khốc liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khu nhà ông Bộ Thỏ đã bị xuống cấp trầm trọng, hiện chỉ còn ao nước - nơi diễn ra cuộc họp và cây khế hơn trăm năm tuổi như chứng nhân cho thời khắc lịch sử trọng đại này.

17-9-2019 Cây khế hơn trăm năm tuổi là di tích gốc còn tồn tại đến ngày nay.jpg

Cây khế hơn trăm năm tuổi là di tích gốc còn tồn tại đến ngày nay

Năm 1994, Ủy ban ban nhân dân huyện Đức Hòa đã cho xây dựng tại khu vườn nhà ông Bộ Thỏ bia kỷ niệm sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn. Đến năm 2012, ngôi nhà ông Bộ Thỏ đã được phục dựng lại nguyên bản trên một mảnh vườn rộng 10,342m2 với lối kiến trúc ba gian, hai chái, có hàng hiên bao bọc xung quanh cùng kết cấu khung sườn bằng gỗ; ao nước bên trái ngôi nhà cũng được tái hiện lại cuộc họp bí mật với hình tượng 7 đồng chí đảng viên, gần ao nước là cây khế cổ thụ xanh tươi như nhắc nhở cho hậu thế một thời kỳ đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

17-9-2019 Bia kỷ niệm sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn.jpg

Bia kỷ niệm sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn

Sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn tại địa chỉ đỏ này là một sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng ở Đức Hoà nói riêng và tỉnh Chợ Lớn nói chung phát triển mạnh mẽ, bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ có Đảng lãnh đạo. Từ đây, đã đưa phong trào đấu tranh lên đỉnh cao, góp phần cùng nhân dân cả nước đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với ý nghĩa đó, địa điểm thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn (khu nhà ông Bộ Thỏ) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL ngày 31/10/2013./.

Hồng Nhung

18/09/2019 11:00 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​