Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 260359
 
Thông tin Văn Hóa - Cải lương
 
​Dù khiêm tốn so với bề dày lịch sử 100 năm cải lương, sân khấu cải lương Long An đã hòa quyện vào dòng chảy chung để lại những dấu ấn nghệ thuật không thể nào quên, góp phần vào sự phát triển của bộ môn nghệ thuật dân tộc trải qua nhiều bước thăng trầm này.1. Thời hoàng kim Khi sân khấu cải lương chính thức ra đời ở Mỹ Tho (15/3/1918), Long An chưa có gánh cải lương nào, chỉ có vài gánh hát bội, ... 
 
​Trải qua quá trình phát triển rực rỡ, cải lương đang mất dần vị thế "độc tôn" bởi qui luật phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển của công nghệ thông tin. Cải lương ở Long An không nằm trong ngoại lệ đó. Ngày 28/4/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Trung ương và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ ch... 
 
​Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018, tại Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An (Phường 4, thành phố Tân An), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) phối hợp với Cục Nghệ thuật Biểu diễn tổ chức Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018. Đây là dịp hội tụ của 25 đơn vị biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp với 32 vở diễn về tranh tài tại vùng đất có truyền thống văn học - nghệ thuật và là một trong những ch... 
 
Ngày 17/7/2017, Đoàn công tác tỉnh Long An do ông Lê Tấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn đến thăm và tặng quà Đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân (NSND) Huỳnh Nga tại căn hộ riêng (Chung cư Khánh Hội 1, Phường 1, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh). Tham gia đoàn công tác có bà Lê Thị Thu Thảo, đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An; bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch... 
 
​Đến hẹn lại lên, vào dịp kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam 12-8 âm lịch hàng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lại phối hợp Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Long An tổ chức họp mặt đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn và những người làm công tác quản lý ngành sân khấu trong tỉnh. Buổi họp mặt ấm áp không chỉ là dịp để văn, nghệ sĩ tỉnh nhà gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm mà còn là nét đẹp... 
 
​Thể hiện sự quan tâm và nhằm tăng cường sức mạnh lãnh đạo đối với Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An, ngày 17/8/2016 ông Phạm Văn Trấn, Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã làm việc với đoàn nghệ thuật Cải lương Long An và trao Quyết định bổ nhiệm Nghệ sĩ Ưu tú Hồ Thị Ngọc Trinh là diễn viên của Đoàn giữ chức vụ Phó Trưởng đoàn Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An, thời hạ... 
 
​Chỉ vì đồng tiền, mãi sa đà vào những trò ăn chơi trụy lạc, người vợ, người chồng đánh mất lương tâm, đánh mất chính mình và đánh rơi hạnh phúc gia đình. Đến khi hối hận, hạnh phúc không còn nguyên vẹn như xưa... Đó là bi kịch của 2 gia đình rời quê lên thành phố sinh sống trong vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" của tác giả Kha Tuấn và NSƯT Hữu Lộc.Bi kịch của đồng tiềnVở cải lươn... 
 
​ Tối ngày 26/6, vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc” do nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Cải lương Long An biểu diễn đã được truyền hình trực tiếp trên kênh truyền hình VTV Cần Thơ của Đài Truyền hình Việt Nam trong chương trình “Hòa điệu đất chín rồng” số tháng 6/2016.Cảnh diễn trong vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc” “Người đánh rơi hạnh phúc” của tác giả Kha Tuấn và NSƯT Hữ... 
 
​Vào lúc 20 giờ,00 ngày 26/6/2016, Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ công diễn vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" trong chương trình "Hòa điệu Đất Chín Rồng" diễn ra tại Trung tâm Luyện tập và sinh hoạt Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An (được trực tiếp truyền hình trên kênh VTV5) thu hút đông đảo khán giả đế... 
 
​"Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Lời nhân vật Giáo sư trong vở cải lương "Sân khấu cuộc đời" của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An trong cuộc thi nghệ thuật sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015 tại tỉn... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Nhớ lời tuyên ngôn về văn hóa của vua Quang Trung Xuân Kỷ Dậu (1789)Nhớ lời tuyên ngôn về văn hóa của vua Quang Trung Xuân Kỷ Dậu (1789)

         Năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ dựng cờ “Phù Lê diệt Trịnh”, kéo binh  ra Thăng Long lật đổ ngai  vàng của chúa Trịnh, trao quyền trị quốc lại cho vua Lê. Nhưng vua Chiêu Thống nhà Lê là người nhu nhược, bất tài, không an định được quốc gia mà còn nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh đòi lại đất  Nghệ An mà vua Lê Hiển Tông đã tặng cho Tây Sơn. Bởi thế, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm và Ngô Văn Sở đem quân ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Thất trận, Nguyễn Hữu Chỉnh bị Tây Sơn bắt giết ở Yên Thế (Bắc Giang), vua Lê Chiêu Thống phải chạy sang Quảng Tây cầu cứu nhà Thanh. Được dịp tốt để xâm lược nước ta, vua Càn Long  sai Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân, chia làm 4 đạo tiến sang miền Bắc với danh nghĩa là giúp vua Lê Chiêu Thống phục quốc. Ngày 17/12/1788, quân Thanh vào thành Thăng Long. Trước đó, Ngô Văn Sở đã theo kế của Ngô Thời Nhậm là lui về giữ phòng tuyến Tam Điệp để chỉnh đốn quân mã, đợi ngày cùng Bắc Bình Vương phá tan giặc Thanh. Được tin cấp báo, Bắc Bình vương lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân vào ngày 22/12/1788 (25/11 năm Mậu Thân), lấy niên hiệu là Quang Trung rồi lập tức tiến quân ra Bắc. Ngày 20/12 năm Mậu Thân, đại quân Tây Sơn tập kết ở đèo Tam Điệp. Vua Quang Trung đã chia quân làm 5 đạo, giao nhiệm vụ cho từng đạo, mở tiệc khao quân và làm lễ “thệ sư” vào đêm giao thừa năm Mậu Thân-KDậu. Trong buổi lễ thệ sư, vua Quang Trung đã dõng dạc đọc lời hịch:

Đánh cho để dài tóc,

Đánh cho để đen răng,

Đánh cho nó chích luân bất phản,

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.

Tác phẩm Lê quý kỷ sự có viết: “Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu. Rồi chiêng trống khua vang, quân lính gấp rút lên đường ra Bắc”.

        Với khí thế như sóng gầm thác đổ ấy, đại quân Tây Sơn nhanh chóng tiêu diệt hàng loạt đồn lũy của giặc Thanh, chém chết tướng giặc là Hứa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng, buộc Thái thú Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Sáng mồng năm tết kỷ dậu, nguyên soái giặc Thanh là Tôn Sĩ Nghị thấy lửa cháy rực trời phía Đống Đa và nghe tin đồn Ngọc Hồi thất thủ nên đã hoảng hốt  bỏ cả ấn tín chạy trốn trong tư thế”ngựa chưa kịp đóng yên, người chưa kịp mặc giáp”. Quân Thanh thấy chủ tướng bỏ chạy bèn hoảng loạn chạy theo làm đứt cả cầu phao, xác của chúng nghẽn cả dòng nước Nhị hà. Trưa ngày mồng năm tết, vua Quang trung cưỡi voi vào Thăng Long, áo bào xạm đen khói súng, trong sự hân hoan chào đón của nhân dân.

        Chiến thắng oanh liệt của vua Quang Trung trong 5 ngày đêm thần tốc đã đập tan hoàn toàn mộng tưởng xâm lược nước ta của quân Thanh cũng như dã tâm rước voi dày mả tổ của bè lũ Lê Chiêu Thống, giữ vững nên độc lập dân tộc. Đến nay, sau 214 năm, lời hịch trong buổi lễ thệ sư của vua Quang Trung trong  đêm 30 tháng chạp năm mậu thân, tại đèo Tam Điệp ngày nào vẫn còn vang vọng, có giá trị hùng hồn, đanh thép như một lời tuyên ngôn về văn hóa của dân tộc ta. Như chúng ta đã biết, nước ta là một nước nhỏ bên cạnh nước Trung Hoa hùng mạnh, bao la, rộng lớn. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của mình, chúng ta phải liên tục chống lại âm mưu xâm lược và đồng hóa của các thế lực phong kiến Trung Hoa. Trong 10 thế kỷ cai trị chúng ta, phong kiến phương Bắc đã không ngừng thực hiện chính sách đồng hóa, bắt dân ta phải từ bỏ nền văn hóa truyền thống để theo phong tục, tập quán và văn hóa Trung Hoa. Trong 20 năm xâm lược nước ta, nhà Minh đã hủy hoại nhiều di tích, quốc bảo của nước ta và tịch thu nhiều bộ sách quý của chúng ta đưa về Trung Quốc. Chúng hy vọng rằng, dân tộc ta sẽ mất gốc, sẽ bị đồng hóa và trở thành thần dân của Thiên triều. Có thể nói rằng, trong lịch sử của mình, bên cạnh việc đấu tranh vũ trang chống kể thù xâm lược, dân tộc Việt Nam đã không ngừng chiến đấu  để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, chống lại sự nô dịch về văn hóa của nước ngoài. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã nêu rõ:

Như nước  Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục bắc nam cũng khác.

Điều đó chứng tỏ rằng, Việt Nam ta là một nước văn hiến từ lâu đời, có nền văn hóa riêng của mình chứ không phải là một bộ tộc của đế quốc Trung Hoa như chúng đã từng rao truyền.

        Đến thời đại của vua Quang Trung, ông càng ý thức sâu sắc rằng sự nghiệp chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc phải gắn bó mật thiết với công cuộc đấu tranh bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Vị vua anh hùng này của Việt Nam dõng dạc kêu gọi mọi người phải đánh cho giặc Thanh không còn 1 bánh xe, không còn một manh giáp mà trở về cũng vì “để dài tóc, để răng đen” mà thôi. Phong tục nước Việt ta được truyền lại từ lâu đời là nuôi tóc và nhuộm răng, với quan niệm “cái răng cái tóc là gốc con người”.  Nay quân Mãn Thanh từ phương bắc đến âm mưu xâm lược nước ta, âm mưu bắt dân ta phải cạo đầu, gióc tóc như người Trung Quốc, hòng biến nước ta thành một tỉnh của Nhà Thanh. Vua Quang Trung bằng thiên tài quân sự của mình đã khéo léo khơi dậy tinh thần độc lập  và niềm tự hào về văn hóa truyền thống của dân tộc nên đã lập nên một kỳ công chưa từng có trong lịch sử là đánh đuổi 29 vạn quân xâm lược ra khỏi bờ cõi trong vòng 5 ngày. Qua đó, ta thấy sức sống của dân tộc ta hết sức mãnh liệt, mà cội nguồn của sức sống ấy chính là nền văn hóa truyền thống được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử. Sử sách còn ghi rằng, ông Lê Quýnh là một bề tôi của nhà Lê, sau khi vua Lê Chiêu Thống lưu vong sang Trung Quốc, ông đã sang bên đó để tìm vua. Lúc bấy giờ Tổng đốc Lưỡng Quảng là Phúc Khang An mời ông đến, nói dối là bàn việc khôi phục nhà Lê nhưng thực chất là bảo ông gọt đầu, gióc tóc, ăn mặc theo người Trung Quốc. Khi ấy, Lê Quýnh đã dõng dạc nói với Phúc Khang An rằng: “Đòi ta đến ngỡ là gặp mặt để bàn bạc, nay té ra lại chẳng bàn bạc gì, mà chỉ toàn bảo là gọt đầu gióc tóc và đổi đồ mặc. Chúng ta đây, đầu có thể chặt, da có thể lột nhưng đồ mặc không thể đổi”. Tuy sai lầm ở chỗ  tận trung với một ông vua bạc nhược, nhẫn tâm rước voi giày mả tổ, vì quyền lợi ích kỷ của dòng họ mình, nhưng tinh thần yêu nước, quyết giữ gìn phong tục, tập quán cổ truyền của dân tộc, chống lại sự đồng hóa của ngoại bang của ông Lê Quýnh thật đáng trân trọng. Chính nhờ những tấm lòng thiết tha với văn hóa truyền thống ấy mà dân tộc ta đã trường tồn dù trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Năm ất dậu -2005, ôn lại chiến công phá giặc Thanh năm kỷ dậu và bài hịch đanh thép như một bản tuyên ngôn về văn hóa của vua Quang Trung, chúng ta càng thêm quyết tâm bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của mình để góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc văn hóa dân tộc./.

                                                                                            NGUYỄN VĂN THIỆN

09/01/2012 7:31 SAĐã ban hànhApproved
ÔNG NGUYỄN VĂN BÁ - ĐIỂN HÌNH TRONG PHONG TRÀO TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA  ÔNG NGUYỄN VĂN BÁ - ĐIỂN HÌNH TRONG PHONG TRÀO TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA 

Xây dựng đời sống văn hóa và xây dựng nông thôn mới là hai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước mang tính toàn dân và toàn diện. Ở huyện Bến Lức, mối quan hệ giữa xây dựng đời sống văn hóa và nông thôn mới được triển khai thực hiện một cách phù hợp và mang lại nhiều kết quả thiết thực trong nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần của người dân.

ngay 13-8-2019, gia dinh ong Nguyen Van Ba.JPG

Gia đình ông Nguyễn Văn Bá, gương sáng trong phong trào
"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"

Tại xã Thạnh Lợi, năm 2018 và những tháng đầu năm 2019, nhiều công trình hạ tầng nông thôn được ra đời từ sự tự nguyện đóng góp tiền của, đất đai, công sức của người dân với tổng giá trị quy ra thành tiền hàng chục tỷ đồng, góp phần làm cho bức tranh nông thôn mới của xã ngày càng sinh động. Người dân nêu cao ý thức xây dựng gia đình văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh, chăm lo phát triển kinh tế, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, hỗ trợ giúp nhau trong cộng đồng. Điển hình là hộ gia đình ông Nguyễn Văn Bá (1938), ấp 5, xã Thạnh Lợi đã tự nguyện đóng góp tiền của, ngày công lao động để tiến hành nâng cấp nền hạ và rãi đá xanh tuyến đường Rạch Bần, với chiều dài 1,6km, ngang 3,5m, tổng kinh phí là hơn 1,5 tỷ đồng (Nhà nước và nhân dân cùng làm), trong đó gia đình ông Bá đã tự nguyện hiến đất và 200 triệu đồng tiền mặt. Trong việc đầu tư nâng cấp và tu sữa Khu di tích lịch sử Đình Mương Trám, gia đình ông Bá đã đứng ra vận động con cháu và người thân ủng hộ 550 triệu đồng và hàng chục ngày công lao động để làm mái che, đường vào khu di tích và cổng Đình Mương Trám, góp phần giữ gìn, bảo tồn di tích lịch sử tại địa phương.

ngay 13-8-2019, tuyen duong da xanh xa Thanh Loi.JPG

Tuyến đường Rạch Bần được đầu tư, nâng cấp giúp người dân lưu thông thuận tiện

ngay 3-8-2019 Den tuong niem Muong Tram huyen Ben Luc.JPG

Đền tưởng niệm liệt sĩ Mương Trám, xã Thạnh Lợi được xây dựng khang trang

Với những đóng góp đó, gia đình ông Nguyễn Văn Bá được UBND tỉnh tặng bằng khen trong phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", xứng đáng là một gương sáng để mọi người học tập.

Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở huyện Bến Lức đã tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương./.

Việt Hằng

14/08/2019 9:00 SAĐã ban hànhApproved
HÌNH TƯỢNG QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT TRONG VĂN HÓA ÓC EO Ở NAM BỘHÌNH TƯỢNG QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT TRONG VĂN HÓA ÓC EO Ở NAM BỘ
Theo tư liệu, Quan Thế Âm là một vị bồ tát, được định nghĩa là người “trên cầu giác ngộ, dưới hóa chúng sinh”. Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Quan Âm là “người có thể lắng nghe và thông cảm được âm thanh của thế gian, tiếng kêu của khổ não”.
Cũng theo kinh điển, Quan Thế Âm nguyên là người con trưởng của vị vua Chuyển Luân Thanh Vương tại Ấn Độ, là thái tử Bất Tuấn , cùng với cha và em theo Phật Thích Ca tu hành , sau được cải danh, vua cha thành Phật A Di Đà (Amitâbha), còn lại hai người con là hai vị Bồ tát, một người là Quan Thế Âm (Avalokitesvara)(1), một người là Đại Thế Chí (Mahasthamaprapta), ba cha con được gọi là Tây Phương Tam Thánh. Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn, Bất Tuấn được Phật Thích Ca đặt cho tên ấy mà vì “chúng sinh nếu khổ não gọi tên ngài, bồ tát tức thời thấy được tiếng nói, đều được giải thoát nên gọi là Quan Thế Âm”...

        Theo tư liệu, Quan Thế Âm là một vị bồ tát, được định nghĩa là người “trên cầu giác ngộ, dưới hóa chúng sinh”. Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Quan Âm là “người có thể lắng nghe và thông cảm được âm thanh của thế gian, tiếng kêu của khổ não”.

Cũng theo kinh điển, Quan Thế Âm nguyên là người con trưởng của vị vua Chuyển Luân Thanh Vương tại Ấn Độ, là thái tử Bất Tuấn , cùng với cha và em theo Phật Thích Ca tu hành , sau được cải danh, vua cha thành Phật A Di Đà (Amitâbha), còn lại hai người con là hai vị Bồ tát, một người là Quan Thế Âm (Avalokitesvara)(1), một người là Đại Thế Chí (Mahasthamaprapta), ba cha con được gọi là Tây Phương Tam Thánh. Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn, Bất Tuấn được Phật Thích Ca đặt cho tên ấy mà vì “chúng sinh nếu khổ não gọi tên ngài, bồ tát tức thời thấy được tiếng nói, đều được giải thoát nên gọi là Quan Thế Âm”.

        Theo L. Malleret (1963), ở đồng bằng sông Cửu Long trước đây đã có 5 pho tượng Lokesvara bằng đá được công bố. Một tượng ở vùng Phú Thọ (Chợ Lớn - thành phố Hồ Chí Minh ngày nay), ba tượng ở tỉnh Trà Vinh (ở Vắt Khbal Tữk, Vắt Cetdei (2) và Lưu Ngiệp Anh) và một tượng khá nổi tiếng, nằm trong sưu tập Didelot ở Paris, được tìm thấy ở Rạch Giá. Tượng Lokesvara ở Lưu Nghiệp Anh hiện được bảo quản ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, đã được khảo tả chi tiết (Lâm Quang Thùy Nhiên, 2005).

        Gần đây có thêm hai pho tượng Lokesvara được phát hiện, tượng thứ nhất là pho tượng Lokesvara được phát hiện năm 1973 tại khu vực tả ngạn sông Đồng Nai, cách mố cầu Rạch Cát khoảng 500 m về phía hạ lưu. Pho tượng này được chế tác bằng sa thạch màu xám, còn nguyên vẹn. Tượng được tạc trong tư thế đứng trên bệ, có khung đỡ hình vòng cung. Đầu đội mũ hình cánh hoa, thu hẹp về phía đỉnh (kiểu mũ Karanda mukuta), phía trước mũ có hình Phật A di đà đang ngồi thiền. Khuôn mặt tròn trán thấp, phẳng. Chân mày cong, mắt nhỏ, có hai mí, mũi cao, cánh mũi rộng. Hai tai lớn, dái tai dài, buông thõng gần bên vai. Cổ tròn, ngắn, rõ nét ba ngấn. Tóc búi gọn lên cao. Thể hình tượng cân đối, vai ngang, bờ vai tròn. Ngực nở, bụng thon, rốn sâu. Thân dưới tượng quấn sampôt ngắn trên đầu gối, bó sát mông và đùi, có nhiều nếp gấp xiên từ trái qua phải. Phía trước sampôt có giải băng cột và thắt một nút với hai đầu dài buông thõng tự nhiên. Bắp chân hình trụ, thon nhỏ về phía dưới, hai bàn chân đầy đặn, đặt song song ăn liền với đế là một bệ phẳng hình chữ nhật. Tượng có 4 tay, hai tay trên đưa cao hơn vai, gắn liền vào khung đỡ. Bàn tay phải cầm chuỗi hạt, tay trái cầm bản kinh nhỏ. Hai tay dưới hơi cao, đưa về phía trước, các ngón tay cong khum, đầu ngón cái chạm vào ngón trỏ. Tượng có kích thước: chiều cao (cả đế) 70,2 cm; vai rộng 20,0 cm; bệ tượng hình khối chữ nhật dài 25,5 cm; rộng 16,0 cm; cao 5 cm; khung đỡ cao 69 cm.

        Pho tượng Lokesvara thứ hai, được Vương Thu Hồng và Văn Ngọc Bích - cán bộ Bảo tàng Long An phát hiện tại địa bàn ấp Bình Tiền I, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, trong quá trình triển khai đề tài khoa học cấp tỉnh “Điều tra, khảo sát và khai quật khảo cổ học nhằm định hướng quy hoạch, bảo tồn các di tích Tiền- Sơ sử ở tỉnh Long An” (trong 2 năm 2007- 2008).

         Tại đây, trên phần đất của gia đình cụ Nguyễn Thị Xính (sinh năm 1945, sinh sống ở đây qua nhiều đời), vào ngày 28-3-2008, trong lúc thợ đào móng xây nhà, ở độ sâu khoảng 50 cm, đã tìm thấy  một pho tượng đá, trong tư thế nằm ngửa, đầu hướng về phía đông. Tượng có chiều cao từ  mộng đế tượng đến đỉnh đầu là 114 cm; chiều rộng ngang vai là 25 cm. Tượng được tạc trong tư thế đứng trên bệ trang trí hình cánh sen, có cung chống hình vòng cung, đầu đội mũ hình chóp, thu hẹp về phía đỉnh theo kiểu mũ Karanda mukuta. Tượng bị tình trạng phong hóa, mất khoảng 60% chi tiết điêu khắc ở phần đầu, mặt, thân trước; gãy ngang ở hai cổ chân,  tượng có 4 tay, nhưng chỉ còn hai cánh tay rời, hai tay kia bị gãy mất gần hết, còn lại 2 bàn tay và một phần của bàn tay khác, những bàn tay này đều ở trạng thái nắm hờ, không cầm vật tùy thân. Do bị phong hóa nên không thể nhận ra đầy đủ khuôn mặt và trang trí trên mũ của tượng, nhưng biểu tượng Đức Phật A di đà (Amitâbha) trong tư thế ngồi thiền định (cao 4 cm) ở phía trước mũ của tượng vẫn có thể nhận ra (3). Thân dưới của tượng vận  một chiếc sampôt đơn giản, dài ngang gối, vạt sampôt choàng từ gối phải lên hông trái, hoa văn tạo hình uốn lượn theo đường choàng, tương tự như sampôt của tượng Hari-Hara ở Gò Cổ Lâm, ấp Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, niên đại khoảng thế kỷ 7-8 (4). Tại khu vực và vị trí phát hiện tượng, không tìm thấy gạch- đá hay gốm cổ... nhằm xác định các yếu tố của một di tích khảo cổ học, tuy nhiên địa điểm này nằm rất gần khu vực Bình Tả, là một cụm di tích văn hóa Óc Eo có quy mô lớn ở huyện Đức Hòa - tỉnh Long An, nơi phát hiện bản minh văn Gò Xoài ghi lại Pháp thân kệ, tóm tắt tư tưởng cơ bản Phật giáo, niên đại khoảng thế kỷ 8-9. Cũng trong địa bàn huyện Đức Hòa, trước đây cũng có một số tượng Phật bằng đá được phát hiện như: tượng Mỹ Thạnh Đông, tượng Tân Mỹ, tượng Chùa Phật, tượng Bàu Công, được công bố trong sách “Khảo cổ học Long An- những thế kỷ đầu Công nguyên” (2001).

        Theo Lê Thị Liên (2006) (5) trong tác phẩm “Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long”, Bồ tát (Bodhisattva) là người đã giác ngộ Phật đạo nhưng từ chối lên cõi niết bàn và nguyện dẫn dắt chúng sinh đi theo chính đạo. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, tượng tròn điêu khắc thể hiện các vị Bồ tát không phát hiện được nhiều nhưng đều được chế tác ở trình độ cao, cả về chất lượng nghệ thuật và đặc trưng tiếu tượng. Cho tới nay, người ta cũng mới bắt gặp sự có mặt của hai vị là Quan Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara, đôi khi là sự kết hợp dưới dạng Lokesvara) (6) và Di Lạc Bồ Tát (Maitreya).

        Tượng Lokesvara phát hiện ở Lưu Nghiệp Anh (Trà Vinh) có hai bàn tay dưới cong khum, tạo thành lỗ rỗng tròn mà P. Dupont giải thích rằng để gắn các vật biểu tượng rời. Trang phục được thể hiện rất giản dị bằng những đường khắc chìm. Đôi lông mày chạm nổi, đôi mắt rõ mí và con ngươi, cái miệng rộng có ria mép mảnh trên khuôn mặt vuông vức cùng hình khối cơ thể có tính chất thần thánh một cách cường điệu hóa cho thấy nó có thể thuộc vào cuối thế kỷ 7, đầu thế kỷ 8.

Tượng Lokesvara ở Rạch Cát (Biên Hòa, Đồng Nai) hầu như hoàn toàn giống với tượng ở Lưu Nghiệp Anh, chỉ thấp hơn khoảng 15 cm. Các tượng Lokesvara với môtyp tương tự đã được xác định thuộc phong cách nghệ thuật Óc Eo, có niên đại khoảng thế kỷ 7-8 AD.

        Pho tượng Lokesvara ở Đức Hòa (Long An) tuy bị phong hóa, một số chi tiết điêu khắc không còn, nhưng cũng có chất liệu bằng sa thạch và phong cách chế tác kết hợp giữa Phật giáo và Hindu giáo, rất gần gũi pho tượng ở Lưu Nghiệp Anh (Trà Vinh), do vậy có thể cũng cùng niên đại khoảng thế kỷ 7-8 AD, phát hiện này đã góp phần làm phong phú thêm cho sưu tập tượng Phật giáo bằng đá thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ./.

                                 

Tượng Bồ tát Lokesvara ở Lưu Nghiệp Anh, tỉnh Trà Vinh. Niên đại: thế kỷ 7- 8 AD.

                                 

Tượng Bồ tát Lokesvara ở Rạch Cát (Biên Hòa- Đồng Nai). Niên đại: thế kỷ 7-8 AD.

                              

 

Tượng Bồ tát Lokesvara ở ấp Bình Tiền 1, Đức Hòa Hạ,  Đức Hòa, Long An. Niên đại: thế kỷ 7-8AD.

 

                                   

Phần chân và đế của pho tượng Bồ tát Lokesvara ở ấp Bình Tiền 1, Đức Hòa Hạ,  Đức Hòa, Long An.

 

(1) “Avalokitesvara” dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại… Danh hiệu Quan Thế Âm nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khố.

(2) Theo Lê Thị Liên, phía trước mũ của pho tượng Vắt Cetdei gắn một hình tháp năm tầng tròn thu dần về phía đỉnh, biểu tượng của  Di Lạc Bồ tát (Maitreya), do vậy đây là tượng Di Lạc Bồ tát (Lê Thị Liên, 2006, Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X, NXB. Thế Giới, Hà Nội, trang 56-57).

(3)Đây là yếu tố cơ bản để nhận ra pho tượng này là Lokesvara hay còn gọi là Quan Thế Âm Bồ tát.

(4) Lâm Quang Thùy Nhiên, 2005, Tượng cổ bằng đá ờ Đồng bằng Nam Bộ, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, tp. Hồ Chí Minh.

(5) Lê Thị Liên, 2006, Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X, NXB. Thế Giới, Hà Nội, trang 40-58.

(6) Lâm Quang Thùy Nhiên, 2005 (tư liệu đã dẫn): Quan Thế Âm Bồ Tát  (Lokesvara) là “Vị Phật đầy lòng thương cao cả”, một trong các vị Bồ tát tham thiền nhập định (Dhyani- Boddhisattva) thuộc phái Đại thừa (Mahayana), bên cạnh một trong năm vị Phật tham thiền nhập định (Dhyani- Buddha) và là người trợ lực của vị Phật đó- Phật A di đà (Amitâbha).

17/10/2011 7:32 SAĐã ban hànhApproved
TÂN THẠNH TỔ CHỨC HỘI THI CA TÀI TỬ - VỌNG CỔ NĂM 2020 TÂN THẠNH TỔ CHỨC HỘI THI CA TÀI TỬ - VỌNG CỔ NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Tân Thạnh tổ chức Hội thi ca tài tử  - vọng cổ năm 2020. Hội thi thu hút sự tham gia của 34 thí sinh đến từ 13 xã, thị trấn trong huyện. Đến với hội thi, mỗi đơn vị tham gia một chương trình thể hiện tiết mục về ca cổ: Vọng cổ nhịp 16 (6 câu) hoặc vọng cổ nhịp 32 (4 câu). Về ca tài tử, các thí sinh chọn bài trong 20 bài tổ. Nội dung ca ngợi thành tựu xây dựng quê hương trong thời kỳ đổi mới; ca ngợi Đảng, Bác Hồ; ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước.

22-12-2020  Thí sinh đang biểu diễn tiết mục tham gia tranh tài tại hội thi.jpg

Thí sinh đang biểu diễn tiết mục tham gia tranh tài tại hội thi

Qua một ngày tranh tài, Ban Tổ chức đã trao giải cho các thí sinh đạt kết quả cao trong hội thi. Về ca vọng cổ, giải nhất thuộc về thí sinh Huỳnh Văn Vũ, đơn vị xã Hậu Thạnh Đông; giải nhì thuộc về thí sinh Châu Long Hiếu, đơn vị xã Tân Lập và Phan Thị Trúc Mai, đơn vị xã Nhơn Hòa; giải ba thuộc về các thí sinh Lê Văn Thuấn, đơn vị thị trấn Tân Thạnh, thí sinh Trần Hữu Hạnh, đơn vị xã Tân Bình và Nguyễn Thị Trấm, đơn vị xã Nhơn Ninh. Về ca tài tử, giải nhất thuộc về thí sinh Nguyễn Thanh Tâm, đơn vị xã Kiến Bình; giải nhì thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Cẩm ly, đơn vị xã Tân Bình; giải ba thuộc về thí sinh Nguyễn Duy Ánh, đơn vị xã Tân Ninh và thí sinh Nguyễn Thị Diệu, đơn vị thị trấn Tân Thạnh. Ngoài ra Ban Tổ chức còn trao giải cho thí sinh hát về Tân Thạnh hay nhất, thí sinh trẻ tuổi nhất và nhiều giải khuyến khích cho các thí sinh đạt thứ hạng cao trong hội thi.

22-12-2020 Các thí sinh đạt giải trong hội thi.jpg

Các thí sinh đạt giải trong hội thi

Hội thi nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử - vọng cổ; đồng thời nhân rộng phong trào đờn ca tài tử - vọng cổ ở khắp các xã, thị trấn, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; tạo điều kiện để các thí sinh trong huyện có dịp giao lưu, trao đổi kinh nghiệm; phát hiện những nhân tố mới để đào tạo, bồi dưỡng tài năng; nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật; góp phần phát triển sự nghiệp văn hóa của huyện và phục vụ tốt đời sống tinh thần của nhân dân./.              

Kim Nhạn

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
CÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG ANCÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG AN

Nông cụ là những dụng cụ để làm nghề nông, phong phú và đa dạng nhất là các loại nông cụ sử dụng trồng lúa thủ công. Từ xa xưa, với tập quán canh tác lúa nước, lưu dân người Việt trong hành trình mở cõi về phương Nam đã mang theo những nông cụ truyền thống của quê nhà đến vùng đất mới. Đất mới trù phú nhưng vẫn còn hoang vu rậm rạp, muốn khai phá có hiệu quả, lưu dân đã phải thay đổi, chế tác thêm các nông cụ mới cho phù hợp với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng… Rồi dần về sau, hệ thống nông cụ ấy đã được bổ sung, chỉnh sửa, cải tiến để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất. Quá trình ấy trải qua hàng trăm năm thủ công, nên các nông cụ ngày nay mang tính truyền thống, nông cụ truyền thống là vậy.

Long An- vùng đất trù phú về các sản phẩm nông nghiệp trong đó có đặc sản nổi tiếng gạo nàng thơm Chợ Đào với hạt gạo trắng ngần, cơm ngon thơm dẻo. Nhưng mỗi khi ăn bát cơm ấy có mấy ai hiểu hết được hạt gạo làm ra từ đâu, bằng cách nào và bằng cái gì? Một điều chắc chắn rằng không thể thiếu đôi chân lấm, tay bùn của người nông dân cùng những cái cày, cái bừa, cái phảng, cái cộ... Đến Bảo tàng Long An, xem sưu tập nông cụ truyền thống mà ở đó mỗi nông cụ gắn với những chuyện kể về đặc điểm, cách sử dụng cũng như kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân ở địa phương.

 Sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng có trên 40 công cụ, bài viết này chỉ đề cập đến 5 nhóm nông cụ chủ yếu được sử dụng để dọn cỏ, làm đất, gieo cấy, đưa nước vào ruộng và thu hoạch lúa.

PhangCoCo.jpg

Phảng, cù nèo- nông cụ dọn cỏ hữu hiệu.

Cây phảng là nông cụ đặc dụng ở vùng ruộng bưng, có nước sâu, nhiều cỏ. Tùy theo hình dáng của phảng mà người ta đặt tên gọi: phảng cổ lùn thích hợp với ruộng có ít nước, phảng cổ cò phổ biến ở vùng Đồng Tháp Mười, phảng giò nai được nông dân vùng Cần Đước, Cần Giuộc sử dụng, phảng gai được dùng chủ yếu để chặt, chém hay phát cỏ bờ, cỏ ruộng. Tùy theo tính chất chuyên dùng và kinh nghiệm của người sử dụng thì cây phảng mới có thể phát huy được công năng của nó: nếu phát cỏ bờ thì hai tay cầm phảng, đưa lên cao để lấy đà và chặt xuống mép bờ bên trái, vừa chặt vừa lùi dần. Còn khi phát cỏ ruộng thì vung phảng và khom lưng sao cho lưỡi nằm ngang dưới nước, song song với mặt nước, lia lưỡi phảng nương theo nước, lướt tới mà không nghiêng lưỡi để bị nước cản, hạn chế lực của nhát chém. Theo ghi nhận của Trịnh Hoài Đức thì ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XIX với lối làm ruộng trên ruộng cỏ (thảo điền) có bùn sâu, không dùng trâu cày mà chỉ "phát chặt năn lác, cào cỏ đắp bờ rồi cấy" (1). Điều này cũng phù hợp với công năng của chiếc phảng được các lão nông ở Cần Đước khẳng định: trước đây, chiếc phảng cổ cò được dùng để phát cỏ, dọn đất sạch trước khi cấy. Khi ấy, ruộng chỉ làm lúa một vụ và cho đến khi làm hai vụ thì cây cỏ ít có điều kiện phát triển nên cái phảng cũng đã nhường chỗ cho cái cày trong khâu làm đất.

Nhắc đến cây phảng phát cỏ, thì nó phải đi kèm với cây cù nèo móc cỏ. Cù nèo có cán bằng gỗ, nối với cổ và lưỡi bằng sắt, vòng lưỡi như lưỡi liềm (lưỡi hái). Tay phải dùng phảng phát một nhát thì tay trái cầm cù nèo móc số cỏ đã đứt lìa gốc, kéo gom một chỗ cho trống chân cỏ để tiếp tục phát nhát phảng kế tiếp.

CayDoi.jpg

Cày, bừa, trục- nông cụ làm đất.

Con trâu đi trước, cái cày đi sau là hình ảnh thân quen thường xuất hiện trên những cánh đồng quê Việt Nam. Sự hiện diện của cái cày đã giải phóng phần nào sức lực cho con người. Để có thể làm ruộng trên vùng đất có địa hình, thổ nhưỡng phức tạp như vùng đất Long An, người nông dân đã tiếp nhận và sử dụng nhiều loại cày có công năng kỹ thuật khác nhau. Đó là kết quả của nhiều năm cải tạo đất, giao lưu văn hóa với các vùng miền để có được chiếc cày phù hợp. Vùng Cần Đước và Đồng Tháp Mười (Long An) thường sử dụng loại cày đỏi, cày đoạn... để xới đất, lật các lớp trên của đất, đem chất dinh dưỡng mới lên bề mặt và chôn lấp cỏ dại để chuẩn bị bước đầu cho gieo sạ. Với chiếc cày đỏi, nông dân Cần Đước thường dùng người mà không dùng trâu để kéo, vì đất quá lầy lội, sụp lún trâu rất khó đi nhưng nhờ đất mềm nên có thể dùng năm sáu người để kéo thì có hiệu quả hơn (2).

Bừa có đặc điểm chung là kết cấu đơn giản, chất liệu chủ yếu bằng gỗ và tre và thường do người nông dân tự làm. Đây là nông cụ để làm tơi những luống đất mà cái cày lật lên trước khi sạ lúa.

 Trục là nông cụ dùng để cán, nhận cỏ ruộng hoặc dùng để băm nhuyễn đất cày. Giống như nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất Long An thường sử dụng loại trục khía (trục trái khế ) và trục chông. Theo kinh nghiệm của các lão nông nơi đây thì với ruộng bùn sâu có thể dùng kỹ thuật trục nhận, trục đi trục lại nhiều lần để nhấn cỏ chìm sâu khỏi mặt đất, rồi mới cấy lúa.

Ván mạ, nọc chày - nông cụ gieo cấy.

Ván mạ là một tấm ván chuyên dùng được nối với cái cày và ách đôi cho trâu kéo để chở mạ (thay vì gánh mạ) rải đều trên ruộng. Khi xếp mạ lên ván người ta thường xếp quay đầu bó mạ vào trong và đưa rễ ra ngoài, xếp cao hơn đầu người và chỉ cần 4 ván mạ là đủ số mạ cấy cho 1 mẫu đất. Ngày trước, khi làm lúa mùa, tép mạ lớn, bó mạ to và nặng nên phần lớn nông dân không gánh mà dùng ván cho trâu kéo về ruộng. Ngày nay, nông dân áp dụng kỹ thuật sạ lúa và trồng lúa ngắn ngày (tép mạ thấp, bó nhỏ và nhẹ) nên ván mạ hầu như không còn sử dụng.

Nọc cấy gắn liền với đời sống của người nông dân Nam Bộ vào những năm đầu khai phá đất hoang, phát cỏ xong, đất vẫn còn gốc cỏ, rễ cây mọc tua tủa và bén ngót nên không thể dùng tay để cấy mà dùng nọc tạo lỗ rồi cắm mạ xuống. Vùng Đồng Tháp Mười (Long An), ruộng có nước sâu, mạ tốt nên nông dân sử dụng loại nọc cổ bồng để chọc lỗ cấy, còn vùng Cần Đước sử dụng loại nọc chày và nọc nhánh. Nọc chày có cán dài nối liền với phần nọc to ra và đầu nhọn để chọc lỗ cấy ở nơi đất rẫy, lầy lội. Người chọc lỗ cấy thường là nam sẽ đi giật lùi, chọc lỗ theo hàng ngang để người đi sau cấy vào lỗ. So với đồng bằng sông Cửu Long, Cần Đước là nơi mà cây nọc cấy có hình dáng khá đẹp: dài, có cán cong vút, đầu nọc khá cầu kỳ, mang tính thẩm mỹ cao (3).

GauVai.jpg

Gàu giai, xa quạt nước- nông cụ đưa nước vào ruộng.

Gàu giai được đan bằng tre, có 4 thanh tre kẹp ở miệng, đáy và hai bên cho cứng, 4 đoạn dây được nối ở 2 bên miệng và đáy gàu. Tác nước bằng gàu giai phải có 2 người cùng cầm 2 đoạn dây và hạ gàu xuống rồi múc nước, kéo lên đổ vào ruộng.

Xa quạt nước có cấu tạo là một trục gỗ dài, mỗi đầu trục gắn các chân đạp, ở giữa trục có 8 cánh quạt. Bộ phận dẫn nước đặt dưới trục gồm 2 thanh gỗ đặt song song có gắn chân và mang theo môt cái ống để hứng nước.  Dùng xa quạt để dẫn nước vào ruộng phải có 2 người, đứng trên chân đạp ở 2 đầu trục, đi giật lùi làm cho trục quay, đưa nước vào lồng máng.

BoDapLua.jpg

Vòng hái, bồ đập lúa- nông cụ thu hoạch.

Vòng hái được làm bằng loại gỗ nhẹ và chắc, có cán dài, trên thân khoét một cái rãnh để cắm lưỡi hái. Lưỡi hái cấu tạo theo dạng răng chấu rất bén. Vòng hái phù hợp việc gặt lúa mùa, thân cao. Khi nông dân chuyển sang trồng lúa ngắn ngày, thân thấp, bụi nhỏ thì chỉ cần sử dụng phần lưỡi hái để cắt lúa. Sau đó là đến lưỡi liềm, với lưỡi dài hơn lưỡi hái cũng được người nông dân sử dụng trong việc cắt lúa. Lưỡi hái, lưỡi liềm thay thế vòng hái, lúa cắt trên đồng được rãi thành hàng, người nông dân không phải cộ lúa về nhà mà đã có cách lấy hột lúa ngay tại ruộng, và bồ đập lúa đã xuất hiện.

Bồ đập lúa cấu tạo có 2 chân để trượt trên đồng cùng phần che 3 phía để lúa khỏi văng ra ngoài khi đập, bộ phận bàn đập là những thanh gỗ tròn song song. Khi đập lúa, người đập nắm chặt bó lúa nhỏ bằng cái kẹp đập mạnh vào bộ phận bàn đập sao cho hạt lúa văng vào bồ.

Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, canh tác nông nghiệp đang từng bước chuyển sang cơ giới hóa, máy móc đã được thay thế sức người, sức vật, sức kéo. Từ đó, các nông cụ thô sơ bị mai một, thậm chí đang dần biến mất khỏi đời sống nông thôn. Có thể rồi mai đây cây phảng khẩn hoang, chiếc nọc cấy của vạn hò… sẽ đi vào dĩ vãng, còn chăng chỉ được tìm thấy trong sách báo, tranh ảnh, trong các nhà bảo tàng. Vì vậy, sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng Long An là rất quý, có ý nghĩa về văn hóa, xã hội. Bộ sưu tập chính là những kỷ vật gắn bó với người nông dân trên vùng đất Long An nói riêng, Việt Nam nói chung một thời lam lũ, làm nên hạt gạo, củ khoai nuôi sống cả dân tộc. Đây là di sản văn hóa của cha ông phải được bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị để nó không bị chìm sâu vào dòng chảy của cuộc sống hiện đại./.

                                                                              Bài, ảnh:  Đỗ Thị Lan

                                                                                                           (Bảo tàng LA)

(1) Gia Định thành thông chí, Sản vật chí, sđd, tờ 3b.

(2) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.121.

(3) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.140.

15/10/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC

Hội thi chưng mâm ngũ quả và bình bông thờ cúng gia tiên do Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức mừng Xuân Canh Tý 2020 đã góp phần giữ gìn nét truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tham gia hội thi, các xã, thị trấn đã mang đến những tác phẩm nhiều màu sắc, có sự sáng tạo, độc đáo trong cách trình bày và lựa chọn nguyên liệu. Những loại trái cây quen thuộc tượng trưng cho thành quả lao động cả năm của con cháu như dưa hấu, mãng cầu, dừa, bưởi, xoài,... được tạo dáng rồng, phụng, trang trí đèn led, dây chốp tắc khá công phu; hay các loại hoa với sự kết hợp nghệ thuật tạo hình và sự sáng tạo tạo nên những tác phẩm đẹp, tinh tế với ý nghĩa thể hiện tấm lòng và sự tưởng nhớ công ơn tổ tiên, cầu mong những điều tốt đẹp và may mắn trong năm mới.

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Dinh-1.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Định

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Huu Dong.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Hựu Đông

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Tan An.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Tân Ân

31-1-2020 trao giai cho cac don vi du thi.jpg

Ban tổ chức trao giải cho các đơn vị dự thi

Ban Tổ chức đã trao giấy khen của Chủ tịch UBND huyện cho 2 giải nhất, 2 giải nhì, 4 giải ba; giấy khen của Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện cho 6 giải khuyến khích. Qua hội thi nhằm duy trì nét văn hóa đặc trưng ngày Tết của người Việt, đồng thời thể hiện sự thành kính hướng về tổ tiên và ước mong một năm mới an khang và hạnh phúc./.

Cẩm Tú

03/02/2020 10:00 SAĐã ban hànhApproved
TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANTÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

THÀNH PHỐ TÂN AN

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

(Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An)

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Thượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đương thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận Công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 Di tích Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 534/QĐ/BT ngày 11/05/1993.

HUYỆN CẦN GIUỘC

CHÙA TÔN THẠNH (Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc)

Chùa Tôn Thạnh tọa lạc tại xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808.

Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người "dân ấp dân lân", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: "Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ".

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh "rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng" như xưa. Tuy nhiên, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng. Trong khuôn viên chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Năm 2003, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến và vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền.

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Chùa Tôn Thạnh là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/11/1997 .

RẠCH NÚI

(p Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc)

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400 ± 100 năm cách ngày nay, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ, bao gồm nhiều loại hình công cụ lao động bằng đá, xương, sừng và đồ gốm nhưng không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ: Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khác với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó, di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu (Nguyễn Văn Mỹ - quan đại thần triều Nguyễn).

Di tích Rạch Núi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Quyết định số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/06/1999.

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

CHÙA PHƯỚC LÂM

(Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước)

Chùa Phước Lâm – xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An - được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu "bánh ít", có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc hoàng, Thị giả, Thập điện, Thiện ác, Hộ pháp, Kim cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía Đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật.

Chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001.

NHÀ TRĂM CỘT

(Ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước)

Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, tại ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Nhà có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: phần phía trước được bày trí theo kiểu ngoại khách - nội tự (ngoài tiếp khách, trong thờ tự), phần phía sau dùng để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa của vùng đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/09/1997.

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

(Ấp 1, xã Long Hòa, huyện Cần Đước)

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 13 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 3 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm, Thuận Thành và Phước Hậu.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía Nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy (1966-1967).

Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460 QĐ/VH ngày 28/06/1996.

HUYỆN CHÂU THÀNH

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

(Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành)

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, 3 gian, 2 chái. Nhà có dạng hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân "thiên tỉnh" (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 03/08/2007.

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

(Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành)

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông sinh ngày 28/5 năm Đinh Hợi tức ngày 21/07/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/08/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông - nhà trí thức yêu nước,  người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

Khu lưu niệm Nguyễn Thông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 04/2001-QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001.

DI TÍCH ĐÌNH TÂN XUÂN

(Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành)

Đình Tân Xuân là di tích lịch sử văn hóa, một trong những ngôi đình cổ trên đất Long An. Đây là nơi ghi dấu tín ngưỡng thờ thần trong quá trình di dân lập ấp, đồng thời gắn liền sự kiện lịch sử, sự hy sinh oanh liệt của nhà yêu nước Đỗ Tường Tự, người thủ lĩnh cuối cùng của phong trào nông dân khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tân An.

Hàng năm, vào ngày 15-16/1 âm lịch tại đình diễn ra Lễ hội làm chay rất đặc sắc, quy tụ hàng ngàn người dân tham dự. Lễ hội làm chay có đặc trưng độc đáo là liên kết, tổng hòa nhiều thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng dân gian trên địa bàn như: đình Dương Xuân Hội, chùa Ông (Linh Võ tự), Âm Nhơn miếu (miễu cô hồn), Linh Phước tự, thánh thất Phương Quế Ngọc Đài. Lễ hội quy tụ hầu hết nhân dân các giới và các tôn giáo tham gia hành lễ. Về phần lễ, có những nghi thức cổ truyền đã có từ hơn một thế kỷ qua như: Thỉnh Tiêu Diện đại sĩ từ Linh Phước tự về chùa Ông; thỉnh Phật, thỉnh thầy từ Linh Phước tự về Đình Dương Xuân; cúng tế, đề phan liệt sĩ; cúng cô hồn ở Miếu Âm Nhơn; lễ chiêu u (rước cô hồn ) từ các nơi trong huyện về giàn ông Tiêu; nghi lễ đánh động, thỉnh thầy, thỉnh kinh; nghi lễ phóng đăng, phóng sinh; nghi lễ đốt nến, thả bèo, nghi lễ Chạy kim đàn và xô giàn, tiễn khách. Về phần hội, có những trò chơi dân gian cho nhân dân vui chơi như: Bịt mắt đập nồi, nhảy bao bố, kéo co, thả-bắt vịt…

Di tích đình Tân Xuân được xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 4109/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Lễ hội làm chay cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4205/QĐ-BVHTT ngày 19/12/2014.

HUYỆN THỦ THỪA

ĐÌNH VĨNH PHONG

(Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa)

Đình Vĩnh Phong tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

Đình Vĩnh Phong được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1811/1998/QĐ-BVHTT  ngày 31/08/1998.

HUYỆN BẾN LỨC

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

(Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức)

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn, bởi vì đây là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm: Ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông. Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn tọa lạc tại ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930-1945). Đồng thời đây là nơi ghi dấu một số hoạt động của các nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

HUYỆN TÂN TRỤ

VÀM NHỰT TẢO

(Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ)

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L'Espérance của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: "Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang". Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: "Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, UBND tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28/6/1996.

HUYỆN ĐỨC HUỆ

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

(Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ)

Các địa điểm thuộc căn cứ Bình Thành còn được gọi là di tích Bình Thành hay Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An, tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An.

Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói rằng, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

Di tích căn cứ Bình Thành đã được Bộ Văn hóa – Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BT ngày 04/12/1998.

HUYỆN ĐỨC HÒA

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

(Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa)

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5.000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/06/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng  7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 04/06/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn, thể hiện lòng tin của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

Ngã Tư Đức Hòa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH-QĐ, ngày 05/09/1989.

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN

 CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

(Ấp Giống Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa)

Nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ là nơi  đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật để thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn vào ngày 06/03/1930.

Chi bộ ra Nghị quyết: "Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy". Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng 3 tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

Khu nhà ông Bộ Thỏ tại ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL  ngày 31/10/2013.

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

(Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa)

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước hay còn gọi khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng Đông Bắc thành phố Tân An, cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách Tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía Đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn Đông Nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570-VH/QĐ  ngày 05/09/1989.

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

(Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa)

Di tích An Sơn  được hai nhà khảo cổ người Pháp là L. Malleret và P. Levy phát hiện từ năm 1838 và trải qua 3 lần khai quật lớn vào các năm 1978, 1997, 2004 do các nhà khảo cổ trong và ngoài nước thực hiện. Các cuộc khai quật này đã phát hiện nhiều di tích, di vật đa dạng, phong phú có thể tái hiện sinh động phương thức sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ nơi đây.

Đây là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hoá dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, là một đối tượng quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học ở Long An và Đông Nam Bộ.

Di tích An Sơn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 324/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011.

HUYỆN TÂN THẠNH

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ (1946 – 1949)

(Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh)

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

Di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ (1946-1949) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT ngày 03/08/2007.

HUYỆN VĨNH HƯNG

GÒ Ô CHÙA

(Ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng)

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc- 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3 m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến 2.000 năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1.000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

Gò Ô Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp dạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

                              Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền, PHÒNG NGHIỆP VỤ

                                         BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH LONG AN

01/07/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của ông Đỗ Tường Phong và ông Đỗ Tường Tự ở Châu ThànhTruyền thuyết về cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của ông Đỗ Tường Phong và ông Đỗ Tường Tự ở Châu Thành

Ông Đỗ Tường Kiên và ngôi nhà 36 cửa – Trung tâm liên lạc của nghĩa quân trong phong trào vũ trang kháng Pháp của Thủ Khoa Huân
 

    Đầu thế kỷ XIX, theo dòng lưu dân Nam tiến có 3 anh em họ Đỗ quê ở Quảng Trị theo đường biển vào Nam khai phá khu vực hạ lưu sông Vàm Cỏ. Người anh cả dừng chân ở Nhựt Ninh khai phá đất đai xung quanh khu vực miểu Ông Bần Quỳ. Hai người em tiếp tục theo dòng Vàm Cỏ Tây ghé vào Tầm Vu và định cư tại đó. Thưở ấy đất đai còn hoang vu, rậm rạp đầy thú dữ và rắn độc. Hai anh em họ Đỗ ra sức chặt cây, phát cỏ, quyết tâm biến mảnh đất hoang vu thành ruộng vườn.Người anh là Đỗ Tường Kiên khẩn đất từ Bàu Chà, Ao Vang (ranh giới giữa xã Dương Xuân Hội và Long Trì ngày nay) đến Bàu Đôi, Bàu Lẻ, Cây Keo (giáp ranh xã Bình Cách – Tiền Giang ngày nay). Ông Đỗ Tường Kiên còn khẩn thêm một dây đất ở thôn Bình Trị (nay thuộc xã Phú Ngãi Trị), còn người em là Đỗ Tường Ngọc khai khẩn vùng đất từ Ao Vang đến xã Long Trì. Với bản tính siêng năng tháo vát, chẳng bao lâu anh em họ Đỗ đã làm chủ một số đất đai lớn. Ông Đỗ Tường Kiên khẩn được 51 mẩu đất và trở nên khá giả. Ông kết hôn  với bà Huỳnh Thị Đức – người thôn Bình Trị – và sinh được 4 con trai là Đỗ Tường Phong, Đỗ Tường Tự, Đỗ Tường Thoại và Đỗ Tường Soạn. Bà Huỳnh Thị Đức nổi tiếng là người nhân hậu, chính bà đã từng giúp đỡ việc việc đèn sách cho Nguyễn Thông – một trí thức yêu nước lớn của Việt Nam.Sẳn tiền của, ông Đỗ Tường Kiên đã cho xây dựng tại làng Dương Xuân (nay thuộc xã Dương Xuân Hội) một ngôi nhà lớn nhất vùng với 36 cửa, xung quanh được bao bọc bởi 6 lớp rào tre.
 

Năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định, và đánh chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ năm 1861. Lúc bấy giờ ở vùng Long Trì, Bình Cách, Tầm Vu, Dương Xuân Hội, Hiệp Thạnh, Vĩnh Công…phong trào vũ trang chống Pháp dấy lên rất mạnh với các thủ lĩnh nghĩa quân như Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị, Trần Văn Trà, Nguyễn Hữu Huân. Với khả năng tài chính của mình, ông bà Đỗ Tường Kiên – Huỳnh Thị Đức đã hết lòng giúp đỡ quân kháng chiến về tiền bạc, lương thực. Ngôi nhà 36 cửa của họ Đỗ cũng trở thành trung tâm liên lạc của các thủ lĩnh nghĩa quân kháng chiến.

Trước ưu thế quân sự của thực dân Pháp và thái độ chủ hòa của Triều đình Huế, các phong trào kháng chiến ở Nam Bộ nói chung và huyện Tân Thạnh (Châu Thành ngày nay) nói riêng dần dần thất bại. Ông Phan Văn Đạt bị Pháp giết, Thủ Khoa Huân bị bắt đày sang Nam Mỹ. Năm 1869, Pháp đưa Thủ Khoa Huân về Sài Gòn và giam lỏng tại nhà việt gian Đỗ Hữu Phương. Đến năm 1872, Thủ Khoa Huân bí mật trở về Bình Cách và tổ chức một phong trào kháng Pháp mới. Hai người con trai của ông Đỗ Tường Kiên là Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân. Nhà 36 cửa lúc này lại là một trung tâm liên lạc lớn của nghĩa quân. Nhưng cuộc khởi ngĩa lần 2 của Thủ Khoa Huân cũng bị thất bại. Ông bị Pháp bắt vào tháng 4/1875 và bị chém tại Mỹ Tịnh An. Thực dân Pháp biết họ Đỗ đã từ lâu ngấm ngầm ủng hộ quân khởi nghĩa, nên đã bắt giam  ông Đỗ Tường Kiên, dọa nạt, tra tấn, buộc ông phải gọi 2 người con ra đầu thú. Ông kiên quyết chối từ nên bị Thực dân Pháp đã đánh đập dã man, đến khi thấy sức khỏe của ông quá yếu chúng phải cho bà Huỳnh Thị Đức lãnh ông về nhà. Chẳng bao lâu ông Đỗ Tường Kiên mất vào ngày 20-10 âm lịch năm Đinh Sửu (1877), mộ chôn gần nhà 36 cửa. Giặc Pháp tiếp tục mua chuộc, ép buộc bà Huỳnh Thị Đức gọi 2 con ra hàng nhưng bà vẫn không khuất phục. Cuối cùng Thực dân Pháp quyết định cho đốt ngôi nhà 36 cửa. Khi ngôi nhà này bị đốt, thóc lúa trong nhà cháy đến một tháng sau vẩn còn khói. Pháp còn đem người con út của họ Đỗ là Đỗ Tường Soạn cắt gân, khắc nhượng cho tàn phế vì cho rằng ông có dính líu đến nghĩa quân. Về phần bà Huỳnh Thị Đức, sau khi ngôi nhà bị cháy bà  phải về nương náu ở Bình Trị và qua đời tại đây.

 

Nhà 36 cửa hiện chỉ còn một ngôi vườn rộng khoảng 5000m2 giữa đồng trống thuộc xã Dương Xuân Hội. Tuy đã bị đốt cháy từ lâu, nhưng tại đây vẩn còn  phế tích là những đống gạch ngói đổ nát rất lớn đủ để chứng minh quy mô xưa kia của ngôi nhà như thế nào.

 

Anh em Đỗ Tường Phong – Đỗ Tường Tự và cuộc khởi nghĩa năm 1878  ở Tầm Vu – Bình Cách:

 

Ông Đỗ Tường Phong là con cả và ông Đỗ Tường Tự là người con thứ ba trong một gia đình giàu có ở làng Dương Xuân (nay thuộc xã Dương Xuân Hội – huyện Châu Thành). Song thân của hai ông là ông bà Đỗ Tường Kiên-Huỳnh Thị Đức, một trong những người đầu tiên có công khai phá vùng đất Tầm Vu, Dương Xuân Hội thuộc huyện Châu Thành ngày nay.Thưở nhỏ, hai ông được cha mẹ cho học chữ Hán. Khi hai ông trưởng thành, thì Thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Trước cảnh nước mất nhà tan, ông Đỗ Tường Phong đã tòng quân theo Trương Định lập căn cứ kháng Pháp ở Tân Hòa (Gò Công). Năm 1864 căn cứ Tân Hòa thất thủ, Trương Định tự sát, ông Đỗ Tường Phong phải ra Huế nhận một chức quan để đợi thời cơ về Nam đánh Pháp.

Ở vùng Tân Thạnh – Kiến An [Châu Thành (Long An) và Chợ Gạo (Tiền Giang)] từ 1872 đã nổ ra cuộc khởi nghĩa lần 2 do Thủ Khoa Huân lãnh đạo. Lúc bấy giờ, ông Đỗ Tường Phong đã bí mật từ  Huế trở về tham gia cuộc khởi nghĩa này. Ông Đỗ Tường Tự năm 1874 đang làm Hương Thân làng Dương Xuân cũng đã gia nhập vào hàng ngũ kháng chiến. Ông đã bán 3 mẫu đất được gia đình chia cho ở Vĩnh Xuân (nay thuộc xã Dương Xuân Hội) để lấy tiền nuôi nghĩa quân. Tháng 9/1874, Pháp huy động lực lượng mạnh do Trần Bá Lộc chỉ huy tấn công vào căn cứ Bình Cách. Đến tháng 4/1875, Pháp bắt được Thủ Khoa Huân và đem xử chém tại làng Tịnh Hà, Chợ Gạo. Trước tình thế ấy, hai ông Đỗ Tường Phong – Đỗ Tường Tự đã quyết tâm tiếp nối ngọn cờ khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân. Hai ông đã tập hợp những nghĩa quân đang phiêu tán trong vùng và chiêu mộ những người yêu nước khắp nơi tới ứng nghĩa. Ông Đỗ Tường Tự còn bán tiếp phần ruộng Cây Keo để làm quân phí và mua thuốc súng, vũ khí. Nghĩa quân tụ họp ngày càng đông, hai ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự quyết định chọn vùng Long Trì, Bình Cách làm căn cứ khởi nghĩa. Giặc Pháp biết việc này nên đã tra tấn ông Đỗ Tường Kiên đến nổi phải mang bệnh mà chết. Chúng còn cho đốt nhà 36 cửa, cắt gân ông Đỗ Tường Soạn để ép buộc hai ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự phải ra đầu thú. Nhưng cả gia đình họ Đỗ đã kiên quyết ủng hộ hai ông đứng lên khởi nghĩa. Sang năm Mậu Dần 1878, sau khi chuẩn bị mọi điều kiện về vũ khí, lương thực, đạn dược, hai ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự làm lễ xuất quân ở ruộng Cây Keo (nay thuộc ấp Vĩnh Xuân , xã Dương Xuân Hội) rồi tiến đánh đồn Bình Cách. Sau đó nghĩa quân về căn cứ Long Trì-Bình Cách và tập kích các đồn Pháp trong vùng. Giặc Pháp bèn đem lực lượng đến đàn áp nghĩa quân. Do lực lượng có hạn, chiến đấu đơn độc không có lực lượng tiếp ứng, lại bị bọn gian thương bán súng giả…nên nghĩa quân nhanh chóng thất bại. Nhiều nghĩa quân bị Pháp bắt, chém đầu chôn chung trên một gò đất ở Vĩnh Xuân mà hiện nay nhân dân vẫn gọi là Gò trăm đầu. Thất trận ông Đỗ Tường Tự lánh về Phú Hòa (nay là xã Trung Hòa – Tiền Giang), đến ngày 23/4 năm Mậu Dần (1878) ông bị Pháp bắt giải về làng Dương Xuân. Bọn giặc ra sức dụ hàng ông, chúng hứa sẽ cho ông lãnh chức Tổng trấn Tân An – Mỹ Tho nhưng ông đã khảng khái chối từ. Ba hôm sau, ngày 26/4, Pháp đem ông đến đình làng Dương Xuân xử tử. Hương chức và dân làng đều cảm phục Đỗ Tường Tự. Họ kéo nhau đến chợ Tầm Vu thật đông đảo để tiễn ông. Mẹ ông và vợ con ông đã bày sẳn một mâm cơm để tế sống ông. Bà Châu Thị Đạt - vợ ông Đỗ Tường Tự , người làng Thuận Lễ – dẫn 3 người con đến lạy ông mỗi người 4 lạy. Ông Đỗ Tường Tự đầu bịt khăn tang lạy mẹ mình là bà Huỳnh Thị Đức, rồi hướng về Thuận Lễ lạy mẹ vợ. Sau đó ông bồng 2 người con trai là Đỗ Tường Hiệu và Đỗ Tường Tị lên đùi và dặn rằng:“Ta còn sống thì đánh Pháp đến cùng, đến chết mới thôi. Ta cấm con cháu không đứa nào được ăn cơm của Tây. Phần ta thì chết đâu chôn đó, khỏi xây mồ mả gì cả”.

 

Sau cùng ông rót rượu cảm ơn bà con và Hương chức đã đến tiễn đưa, rồi ung dung để cho giặc đưa ra pháp  trường ở phía sau đình Dương Xuân. Khi bọn Pháp bịt mắt ông chuẩn bị bắn, ông nói:“Đừng bịt mắt, hãy để ta thấy súng Tây trước khi chết”.

 

Sau khi ông mất, bà con chợ Tầm Vu góp tiền tặng ông một cỗ quan tài tốt. Vợ ông mang đến một đôi chiếu Thuận Lễ để tẩn liệm cho ông. Theo di huấn, mọi người mai táng ông bên con đường mòn cạnh pháp trường phía sau đình  Dương Xuân. Người cận vệ của ông vốn là dân tộc thiểu số, mọi người thường gọi là ông mọi,  vì quá tiếc thương chủ tướng nên xin được chết theo cho trọn nghĩa. Giặc Pháp bèn bắn luôn người nghĩa sĩ vô danh này, và chôn bê cạnh mộ ông Đỗ Tường Tự.

 

Về phần ông Đỗ Tường Phong, sau khi thất trận ở Bình Cách - Long Trì, ông tạm lánh về Tân Hương – Mỹ Tho rồi bị Pháp bắt đem về Bình Lập (nay thuộc Thị xã Tân An). Ngày 29/4 năm Mậu Dần, Pháp xử chém ông tại nghĩa địa Tân An (nay thuộc ấp Bình Nam, Thị xã Tân An). Đao phủ là Đội Rựa – người Cần Thơ – thực hiện bản án. Tương truyền ông Đỗ Tường Phong trước lúc mất có cầm cây quạt ngà đưa cho Đội Rựa và nói rằng:“Đội Rựa đưa ta một đao cho tốt, ta tặng mi cây quạt ngà”.

Đội Rựa lạy ông 3 lạy rồi nói: “Quan lớn vươn cổ cho ngay để tôi khai đao cho ngọt”.

 

Nói xong, Đội Rựa mới vung đao tiễn ông về chín suối. Gia đình họ Đỗ đem ông về an táng ở thôn Bình Trị (nay thuộc xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành).

 

*Vài dấu tích còn lại:

Cuộc khởi nghĩa chống Pháp của 2 anh em Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự đã diễn ra cách nay hơn một thế kỷ, nhưng dư âm của nó còn tồn tại qua ký ức của nhân dân và những di tích – địa danh trên đất Châu thành.

 

-Mộ ông Đỗ Tường Tự và ngôi miếu thờ:

Tương truyền, sau khi qua đời, Đỗ Tường Tự vẫn thường hiển linh cho nhân dân quanh chợ Tầm Vu thấy nên mọi người đã xây một ngôi miếu nhỏ để thờ ông. Qua sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, ngôi miếu này hiện nay không còn nữa. Nhân dân đã đem linh vị của ông Đỗ Tường Tự  vào thờ trong đình Tân Xuân.

Ngôi mộ của ông Đỗ Tường Phong và người cận vệ đến năm 1994 vẫn còn là ngôi mộ đất nằm cạnh con đường nhỏ thuộc phần đất của ông Đỗ Thanh Hùng. Năm 1994, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã xây lại mộ ông Đỗ Tường Tự bằng xi măng. Hiện nay đình Dương Xuân và mộ ông Đỗ Tường Tự đang được lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định đăng ký di tích lịch sử – văn hóa.

-Mộ ông Đỗ Tường Phong:

Tương truyền năm 1878, Thực dân Pháp chém ông Đỗ Tường Phong chỉ trả lại thân còn đầu thì bêu để thị chúng. Gia đình phải làm lại đầu ông bằng sáp chắp vào thân để mai táng ở Bình Trị. Mộ ông được xây bằng đá ong, đến năm 1991 Sở Văn hóa Thông tin Long An đã cho cải táng và xây lại bằng ciment.

-Gò Trăm Đầu:

Gò Trăm Đầu nằm trên phần ruộng Cây Keo là nơi vào năm Mậu Dần (1878) ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự đã làm lễ xuất quân đánh Pháp. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Pháp đã cho chém đầu hàng loạt nghĩa quân rồi chôn chung thành một gò mả ở ruộng Cây Keo nên nhân dân gọi đây là Gò Trăm Đầu. Ngày nay Gò trăm đầu chỉ còn là một gò đất nhỏ, trên mọc lơ thơ vài ba cây trâm bầu.

-Gò Ông Tự – Gò Ông Chử:

Tọa lạc tại ấp Long Bình - xã Long Trì - huyện Châu Thành, nơi đây từng là căn cứ của một bộ phận nghĩa quân trong phong trào khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân và Đỗ Tường Phong -  Đỗ Tường Tự sau này.

Gò Ông Tự, có người giải thích đây là nơi ông Đỗ Tường Tự đóng quân, theo các cụ già trước đây rất rộng, cây cối rậm rạp. Hiện nay gò này chỉ còn lại một phần nhỏ, phía trên mặt gò mọc nhiều cỏ cây hoang dại.

Gò Ông Chử (nơi một bộ tướng tên Chử đóng quân) cách Gò Ông Tự chừng 100m ngày nay chỉ còn là một dãy đất cao 0,5m , rộng 2,5m , chạy dài 30m. Cách nay khoảng 30-40 năm, gò này vẫn còn cao ngang ngực, giống như một lũy đất có lẫn đá ong, thân lũy có đóng nhiều cây cột bằng gỗ trai. Hiện tại bên dưới lớp đất của Gò Ông Chử vẫn còn tìm thấy nhiều tảng đá ong xếp nối nhau làm nền. Có thể đây là một chiến lũy cũ trong hệ thống căn cứ kháng chiến của Thủ Khoa Huân và Đỗ Tường Phong -  Đỗ Tường Tự  xưa kia.
                                                                                                Nguyễn văn Thiện

 

 

14/05/2013 3:17 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC GÒ DUỐI ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP TỈNH DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC GÒ DUỐI ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP TỈNH

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định xếp hạng di tích khảo cổ học cấp tỉnh đối với Di tích khảo cổ học Gò Duối. Di tích khảo cổ học Gò Duối thuộc ấp Trung Trực, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, cách tỉnh lộ 831C khoảng 500m về hướng Tây, có diện tích khoảng 4.727,3 mét vuông, nằm trên gò cao khoảng 2 mét so với mặt ruộng xung quanh, được Bảo tàng – Thư viện tỉnh Long An phát hiện vào ngày 18/01/1996 từ thông tin của những người dân đào vàng.

26-4-2019 hinh 1.jpg

Tính đến nay, Di tích khảo cổ học Gò Duối đã trải qua nhiều đợt khảo sát và một đợt khai quật vào tháng 10/2013 với diện tích hố khai quật 20 mét vuông, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 2 vết tích bếp lửa, 3 mộ táng và hiện vật thu được gồm: 03 hiện vật sắt, 21 hiện vật đồng, 02 hiện vật đồ trang sức bằng thủy tinh, 05 hiện vật đá, 06 mảnh gạch, 08 đồ gốm nguyên (dọi se sợi, bi và bát chân cao), 1.816 mảnh chạc gốm và 1.235 mảnh gốm vỡ (mảnh miệng, thân, đế của nồi, bình, bát bồng, vò…). Chất liệu gốm được chia làm ba nhóm, đó là gốm xương nâu đỏ, gốm xương đen và gốm xương vàng.

Theo các nhà khảo cổ học, di tích có niên đại bắt đầu khoảng 2.500 năm BP (cách ngày nay) và niên đại kết thúc khoảng cận kề trước sau công nguyên thuộc hậu kỳ kim khí. Di tích là nơi sinh sống lâu dài của cộng đồng cư dân cổ với những hoạt động kinh tế - văn hóa phong phú, tiêu biểu là tín ngưỡng tục chôn cất người chết. Đây là loại di chỉ cư trú, mộ táng có tầng văn hóa dày, phát triển liên tục và tương đối ổn định.

26-4-2019 hinh 2.jpg

Với những giá trị di tích, hiện vật quan trọng được phát hiện qua quá trình khai quật, Di tích khảo cổ học Gò Duối được UBND tỉnh Long An xếp hạng là di tích khảo cổ học cấp tỉnh, góp phân nâng tổng số di tích khảo cổ học cấp tỉnh của huyện Vĩnh Hưng lên hai di tích, sau di tích khảo cổ học Lò Gạch./.

 Phú Hùng

02/05/2019 5:00 CHĐã ban hànhApproved
KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ TRUNG ĐOÀN 207 - NƠI KẾT NỐI NHỮNG TẤM LÒNG TRI ÂN KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ TRUNG ĐOÀN 207 - NƠI KẾT NỐI NHỮNG TẤM LÒNG TRI ÂN

Có một di tích lịch sử nằm ở vùng sâu thuộc xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, việc đi lại ở nơi này còn hết sức khó khăn, nhưng vẫn có nhiều người tìm đến, đó là Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 207 - Quân khu 8. Mọi người đến đây với cái tâm thành kính đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, đến đây để thấy sự thắm đẫm tình người trong tinh thần "Đền ơn đáp nghĩa" sâu nặng của dân tộc Việt Nam.

10-10-2019 Ông Trương Tấn Sang - Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị.JPG

Đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam
(người thứ hai bên trái) dự lễ giỗ lần thứ 46 các liệt sĩ Trung đoàn 207

Đảng bộ Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn đã đưa các sinh viên ưu tú của trường đến Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 207 - Quân khu 8, tại ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa để làm nơi kết nạp đảng viên mới. Trong hoạt động về nguồn của nhiều đơn vị như Trại giam Thạnh Hòa…. đã tìm đến khu di tích này để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Bởi đây là nơi ghi nhớ tinh thần đoàn kết, tương trợ của nhân dân miền Bắc nói chung và sinh viên miền Bắc nói riêng đã hy sinh vì miền Nam ruột thịt, vì nền độc lập tự do của dân tộc.

Tháng 10 năm 1973, Trung đoàn 207 - Quân khu 8 nhận nhiệm vụ luồn sâu xuống Đồng Tháp Mười đi ngang qua ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, sau đó tập kết tại huyện Cai Lậy, tỉnh Định Tường để chuẩn bị lực lượng cho mùa khô năm 1974. Các chiến sĩ Trung đoàn 207, phần đông là sinh viên Trường Đại học Xây dựng và một số ít sinh viên Đại học Bách khoa ở miền Bắc đã tình nguyện vào miền Nam chiến đấu. Những chàng trai trẻ tuổi mười tám, đôi mươi giã từ mái trường đại học, mang súng, khoác ba lô vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam. Trên đường hành quân, các chiến sĩ đã dừng chân nghỉ lại nơi Rạch Bắt Bỏ (địa danh này có từ thời kháng chiến chống Pháp), ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước giữa bốn bề nước nổi. Tiếc rằng rừng tràm non không đủ che kín đoàn quân. Ngày 03/10/1973, giặc đã phát hiện rồi bủa vây bằng máy bay trực thăng. Pháo đạn của giặc tập nã vào đoàn quân. Do địa hình vào mùa nước nổi rất khó di chuyển, bất lợi cho triển khai chiến đấu, lại bị tập kích bất ngờ nên phần lớn các chiến sĩ Trung đoàn 207 đã hy sinh. Sau đó giặc tiếp tục bắn phá không cho ai vào lấy xác. Các chiến sĩ đã nằm lại vĩnh viễn ở nơi này, gửi máu xương tại đồng đất ấp Đá Biên.

Những năm đầu sau giải phóng, nhân dân xã Thạnh Phước tự lập ngôi miếu nhỏ để thờ và làm lễ giỗ các liệt sĩ. Sau đó, Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 207 vận động các Mạnh thường quân đóng góp kinh phí xây dựng Đền tưởng niệm. Đến năm 2012, Khu tưởng niệm liệt sĩ trung đoàn 207 với nhiều hạng mục công trình đã hoàn thành và được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm đó.

Hàng năm, vào ngày mùng 7, mùng 8 tháng 9 âm lịch, nhân dân xã Thạnh Phước và nhiều người ở khắp nơi, có cả thân nhân liệt sĩ, những cựu chiến binh của Trung đoàn 207, Ban Giám hiệu và các thế hệ sinh viên của Trường Đại học Xây dựng… cùng phối hợp với UBND huyện Thạnh Hóa, UBND xã Thạnh Phước tổ chức lễ giỗ thật long trọng, trang nghiêm. Lễ giỗ liệt sĩ Trung đoàn 207 có bánh chưng của người miền Bắc mang vào và có bánh ít, bánh tét cùa người dân trong huyện Thạnh Hóa đem đến cúng liệt sĩ… Dần dần mối quan hệ giữa cán bộ các cấp chính quyền ở huyện Thạnh Hóa, xã Thạnh Phước và những thân nhân liệt sĩ, Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 207, Ban Giám hiệu Trường Đại học Xây dựng trở nên gắn bó, thân thiết, nghĩa tình Bắc Nam càng thêm thắt chặt. Không chỉ có ngày lễ giỗ mà vào tháng 7 hàng năm, hay tết cổ truyền của dân tộc cũng có nhiều đoàn đến đây viếng thăm bằng cả tấm lòng yêu thương, biết ơn vô hạn đối với những người đã hy sinh cao cả vì nghĩa lớn.

Trong một chuyến ghé thăm Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 207, nguyên Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang nhận thấy đường đi vào nơi này còn quá trắc trở, mọi người còn phải ngồi đò cả tiếng đồng hồ mới vào được Khu tưởng niệm nên đã vận động các doanh nghiệp ủng hộ kinh phí để xây cầu. Nhân dịp lễ giỗ lần thứ 46 các liệt sĩ Trung đoàn 207, Công ty cổ phần Dược phẩm Imexpharm đã ủng hộ 3 tỷ đồng để xây cầu vào Khu tưởng niệm liệt sĩ.

10-10-2019 Nhà thuốc Nhân dân Trần Thị Đào.JPG

Bà Trần Thị Đào, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Dược phẩm Imexpharm
trao tiền tài trợ làm cầu vào Khu tưởng niệm

Hy vọng rằng sẽ có thêm nhiều tấm lòng hảo tâm ủng hộ, giúp đỡ để đường vào Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 207 ở ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước gần hơn. Để người dân khắp mọi miền đất nước đến đây nhiều hơn, hiểu sâu hơn về câu chuyện của những người lính trẻ, tuổi vừa đôi mươi phải nằm lại vĩnh viễn ở cánh đồng xa xôi trong mùa nước nổi mênh mông để đổi lấy cuộc sống thanh bình cho quê hương, đất nước. Từ đó mới biết giá trị của nền hòa bình, độc lập to lớn biết bao nhiêu mà nâng niu, gìn giữ, cùng ra sức dựng xây quê hương, đất nước ngày thêm giàu đẹp./.                                          

                                    Tin: Hồ Phượng

Ảnh: Phú Nhuận

11/10/2019 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Bộ từ khóa 2012 - công cụ làm việc hữu ích cho cán bộ Thư việnBộ từ khóa 2012 - công cụ làm việc hữu ích cho cán bộ Thư viện

Trong công tác nghiệp vụ thư viện, Bộ Từ khóa luôn là công cụ hữu ích cho việc nâng cao chất lượng xử lý tài liệu và hiệu quả tìm tin. Trước sự xuất hiện lượng thuật ngữ mới trong các cơ sở dữ liệu (CSDL) của Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) ngày càng tăng và trong xu hướng hội nhập, tài nguyên thông tin được sử dụng trên phạm vi quốc tế nên Bộ Từ khóa đã được TVQGVN biên soạn, cập nhật và chỉnh lý (năm 1997, 2005 và 2012) cho phù hợp với tình hình hiện tại.

 

Bộ Từ khóa 2012 là phiên bản mới, được phát triển từ Bộ Từ khóa 2005; ra đời trên cơ sở xử lý, lựa chọn và rút ra từ 31.000 từ khóa tự do trong các CSDL sách tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, CSDL luận án tiến sĩ khoa học của TVQGVN; từ 42.000 thuật ngữ của Bảng tra chủ đề của Khung Phân loại DDC 23; đồng thời tham khảo các thuật ngữ đang được sử dụng tại các thư viện chuyên ngành. Bộ Từ khóa 2012 gồm khoảng 35.000 thuật ngữ, chia làm 6 phần chính như sau:

Phần 1. Từ khóa chính: được sử dụng để mô tả đối tượng, phương diện nghiên cứu trong các ngành, lĩnh vực khoa học. Phần này gồm 29.000 từ (bổ sung thêm khoảng 12.000 thuật ngữ mới so với năm 2005).

Phần 2. Từ khóa nhân vật: gần 3.000 tên nhân vật Việt Nam và nước ngoài có kèm theo năm sinh năm mất, nguồn gốc dân tộc của tác giả, lĩnh vực hoạt động để thuận tiện cho việc xác định thời kỳ và nguồn gốc của nhà văn, nhà thơ đối với tác phẩm văn học. Phần này được bổ sung thêm khoảng 1.500 tên nhân vật và tên người Nga được Latin hóa; tên người Âu, Mỹ được tra cứu theo họ tên gốc (không phiên âm sang tiếng Việt).

Phần 3. Từ khóa địa danh: khoảng 2.000 từ, có hiệu chỉnh và bổ sung tên các đơn vị hành chính mới nhất của Việt Nam nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc sắp xếp như Bộ Từ khóa 2005.

Phần 4. Từ khóa viết tắt tên tổ chức: khoảng 300 từ viết tắt tên tổ chức quốc tế, khu vực (bao gồm tên viết tắt – viết đầy đủ).

Phần 5. Bảng phân chia thời kỳ đối với tác phẩm văn học, lịch sử của Việt Nam và Thế giới.

Phần 6. Hướng dẫn sử dụng Bộ Từ khóa: gồm các quy định cụ thể khi sử dụng Bộ Từ khóa.

Sự ra đời có chỉnh lý, bổ sung các gốc từ và thuật ngữ cơ bản của tất cả các lĩnh vực khoa học để đảm bảo sự cân đối, độ đầy đủ của Bộ Từ khóa 2012 trong thời điểm hiện tại đã giúp ích và đáp ứng nhu cầu cấp thiết về công cụ làm việc của cán bộ ngành thư viện.

                                                                                                           AN THANH

30/05/2013 2:42 CHĐã ban hànhApproved
Sông Bảo Định xưa và naySông Bảo Định xưa và nay

Mỗi khi nhắc đến Long An, dù gần hay xa, du khách thường nghĩ ngay đến một Long An trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc, nhớ đến  dòng Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đi vào thơ ca, nhạc họa. Nhưng ít người biết đến một dòng sông có lịch sử lâu đời, được vua Gia Long đặt tên và cũng là con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới - chiếc xáng múc. Đó  là  sông Bảo Định.

Sông Bảo Định tục gọi là kênh Vũng Gù, là thủy lộ nối liền rạch Vũng Gù (Tân An) với rạch Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang. Kênh do Nguyễn Cửu Vân - danh tướng, triều thần đời chúa Nguyễn Phúc Chu (nhà Hậu Lê) - chỉ huy đào năm 1705 nhằm mục đích giao thông và phòng vệ. Sau một thời gian dài, con kênh dần bị bồi lấp, thuyền lớn phải đợi nước đầy mới đi được. Vì vậy, ngày 28 tháng giêng (âm lịch) năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long đã sai quan trấn thủ Định Tường là Bửu Thiện hầu Nguyễn Văn Phong lo việc nạo vét và nới rộng dòng chảy con kênh này.

Theo sử liệu, ngoài Nguyễn Văn Phong còn sự trợ giúp của Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý và vài viên quan khác nữa đã huy động 9.679 dân tráng trong trấn, chia làm ba tốp, thay nhau nạo vét. Dân phu làm thì được cấp cho mỗi người một quan tiền và một vuông gạo để chi dùng trong một tháng

Công trình cải tạo con kênh được tiến hành trong khoảng hơn ba tháng, khởi công ngày 23 tháng 2 năm 1819 và kết thúc ngày 28 tháng 5 năm 1819. Bảo Định trở thành con kênh đào đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long, được vua Gia Long đặt tên là Bảo Định hà (sông Bảo Định) và cho phép Huỳnh Công Lý được dựng bia ghi công ở bên bờ kênh gần chợ Thang Trông. Năm Ất Tỵ (1835), vua Minh Mạng cho đổi tên lại là Trí Tường giang (sông Trí Tường), có tạc bia đá dựng nơi bờ sông thôn Phú Kiết. Đời vua Thiệu Trị, không rõ năm nào, lại đổi tên thành sông An Định.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, sông Bảo Định trở thành nơi ghi dấu sự kiện lịch sử “Bảo Định hà lưu huyết”. Cuối tháng 3/1861, quân Pháp từ Vũng Gù theo kinh Bảo Định đánh chiếm thành Định Tường. Nguyễn Trung Trực - người hoạt động trong đạo quân đồn điền của Trương Định ngay từ buổi đầu tiên, lúc bấy giờ giữ chức Quyền Sung Quản Binh Đạo, hoạt động kháng Pháp tại địa bàn Phủ Tân An - đã chỉ huy nghĩa quân chặn đường hành quân của giặc Pháp, diệt tên chỉ huy là trung tá Bourdais và 30 lính. Paulin Vial, trong tác phẩm Historie de la Cochichine đã viết: “ Chưa có cuộc hành quân nào ở Nam Kỳ mà mệt nhọc và bị nhiều người chết chóc bằng cuộc hành quân này...”

Đến năm 1867, quân Pháp đã dùng máy xáng để mở rộng kênh này và cho đổi tên là Arroyo de la Poste (kênh Bưu Điện). Bảo Định trở thành con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới là chiếc xáng múc. Toàn bộ con sông dài 22km, nối liền sông Vàm Cỏ Tây khu vực thành phố Tân An với sông Mỹ Tho, riêng đoạn nằm trên địa phận Long An dài 7km.

Kể từ khi hoàn thành, sông Bảo Định luôn giữ một vai trò quan trọng về các mặt: quân sự, thủy lợi, giao thông và cung cấp một phần nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng.

Hơn 3 thế kỷ đã trôi qua, sông Bảo Định đã có nhiều thay đổi. Đoạn nối liền sông Vàm Cỏ Tây - khu vực thành phố Tân An - không còn cảnh trên bến dưới thuyền mà thay vào đó, hai bên bờ sông phố xá đông đúc, dân cư sinh hoạt, buôn bán tấp nập. Dọc theo bờ sông là các công trình văn hóa, công viên, khu vui chơi giải trí, khu hành chánh …và di tích lịch sử Nhà Tổng Thận – trụ sở công khai đầu tiên của Tỉnh ủy Tân An sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Với người dân Tân An, tự bao giờ sông Bảo Định đã gắn bó như một phần máu thịt. Và tin rằng không chỉ người dân Long An truyền tai nhau những câu chuyện gắn liền với kênh Vũng Gù - Bảo Định hà - Trí Tường giang – sông An Định – kênh Bưu Điện…, mà còn rất nhiều người biết và muốn biết về một dòng sông được ghi chép nhiều trong sách sử bởi những điều đặc biệt của nó - sông Bảo Định./.

   

Cầu dây Tân An bắt qua sông Bảo Định 

Một góc sông Bảo Định

Di tích lịch sử Nhà Tổng Thận nằm bên dòng Bảo Định

Bảo Định hà lưu huyết (trong Chống Xâm Lăng của Trần Văn Giàu)

   

Cầu Phú Kiết bắt qua dòng Bảo Định tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Chợ Phú Kiết (khu vực chợ Thang Trông xưa)- xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Công trường xây dựng cống Tân An trên sông Bảo Định

Cống Tân An trên sông Bảo Định khi hoàn thành

Bài và ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

27/06/2012 2:55 SAĐã ban hànhApproved
Chuyện bà Hớn bà Hở ở Cần ĐướcChuyện bà Hớn bà Hở ở Cần Đước

Từ lâu, đất Cần Đước đã nổi danh ở Lục tỉnh Nam Kỳ qua câu tục ngữ :”Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai” với sự phong phú, dồi dào về lúa gạo, nhất là gạo Nàng Thơm Chợ Đào- một đặc sản được dùng để tiến vua dưới triều Nguyễn. Không những thế, trong một lần đua tài đờn ca tài tử tại Bến Tre vào đầu thế kỷ XX, ông Cai Tổng Đinh Văn Dõng (người Chợ Lách) phải buột miệng khen:” Cần Đước võ vô  địch, đờn xuất chúng”. Thật vậy, đất Cần Đước đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ đàn ca tài tử nổi tiếng và những nhân vật võ nghệ cao cường, lừng lẫy một thời. Trong số đó, có những bậc anh thư như Bà Hớn, Bà Hở mà đến tận bây giờ nhiều người còn nhắc nhở.

Theo lời kể của nhiều cụ già ở xã Phước Tuy và Phước Đông, hai bà có tên là Nguyễn Thị Hớn và Nguyễn Thị Hở, con thứ năm và thứ sáu của ông Thống Sô (Nguyễn Thuyết Xã), người thôn Phước Tuy, tổng Lộc Thành Hạ, huyện Phước Lộc. Hai bà sinh khoảng năm 1855-1857 và lớn lên trong hoàn cảnh thực dân Pháp đang xâm lược Lục Tỉnh Nam Kỳ. Cha của hai bà- vốn là người nổi tiếngvề sức khỏe và võ nghệ, đã từng đứng lên chiêu mộ nghĩa quân khởi nghĩa chống Pháp ở tổng Lộc Thành Hạ-được Trương Định phong chức Thống Lãnh Binh. Kế thừa truyền thống của gia đình, ở tuổi thiếu niên, bà Hớn và bà Hở đã có sức khỏe hơn người đặc biệt là rất giỏi võ nghệ, nhất là đường roi (côn). Vùng Hạ Cần Đước thưở ấy vẩn còn rừng rậm và thú dữ, giao thông đường bộ chưa phát triển như bây giờ, việc đi lại chủ yếu bằng ghe xuồng trên hệ thống sông rạch chằng chịt. Tương truyền, mỗi khi gặp những con rạch nhỏ, hai bà chỉ cần chống ngọn côn xuống đất là có thể nhảy qua dễ dàng. Có lần, một đôi cọp dữ đã xuất hiện tại Phước Tuy, làm hại một số người và gia súc. Với tài võ nghệ của mình, hai chị em bà Năm Hớn và Sáu Hở đã hợp sức nhau dùng côn đánh chết con cọp cái và đánh bị thương con còn lại. Lớn lên, hai bà đã theo cha đánh Tây, ban đầu chỉ lo việc cơm nước, về sau trực tiếp chiến đấu cùng nghĩa quân.

Sau khi Tổng Lãnh Binh Nguyễn Văn Tiến bị Pháp bắt và xử chém tại Chợ Trạm (xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước) vào năm 1883, phong trào vũ trang kháng Pháp ở Cần Đước bước vào giai đoạn thoái trào. Ông Thống Sô vì sức yếu, tuổi già, bị giặc Pháp bao vây phải tự tử ở Phước Tuy. Bà Hớn và bà Hở nối chí cha lãnh đạo một nhóm nghĩa quân tiếp trực chống Pháp. Tuy nhiên, vì chiến đấu đơn độc, thiếu vũ khí, lương thực, nên hoạt động của nhóm nghĩa quân do hai bà lãnh đạo dần dần đi vào bế tắc và biến tướng trở thành một nhóm cướp chuyên cướp của nhà giàu và các ghe buôn lớn chia cho dân nghèo.

Có lần, toán cướp của hai bà định cướp một ghe bầu lớn đang chở đầy hàng hóa. Từ trên bờ, bà Năm Hớn phi thân xuống ghe nhẹ nhàng như chiếc lá rơi. Lúc bấy giờ, người chủ ghe đang ăn cơm, tiện tay bưng chiếc mâm gỗ lên đỡ, buộc bà phải đạp vào mâm gỗ lấy đà để nhảy trở lên bờ. Sau màn giáo đầu ấy, hai bên đều rõ tài nhau nên hai bà chào người chủ ghe rồi dẫn bộ hạ đi nơi khác.Về sau, bà sáu Hở bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm tù, đày đi Côn Đảo. Bà Năm Hớn sau khi giải tán đám cướp thì phiêu bạt khắp nơi, thỉnh thoảng có người nhìn thấy bà về quê thăm mộ cha, về sau thì không ai rõ tung tích. Riêng bà sáu Hở mãi đến năm 72 tuổi mới được thực dân Pháp thả về. Tuy sống lâu năm dưới chế độ lao tù, nhưng bà vẫn còn khỏe mạnh và đầy hào khí như xưa. Một lần, bà đi chợ Rạch Kiến, bọn lính trong đồn biết tiếng bà mới thách thức, hỏi đùa rằng bà còn đủ sức nhảy qua hàng rào đồn không. Bà chỉ cười không nói và mượn một cây sào dài chống xuống đất làm điểm tựa, tung người bay qua mái đồn giữa sự ngạc nhiên và thán phục của mọi người.

Tuy bà Năm Hớn và Sáu Hở qua đời đã lâu, nhưng nhân dân vùng Cần Đước, Thuận Mỹ (Châu Thành), Nhựt Ninh (Tân Trụ) vẫn còn nhắc nhở về hai bà với sự khâm phục về tinh thần thượng võ và lòng yêu nước của người phụ nữ Long An trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc.

                                                                                               Nguyễn Văn Thiện

29/02/2012 2:33 SAĐã ban hànhApproved
SẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANSẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
  1. Sắc phong

        Sắc phong (gọi đầy đủ là đạo sắc phong) xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ XV, dưới triều nhà Lê, được xác nhận bằng ấn triện của nhà vua mang nội dung công nhận có tính nhà nước, đồng thời thể hiện quyền lực của triều đình đối với các làng xã. Cùng với các loại văn bản và thư tịch cổ như chiếu, chỉ, hịch, văn bia, gia phả… sắc phong được xem như một loại văn bản chính thống của nhà nước phong kiến.

        Về cơ bản, sắc phong gồm có hai loại: sắc phong chức tước cho quý tộc, quan chức của các vương triều và sắc phong thần do nhà Vua phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình, đền, miếu, từ đường…Loại thứ nhất không còn nhiều và đây được xem như vật gia bảo, thường được cất giữ cẩn thận tại các gia đình hoặc nhà thờ họ. Loại thứ hai tuy đã mất mát nhiều nhưng khối lượng còn lại đến nay khá lớn và thường được bảo tồn trong các kiến trúc tín ngưỡng của làng, xã. Các vị thần được phong tặng có thể là nhân vật lịch sử có công với nước, thường gọi là nhân thần và các thần linh trong tín ngưỡng dân gian như nhân vật huyền thoại, vật linh, các hiện tượng thiên nhiên...

        Sắc phong là một nguồn tư liệu có giá trị về nhiều phương diện: mang tên tuổi và công lao của một số nhân vật lịch sử kèm theo quê quán, công tích và xếp hạng; các sắc phong phản ánh vai trò tối thượng của nhà vua, không chỉ trị vì muôn dân trong thế giới trần tục mà còn cai quản cả thế giới thần linh, kết hợp với các tín ngưỡng và đời sống tâm linh (Thành hoàng, Tổ tiên, Vật  linh, Tổ sư, Sùng bái thiên nhiên…); sắc phong phản ánh hệ thống hành chính với những địa danh và đơn vị hành chính mang niên đại cụ thể; đó là chứng cứ về những đặc trưng của thư pháp Hán Nôm và sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử…

        Phân tích kỹ dưới nhiều góc độ chuyên môn còn có thể khai thác từ sắc phong nhiều thông tin mang nhiều ý nghĩa và giá trị…Vì thế, sắc phong là nguồn tư liệu quý, một di sản văn hoá cần được bảo tồn. Ở Long An, hiện còn tồn tại cả hai loại sắc phong như vừa nêu.

        Di tích Lăng mộ và đền thờ Kiến xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia (QĐ số 435/QĐ/BT-ngày 11/5/1993), tọa lạc tại phường Khánh Hậu, thành phố Tân An. Lăng mộ được xây dựng năm 1817, là một trong những lăng mộ cổ nhất của Long An còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay. Ngoài đền thờ và những hiện vật có giá trị, di tích hiện đang lưu giữ 08 sắc phong, chiếu, chế, chỉ của các vua triều Nguyễn, tiêu biểu cho loại thứ nhất, cụ thể:

        Chỉ sai Nguyễn Huỳnh Đức đem quân giúp nước Xiêm chống lại sự xâm lăng của Miến Điện, chất liệu giấy, kích thước 0,37 x 0,32m. Năm Cảnh Hưng thứ 59 (1798), ngày mồng hai, tháng hai.

        Sắc phong quan tước cho Nguyễn Huỳnh Đức ngày mồng một tháng năm, năm Gia Long Nguyên niên (1802). Sắc bằng giấy dó màu bạc, in rồng chìm, dài 1,35m, rộng 0,50m.

        Sắc vua Gia Long truy phong cho ông Huỳnh Công Châu, tổ phụ Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Sắc bằng lụa vàng, thêu rồng, dài 0,75m, rộng 0,40m. Ngày mồng một, tháng chín, năm Gia Long thứ ba (1804).

        Chiếu vua Minh Mạng phong chức tước cho Nguyễn Huỳnh Thành (thứ nam Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chiếu bằng giấy vàng, in rồng chìm, dài 0,8m, rộng 0,4m. Ngày 22 tháng 8 năm Minh Mạng thứ 10 (1829).

        Chế của vua Tự Đức tập phong cho Nguyễn Huỳnh Kim (cháu nội Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chế bằng lụa trắng thêu rồng vàng, dài 1,3m, rộng 0,3m. Ngày 2 tháng 8 năm Tự Đức thứ 3 (1851).

 chiếu Minh Mạng năm thứ 10 (22-8-1829) tại lăng Nguyễn Huỳnh Đức

 Ấn triện trên sắc phong Tự Đức tam niên (11-12-1850) tại Đình Khánh Hậu

 Sắc thần đình Tân Chánh bị hư hỏng nặng

        Ngoài sắc phong cho các quan lại, trên địa bàn tỉnh còn tồn tại loại sắc phong các vị thần trong các đình, miếu. Trong tổng số 90 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh, đình chiếm số lượng khá lớn và đây cũng là đối tượng chính được triều đình Nguyễn phong sắc. Trong số những ngôi đình được phong sắc như đình Vĩnh Phong, đình Phú Khương, Tân Xuân, Xuân Hòa, Hòa Điều, Vĩnh Bình… thì đình Khánh Hậu thuộc khu phố Quyết Thắng 2, phường Khánh Hậu, thành phố Tân An là có nhiều sắc nhất (06 sắc). Thời gian phong sắc sớm nhất (theo số liệu hiện có) là năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) và muộn nhất là của vua Khải Định năm 1925. (Sắc phong cho Thành Hoàng bổn Cảnh làng Long Hậu Tây (xã Long Hậu, Cần Giuộc) của vua Khải Định năm 1925).

         Các vị thần được vua sắc phong chủ yếu là thần Thành hoàng Bổn cảnh và các vị phúc thần như Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Chi Thần, Dũng Mẫn Nghiêm Dực nhị đại Tướng quân...  nhằm giúp vua bảo hộ lê dân của mình.

        Về tình trạng các sắc phong, do phải trải qua một thời gian dài, điều kiện khí hậu, các biến cố lịch sử và do cả sự bất cẩn của con người nên nhiều sắc phong đã bị hư hỏng, hủy hoại. Các nguyên nhân thường do:

        -Thiếu phương tiện bảo quản, các sắc phong thường được quấn lại rồi bọc giấy bên ngoài, đựng trong ống tre, do không được chăm sóc thường xuyên cộng với khí hậu nóng ẩm làm các sắc phong hư hỏng dần, có nơi còn bị mối mọt, côn trùng gặm nhấm, phá họai.

        - Người bảo quản không có ý thức hay thiếu hiểu biết, để cho mọi người mở xem tùy tiện làm hư hại, rách nát sờn vụn những giấy sắc đã lâu đời. Cũng có người lợi dụng lòng tin của người bảo quản, mượn sắc rồi không trả lại.

Hiện nay, hiện tượng sắc phong bị lấy trộm để bán cho những người sưu tầm đồ cổ hay bán ra nước ngoài ngày càng phổ biến, trở thành một mối đe dọa lớn đối với loại di sản quí báu này.

        Tuy nhiên, đó chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể, đa số người dân hiểu biết về giá trị văn hoá và tâm linh của sắc phong, có ý thức bảo quản nghiêm ngặt nhờ vậy mà một số lượng lớn sắc phong triều Nguyễn vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

  1. Phương án bảo tồn sắc phong

        Để bảo tồn vốn di sản văn hóa đã tồn tại hàng trăm năm này, thiết nghĩ nên áp dụng một số phương án như mở các lớp tập huấn cho người dân, chủ nhân di tích về phương pháp bảo quản hiện vật giấy, đặc biệt là các đạo sắc phong.

        Là hiện vật có giá trị đặc biệt, gắn liền với cộng đồng, tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân địa phương nên việc sưu tầm sắc phong là rất khó. Vì vậy cần có một dự án bảo tồn, trong đó thuê các nghệ nhân bồi lại sắc phong và sử dụng phương tiện bảo quản phù hợp; lưu giữ phần chữ và trang trí của các sắc phong bằng cách chụp ảnh kỹ thuật số với những thông tin về tên gọi và địa điểm nơi đang gìn giữ đi kèm rồi đưa vào đĩa. Những đĩa này sẽ được sắp xếp theo hệ thống đơn vị hành chính hiện nay (tỉnh, huyện, xã, ấp) và tập trung bảo quản tại Thư Viện Quốc Gia ( cùng trong phòng tư liệu Hán Nôm) - nếu thực hiện ở qui mô lớn - cũng như bảo quản ở địa phương.

Thông qua các hình thức trưng bày, triễn lãm, giới thiệu trên phương tiện truyền thông đại chúng… nhằm giới thiệu, tuyên truyền đến nhân dân những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của sắc phong để nâng cao ý thức trân trọng giữ gìn loại di sản văn hóa quí báu của dân tộc.

        Là một trong những tỉnh được khai phá sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, Long An còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, sắc phong là một di sản quý của dân tộc và là nguồn tư liệu quý hiếm cần được bảo vệ và nghiên cứu hơn nữa để phát huy tác dụng. Với những giải pháp như vừa nêu, nếu được thực hiện kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản quý báu này.

                                                                                        Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

                                                                                  Ảnh: Văn Ngọc Bích 

21/12/2011 6:56 SAĐã ban hànhApproved
CẦN GIUỘC: TRAO GIẢI CUỘC THI GIỚI THIỆU SÁCH TRỰC TUYẾN NĂM 2020 CẦN GIUỘC: TRAO GIẢI CUỘC THI GIỚI THIỆU SÁCH TRỰC TUYẾN NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Giuộc phối hợp Huyện Đoàn tổ chức Lễ trao giải cuộc thi giới thiệu sách trực tuyến năm 2020.

23-6-2020 trao giai hoi thi doc sach truc tuyen 2020.png

Cuộc thi giới thiệu sách trực tuyến năm 2020 là hoạt động hưởng ứng Ngày sách Việt Nam với hình thức thi trực tuyến, phù hợp diễn biến tình hình phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Các thí sinh tham gia ở bảng A: Giới thiệu sách về văn hóa xã hội; bảng B: Giới thiệu sách về Bác Hồ. Mỗi thí sinh giới thiệu một quyển sách mình tâm đắc nhất.

Qua một tháng phát động, cuộc thi đã thu hút 38 thí sinh tham dự thi ở hai bảng A và B, với gần 100.000 lượt người xem, 6.000 lượt chia sẻ và hơn 4.600 lượt yêu thích. Đa số các thí sinh tham gia đều nhiệt tình, nghiêm túc, ngoài việc lựa chọn được những tài liệu phù hợp, các thí sinh còn có phần đầu tư rất kỹ từ cách giới thiệu sách, quay ngoại cảnh và lồng ghép nhạc, hình ảnh sinh động. Kết quả, Ban Tổ chức trao giải đặc biệt cho thí sinh Nguyễn Minh Thuật, xã Phước Lại; giải nhất bảng A cho thí sinh Phạm Khắc Phụng, xã Long Thượng; giải nhất bảng B cho thí sinh Phạm Hoàng Tiến, Trường THPT Cần Giuộc.

Sự thành công của cuộc thi đã khẳng định vai trò, giá trị của sách, lan tỏa niềm đam mê đọc sách, khuyến khích cộng đồng cùng chung tay xây dựng văn hóa đọc trong thời đại công nghệ hiện nay./.

Phương Cảnh

24/06/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Đám lá Tối TrờiDi tích lịch sử Đám lá Tối Trời

Đám lá Tối Trời là khu vực sình lầy, sông rạch chằng chịt, mọc đầy dừa nước và các loài cây hoang dại, tọa lạc ven bờ Vàm Cỏ Tây thuộc ấp Thuận Lợi, xã Nhựt Ninh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Từ thị trấn Tân Trụ, du khách theo đường tỉnh 833 đến ngã ba Nhựt Ninh, tiếp tục rẽ vào lộ Bình Thuận khoảng 2km thì đến di tích .

Trước đây, đám lá có dạng như 1 cái túi lớn, được sông Vàm Cỏ bao bọc ở 3 mặt đông, tây và nam. Từ  sông lớn, có hơn 10 con rạch đổ vào trung tâm đám lá. Trước năm 1945, nơi đây chỉ là 1 doi lá rộng khoảng 6 ha thuộc quyền sở hữu của ông Phan Văn Mun, thường được gọi là Doi ông Mun hay là Đám lá lớn.  Sau Cách mạng Tháng Tám-1945, khu vực này được chọn làm căn cứ cách mạng của xã Nhựt Ninh. Để tạo địa hình cho căn cứ, cách mạng đã vận động nhân dân ngưng đốn lá, trồng cây gây rừng. Qua thời gian, diện tích địa hình đã phát triển lên hơn 50ha với nhiều loại cây hoang dại như: ô rô, cóc kèn, bần, mắm, vẹt...mà nhiều nhất là dừa nước. Nằm ở khu vực giáp ranh giữa 3 huyện Cần Đước, Châu Thành, Tân Trụ, có địa hình thuận lợi nên nơi đây nhanh chóng phát triển thành một lõm căn cứ quan trọng trong hệ thống liên hoàn các căn cứ du kích của tỉnh Long An. Ngày 16-8-1948, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, dùng xe bọc thép và tàu chiến bao vây căn cứ với ý đồ tiêu diệt lực lượng cách mạng đang trú đóng nơi đây. Tuy nhiên, cuộc hành quân của chúng đã thất bại vì gặp phải địa hình phức tạp, dưới thì sinh lầy, trên thì âm u, rậm rạp, khó tìm được lối ra nếu không thông thạo. Vì thế, chúng gọi nơi đây là Đám lá Tối Trời và cũng từ lúc này, tên Đám lá Tối Trời trở thành một địa danh nổi tiếng gắn liền với lịch sử kháng chiến chống xâm lược của đất và người Long An.

Trong suốt 30 năm (1945-1975), Đám lá Tối Trời là căn cứ quan trọng trong hệ thống liên hoàn các căn cứ kháng chiến của tỉnh Long An. Từ cuối năm 1954, tỉnh ủy Long An đã về lập cơ sở ở Đám lá Tối Trời. Các huyện lân cận cũng lấy nơi đây làm hậu cứ. Công binh xưởng, trạm quân y, các lớp bồi dưỡng, huấn luyện về quân sự, chính trị cũng được tổ chức tại Đám lá Tối Trời để phục vụ cho công cuộc kháng chiến. Trong từng giai đoạn lịch sử, nơi đây là căn cứ của nhiều lực lượng, từ cấp miền đến cấp huyện, xã. Có lúc, bộ phận quân y của R, các cơ quan lãnh đạo của Phân khu 3 và nhiều đơn vị vũ trang của tỉnh đã về đóng tại Đám lá Tối Trời. Trong cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa tết Mậu Thân-1968, Đám lá Tối Trời là cơ sở quân y lớn, chữa trị cho hơn 300 thương binh từ tiền tuyến chuyển về mà vẫn đảm bảo an toàn.

Đám lá Tối Trời thực sự là cái gai trong mắt địch. Vì thế, chúng đã sử dụng các phương tiện chiến tranh hiện đại, mở những đợt càn quét quy mô vào Đám lá Tối Trời hòng hủy diệt căn cứ của ta, nhưng lần nào chúng cũng thất bại thảm hại. Điển hình là trong trận chống càn ngày 22-1-1966, bộ đội và du kích đã tiêu diệt 200 tên địch, trong đó có 4 cố vấn Mỹ, 1 đại úy ngụy, bắn chìm 1 tàu chiến, thu nhiều vũ khí chiến lợi phẩm.

Từ năm 1965, cứ 15 phút, bọn địch lại nã pháo vào Đám lá Tối Trời. Tàu chiến của chúng mỗi khi xuôi ngược trên  hệ thống sông Vàm Cỏ, ngang qua Đám lá Tối Trời đều không quên trút đạn vào đây. Cho đến năm 1975, Đám lá Tối Trời đã hứng chịu hàng ngàn tấn bom đạn của kẻ thù. Đặc biệt, từ sau tết Mậu Thân, địch đã điên cuồng rải chất độc hóa học, phun xăng dầu đốt cháy cây cối, hòng hủy diệt địa hình Đám lá Tối Trời. Trong giai đoạn khó khăn này, lực lượng ta phải tạm rút về Châu Thành. Đến năm 1970, ta tiếp tục trở lại xây dựng căn cứ, tiếp tục chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn (30-4-1975).

Để căn cứ tồn tại suốt 30 năm trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, nhiều đồng bào, chiếm sĩ cách mạng đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, để lại cho đời những tấm gương chói lọi. Nhân dân vùng căn cứ một lòng một dạ sắt son với Đảng, quyết tâm ủng hộ cách mạng đến cùng. Ông Võ Văn Vọng dù bị hàng chục vết thương, chỉ còn 1 chân, 1 tay nhưng vẫn quyết bám trụ, chiến đấu ở căn cứ. Năm 1969, địch bắt được ông và hứa sẽ bảo toàn tính mạng nếu ông chịu rời bỏ Đám lá Tối Trời. Ông nói rằng:”Tụi bây bắn tao đi chứ tao đã thề chết sống ở mảnh đất này” rồi hy sinh oanh liệt. Nhân dân nơi đây đánh giặc và bảo vệ căn cứ theo cách riêng của mình. Những câu chuyện tưởng chừng như là giai thoại về dùng ong vò vẽ diệt Mỹ, về một chị phụ nữ dùng binh vận đẩy lui cả môt trận càn đều là người thật, việc thật. Nhân dân đã dùng trí thông minh, lòng dũng cảm để qua mắt địch, tiếp tế lương thực, thuốc men, vũ khí...giúp lực lượng cách mạng hoàn thành nhiệm vụ kháng chiến. Nhiều cô bác bị đốt nhà hàng chục lần, bị bắt giam, tra tấn như cơm bữa như vẫn không nao núng, vẫn quyết tâm bám trụ căn cứ. Vì thế, Đám lá Tối trời đã trở thành căn cứ của lòng dân, nên dù địch có dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn hòng hủy diệt nhưng căn cứ vẫn tồn tại như là một điểm son trong trang sử chống xâm lược của quân và dân tỉnh Long An. Với những giá trị tiêu biểu ấy,  Đám lá Tối Trời đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử tại Quyết định số 1105/UB-QĐ, ngày 18-6-1993.
                                                                                               Nguyễn Văn Thiện

26/06/2012 1:50 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về việc xếp hạng cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế. Di tích hiện tọa lạc tại phường 1, thành phố Tân An, là một công trình kiến trúc cổ đặc thù kiểu Tứ trụ của đình, miếu Nam Bộ có niên đại hơn 103 năm. Đồng thời, trong miếu còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như hệ thống hoành phi, liễn đối, bao lam…được chạm trổ hết sức tinh xảo, công phu vừa có giá trị về mặt nghệ thuật, vừa có giá trị về mặt lịch sử.

18-11-2019 Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế

Di tích lịch sử miếu Quan Thánh Đế còn là chứng tích của quá trình khai phá vùng đất Vũng Gù (Tân An ngày nay) của cộng  đồng cư dân Việt - Hoa. Bởi, sau khi Cù Lao Phố và Mỹ Tho Đại Phố tan rã, một số nhóm người Hoa đã di cư đến sống ở vùng Tân An. Vì đa số người Hoa di cư thường làm nghề kinh doanh buôn bán nên khi đến Tân An họ thường tụ cư ở những trung tâm thương mại, khu vực chợ búa, và cùng với người Việt chiếm đa số chung sức đồng lòng lập phố xá, chợ sầm uất mà nổi tiếng là chợ Hưng Lợi (nay là chợ Phường 1). Bên cạnh đó, khi di - định cư đến Tân An, họ đã xây dựng miếu để làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và đã thu hút đông đảo người Việt đến lễ bái như chính cơ sở tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình trong suốt quá trình cộng cư và giao lưu văn hoá.

Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Thánh Đế Quân tức Đại tướng quân Quan Vũ, một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc được kính ngưỡng về lòng trung nghĩa và chí khí anh hùng. Khi đến định cư ở vùng đất Tân An nói riêng, ở Long An nói chung, người Hoa đã mang nhiều hành trang văn hóa từ những thiết chế xã hội, phong tục tập quán đến các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thánh truyền thống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Ông Bổn… từ quê cha đất tổ đến vùng đất mới lập nghiệp, góp phần cùng các dân tộc anh em khác xây dựng và phát triển nơi đây ngày một trù phú. Một trong những hành trang quý giá ấy chính là tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân mang nhiều nét nổi bật, tiêu biểu cho văn hóa tinh thần người Hoa cũng như  sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa. Khi cộng cư lâu dài với người Việt trên vùng đất mới, tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân của người Hoa dần được người Việt tiếp nhận, thờ tự trang nghiêm thể hiện sự kính ngưỡng đối với phẩm cách chính trực trung nghĩa, cương cường, dũng cảm của Ông, đồng thời tin tưởng Ông sẽ phù hộ cho sự bình an của mọi người, thậm chí thờ Ông như là thần bảo mạng của nam giới trong gia đình. Quan Thánh Đế Quân không chỉ là thần linh được thờ phụng trong gia đình, mà còn là thần linh đặc trưng trong các cơ sở tôn giáo người Việt, được biến thể hóa từ các tôn giáo lớn như: Nho Giáo tôn xưng Ông là Văn Hoành Thánh Đế;  Đạo Giáo tôn xưng Ông là Hiệp Thiên Đại Đế; còn Phật Giáo tôn xưng Ông là Hộ Pháp Già Lam. Đây là một dạng thức tín ngưỡng thể hiện sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng cư dân Việt - Hoa trong quá trình tụ cư, chung sống với nhau như anh em một nhà suốt bao thế kỷ qua và là một nét đẹp trong ứng xử văn hóa, đã làm cho sắc thái văn hóa của vùng đất Long An nói riêng thêm đa dạng và phong phú.

18-11-2019 Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải), Châu Xương (bên trái).jpg

Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải),
Châu Xương (bên trái)

Tìm hiểu về niên đại xây dựng miếu, theo thông tin từ các dòng lạc khoản ghi trên câu đối, hoành phi (Quang Tự nhị thập ngũ niên tuế thứ Kỷ Hợi trọng hạ kiết lập) cho biết kiến trúc hiện trạng và hệ thống tượng thờ, bài vị, các chi tiết trang trí, trống, chuông đồng… có niên đại Quang Tự, năm Kỷ Hợi (1899). Ngoài ra, trên bao lam khám thờ bên phải có khắc năm 1916, đánh dấu cho lần trùng tu miếu.

18-11-2019 Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ.jpg

Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ

Ngôi miếu tọa lạc trên mảnh đất có diện tích 330.8 m2 có bố cục hình chữ tam gồm hậu điện, chính điện và tiền điện với đặc điểm nổi bật là xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ mang nét đặc trưng của đình làng vùng đất Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, điều này cho thấy kiến trúc miếu đã có yếu tố Việt ngay từ những buổi đầu xây dựng.

18-11-2019 Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ.jpg

Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ

Đặc biệt, trong miếu còn thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Hoa qua cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) vốn là hiện vật phổ biến trong các ngôi đình của người Việt, thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu của nền văn hóa Việt, được đặt chung trong khám thờ Quan Thánh Đế Quân.

18-11-2019 Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong bàn thờ Quan Thánh Đế Quân.jpg

Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong
bàn thờ Quan Thánh Đế Quân

Hàng năm, Miếu Quan Thánh Đế diễn ra lễ vía Ông vào các ngày 13 tháng Giêng (Vía chánh), 13 tháng 5 và 24 tháng 6, là nơi đến của đông đảo đồng bào Việt - Hoa ở thành phố Tân An, các hội Miếu Quan Thánh lân cận, thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân địa phương. Tuy ban đầu miếu do người Hoa thành lập nhưng trong quá trình giao thoa văn hóa đã thu hút cộng đồng người Việt đến thắp hương... thể hiện sự giao lưu giữa đời sống tâm linh và cuộc sống hàng ngày của hai tộc người. Trong tâm thức người dân, đây là tiêu biểu cho những giá trị tinh thần tốt đẹp cũng như thể hiện tính bao dung, cởi mở trong tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Việt. Mặt khác, không chỉ là những khách hành hương, người Việt còn nằm trong Ban Quản trị, là ông từ trực tiếp trông coi, sớm chiều hương khói, chung tay góp sức với người Hoa cùng nhau thờ tự, giữ gìn miếu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt - Hoa trên mảnh đất Long An.

Ngày nay, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa lẫn nhau giữa người Việt và người Hoa ngày càng trở nên mạnh mẽ, các yếu tố văn hóa Việt,  văn hóa Hoa tồn tại đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Ví như trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người Việt không phân biệt rạch ròi giữa miếu, miễu và chùa thường gọi lẫn lộn. Trong khi đó, miếu, miễu là nơi thờ Thần, còn chùa là nơi thờ Phật, nhưng đối với Miếu Quan Thánh Đế của người Hoa, người Việt thường gọi là Chùa Ông... Qua đó cho thấy, sự giao lưu văn và tiếp biến hóa giữa người Việt - Hoa được diễn ra một cách hòa hợp vì giữa hai nền văn hóa có nhiều yếu tố tương đồng, giống nhau. Tuy là miếu Hoa nhưng vẫn thấy được văn hóa Việt, đó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Long An nói riêng. Bởi văn hóa là hòa bình, không bao giờ phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay thể chế chính trị - kinh tế - xã hội.

Do đó, việc xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với Miếu Quan Thánh Đế là cần thiết, nhằm bảo tồn và giữ gìn được di sản văn hóa của tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung, góp vào nguồn lực phát triển văn hóa vùng đất Nam Bộ trong hiện tại cũng như trong tương lai./.

Hồng Nhung

25/11/2019 7:00 CHĐã ban hànhApproved
Bộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh ĐứcBộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức
Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức (1748-1819), người làng Tường Khánh, huyện Kiến Hưng (nay thuộc ấp Dinh, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An) là một đại thần của nhà Nguyễn, từng giữ những chức vụ quan trọng như: Chưởng Tiền quân, Tổng trấn Bắc Thành, Tổng trấn Gia Định Thành...Lăng mộ và đền thờ ông tọa lạc tại xã Khánh Hậu đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia từ năm 1993. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều hiện vật quý giá có niên đại thế kỷ XVIII-XIX vẫn còn được lưu giữ tại di tích, trong đó có bộ Ván Một.

Bo Van Mot.jpg

Với chiều dài 3,4m, chiều rộng 1,8m, dày 0,2m được tạo thành từ một khối gỗ duy nhất, có lẽ đây là bộ ván có kích thước lớn nhất Việt Nam còn tồn tại nguyên vẹn cho tới bây giờ. Trong lượng bộ ván cũng chưa có ai cân một cách chính xác. Chỉ biết rằng vào năm 1959, khi đền thờ Kiến Xương quận công được dời đến địa điểm hiện nay, gia tộc phải nhờ một trung đội lính mới khiêng nổi bộ ván. Theo lời kể của gia tộc Nguyễn Huỳnh, bộ Ván Một này là di vật của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, được ông sử dụng hồi còn ở quê nhà, lúc chưa đi theo phò Chúa Nguyễn. Từ đó suy ra, bộ ván này có niên đại muộn nhất cũng vào năm 1780.

Từ khi Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mất (9-9AL-1819), đến nay bộ ván được đặt một cách trân trọng tại chính điện đền thờ ngài. Tương truyền, đây là bộ ván linh thiêng, nếu ai có lòng tà vạy, gian tham dám ngồi lên bộ ván thì thế nào cũng bị Quận công Nguyễn Huỳnh Đức quở phạt. Cụ Nguyễn Huỳnh Tân (1878-1954) – cháu đời thứ năm của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức có truyền lại cho con cháu một mẩu chuyện thú vị xung quanh bộ Ván Một như sau:

Vào khoảng năm 1880, tại khu vực giáp ranh hai tỉnh Long An và Tiền Giang bây giờ có cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do ông Ong và ông Khả lãnh đạo. Lúc bấy giờ, tên việt gian Trần Bá Lộc đang trấn nhậm vùng Cái Bè đã đem quân đến đàn áp cuộc khởi nghĩa theo lệnh của Tây. Một hôm hắn dẫn lính vào lung sục, tra khảo nhân dân làng Tường Khánh. Khi đi ngang đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, Trần Bá Lộc rẽ vào và leo lên bộ ván ngồi một cách nghinh ngang. Giữa lúc con cháu Quân Công Nguyễn Huỳnh Đức đang lạy chào “quan” thì Trần Bá Lộc đột nhiên té nhào từ trên bộ ván xuống. Lính hầu lật đật khiêng Trần Bá Lộc lên giường nằm. Một lúc sau Trần Bá Lộc tỉnh lại, nét mặt hốt hoảng kể lại rằng:”Ta đương ngồi trên bộ ván thình lình có một bọn năm sáu người tự xưng là bộ hạ của Quan thượng Tiền quân vâng lệnh ngài đến bắt ta đem chém. Ta vùng vẩy, chống cự lại bọn lính hầu nên mới bị té xuống đất”. Ngừng một chút, Trần Bá Lộc nói tiếp:” Mấy chục năm nay ta đánh Nam dẹp Bắc, giết người như chém cỏ, từng đốn tre kẹp con nít, bỏ người vào cối quết chẳng gờm tay. Hôm nay là lần đầu tiên ta phải kiêng sợ bộ ván linh của Quan thượng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức vậy.”

Từ đó về sau, không một ai dám ngồi lên “Bộ Ván Linh” của Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.

Cùng với bộ sưu tập cổ vật tại di tích nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, bộ ván một là một hiện vật quý có giá trị lịch sử và niên đại so quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ.

​                                                                                             NGUYỄN VĂN THIỆN

22/10/2014 4:00 CHĐã ban hànhApproved
ĐÌNH TÂN CHÁNH: NƠI THỜ PHỤNG MỘT VỊ QUAN TRIỀU NGUYỄN ĐÌNH TÂN CHÁNH: NƠI THỜ PHỤNG MỘT VỊ QUAN TRIỀU NGUYỄN

Mỗi khi nói về đình Tân Chánh, xã Tân Chánh, huyện Cần Đước, tỉnh Long An mọi người vẫn thường nhắc đến lăng mộ ông Nguyễn Khắc Tuấn như một quần thể không thể tách rời, mặc dù 2 công trình thuộc 2 ấp khác nhau của xã. Trong tâm tưởng người dân Tân Chánh, đình Tân Chánh là nơi thờ phụng một vị quan có công, một người con của làng Nhơn Hòa xưa, nay là xã Tân Chánh, huyện Cần Đước.

Ông Nguyễn Khắc Tuấn - một người con Tân Chánh

Theo ghi chép của Hồ sơ di tích đình Tân Chánh, đình được xây dựng khoảng thế kỷ XIX khi người dân đến đây khai hoang, lập ấp. Cũng như những đình làng Nam bộ khác, đình Tân Chánh thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, một biểu tượng tâm linh giúp mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống người dân ổn định và thịnh vượng.

27-01-2021 Dinh Tan Chanh tho mot vi quan trieu Nguyen.jpg

Hai bên trụ cột mặt trước lăng khắc cặp câu đối do vua Minh Mạng
ban tặng ông Nguyễn Khắc Tuấn lúc đương thời:
"Xưa trấn nhậm cõi Bắc Thành, quân dân chịu trọng ơn
Nay về quê cũ, có đất trời soi rõ tấm lòng trung"

Ngoài thờ Thành Hoàng, đình Tân Chánh còn thờ ông Nguyễn Khắc Tuấn - một vị quan triều Nguyễn có nhiều công trạng. Ông Nguyễn Khắc Tuấn vốn là người Tân Chánh, võ quan có nhiều công lao với đất nước, được triều đình biểu dương, nhân dân tôn kính như một vị thần. Ông Nguyễn Khắc Tuấn còn có tên là Nguyễn Phúc Xuân và Nguyễn Hầu Xuân. Ông sinh năm 1767, tại xã Tân Chánh, huyện Cần Đước ngày nay. Ông là đại thần dưới triều vua Gia Long và Minh Mạng, nhiều lần vâng chiếu vua đi dẹp giặc thành công.

Theo Hồ sơ di tích đình Tân Chánh, năm 1791, ông Nguyễn Khắc Tuấn đầu quân theo Nguyễn Ánh. Khi Nguyễn Ánh lập ra nhà Nguyễn, ông trông coi việc quân ở Bắc Thành và từng mang quân đi dẹp giặc ở Lư Khê. Năm 1822, ông trông coi việc đắp thành trấn Hưng Hóa. Khi ông mất vào năm 1823, nhà vua đã hết sức thương tiếc, trực tiếp ra lệnh cho bộ Lễ truy tặng chức Thống chế, cấp tơ lụa, vàng bạc, quan tiền cho gia quyến. Sau khi mất, ông được đưa về quê quán bằng thuyền. Tại điểm dừng chân đầu tiên ở ấp Bà Nghĩa, xã Tân Chánh ngày nay, người dân lập một miếu thờ gọi là miếu Vàm Đình. Vào ngày giỗ ông hàng năm, người dân đều đến thắp nhang, cúng viếng tại miếu.

Khi người dân hướng về ông

Lần này về thăm đình Tân Chánh và lăng mộ ông Nguyễn Khắc Tuấn (xã Tân Chánh, huyện Cần Đước), chúng tôi thấy đình đang được xây dựng lại bề thế, to đẹp. Công nhân xây dựng đang ráo riết hoàn thành các công đoạn cuối cùng kịp bàn giao trước Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021. Ông Lương Thành Long - Trưởng ban Quản trị đình Tân Chánh, nói: "Đình được xây mấy tháng rồi, dự kiến qua tết mới xong nhưng vầy là chắc sẽ hoàn thành sớm". Đình xây lại trên nền đình cũ, kiến trúc cũ với diện tích lớn hơn. Ông Long đưa khách tham quan một vòng quanh đình, kể về đình một cách say sưa và tự hào. Sinh ra và lớn lên ở Tân Chánh, cha ông từng tham gia quản trị đình nên sau này ông Long tiếp tục là người "trụ cột" trong Ban Quản trị đình, cùng người dân gìn giữ, phát huy giá trị của mái đình trên 200 năm tuổi.

27-01-2021 Dinh Tan Chanh tho mot vi quan trieu Nguyen 2.jpg

Công nhân xây dựng đang ráo riết hoàn thành
các công đoạn cuối cùng kịp bàn giao trước Tết nguyên đán

Trong hơn 10 năm tham gia Ban Quản trị đình, ông Long cùng Ban Quản trị gìn giữ từng cổ vật, công trình của đình, bảo tồn nguyên vẹn lễ cúng và góp phần cùng người dân mở rộng quy mô lễ hội hàng năm tại đình. Ông cho biết, trong đình hiện có 176 văn bản cổ, trong đó có sắc phong, chiếu chỉ và văn bản do vua ban. Khi đình được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh, các văn bản vẫn chưa được dịch. Sau này, ông Long cùng một số người dân địa phương tự đóng góp kinh phí dịch thuật toàn bộ số văn bản trên, đóng thành tập dày lưu lại để người đời sau biết. Không chỉ vậy, ông Long cùng nhiều người dân địa phương còn đóng góp kinh phí trùng tu đình cũ trước đây. Khi đình Tân Chánh được UBND huyện đầu tư xây mới, ông Long cũng đóng góp kinh phí xây dựng một số hạng mục: Cặp rồng trên nóc võ ca, cặp bình phong trước cổng đình,... Nói về những việc làm của mình, ông Long chia sẻ: "Quê hương mình có một vị tướng tài ba, tất nhiên phải tự hào chứ. Tôi chỉ muốn cùng anh em, bà con giữ gìn và phát huy niềm tự hào đó, để người người biết đến ông Nguyễn Khắc Tuấn, đình Tân Chánh, đất Tân Chánh thôi".

Theo hướng dẫn của ông Long, chúng tôi rời ấp Đình đến ấp Lăng để thăm lăng ông Nguyễn Khắc Tuấn. Lăng mộ ông cũng được trùng tu với khuôn viên rộng, đẹp, nhiều cây cảnh mát mẻ. Ngôi mộ cổ gần như được bảo toàn nguyên vẹn. Đây là một trong hai công trình kiến trúc lăng mộ cổ của quan lại triều Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX còn lại ở Long An ngày nay. Hai bên trụ cột mặt trước lăng khắc cặp câu đối do vua Minh Mạng ban tặng ông Nguyễn Khắc Tuấn lúc đương thời:

"Xưa trấn nhậm cõi Bắc Thành, quân dân chịu trọng ơn

Nay về quê cũ, có đất trời soi rõ tấm lòng trung"

Trước mộ bia của ông Nguyễn Khắc Tuấn còn được bày một chiếc lư cắm đầy chân nhang và dĩa trái cây. Có lẽ, người dân trong vùng vẫn thường xuyên đến thắp hương ở lăng mộ của ông Nguyễn Khắc Tuấn.

Lễ hội Kỳ Yên tại đình Tân Chánh hàng năm ngày càng đông khách đến viếng thăm, cúng. Và lễ hội lần nào cũng có hoạt động rước sắc đến mộ ông làm lễ cúng. Ngôi miếu nhỏ ở ấp Bà Nghĩa cũng được thắp nhang. Bấy nhiêu thôi cũng đủ để hiểu người dân trân trọng đức ông Nguyễn Khắc Tuấn đến mức nào./.

Theo Báo Long An Online

https://baolongan.vn/dinh-tan-chanh-noi-tho-phung-mot-vi-quan-trieu-nguyen-a109019.html


27/01/2021 2:00 CHĐã ban hànhApproved
DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANDANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

STT

TÊN DI TÍCH

NỘI DUNG

ĐỊA ĐIỂM

SỐ QUYẾT ĐỊNH; NGÀY CẤP

1

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Nhượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đường thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 

Phường Khánh Hậu, Thành phố Tân An

Số 534QĐ/BT

ngày 11/5/1993

 

2

CHÙA PHƯỚC LÂM

  Chùa Phước Lâm được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu “bánh ít”, có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập điện, Diêm Vương, Thiện Ác, Hộ Pháp, Kim Cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thiếp vàng rực rỡ.

  Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ khá cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái lục hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đều đến chùa lễ Phật.

Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước

 

Số 53/2001-QĐ-BVHTT

ngày 28/12/2001

 

3

NHÀ TRĂM CỘT

  Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: Phần trước là phần nội tự - ngoại khách (trong thờ tự, ngoài tiếp khách), phần sau là phần để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột là một kiến trúc có kiểu thức thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

 

Ấp Trung, xã Long Hựu, huyện Cần Đước

 

Số 2890-VH/QĐ

ngày 27/9/1997

 

4

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

Cụm Nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau. Xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, theo kiểu 3 gian 2 chái. Nhà hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân “ thiên tỉnh” (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và  còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Ấp Thanh Phú, Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành.

 

Số 43/2007/QĐ-BVHTT

ngày 03/08/2007

 

5

ĐÌNH VĨNH PHONG

Đình Vĩnh Phong được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

            Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

 

Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa

 

Số 1811/1998-QĐ-BVHTT

ngày31/8/1998

 

6

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn bởi vì đó là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm:  ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông.

Nhà và lò gạch Võ Công Tồn còn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mạng cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930 - 1945). Nhà Võ Công Tồn là nơi ghi dấu một số hoạt động của nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, nhà và lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

 

Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức

 

Số 02/2004/QĐ-BVHTT

ngày 19/01/2004

 

7

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 12 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 2 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm và Thuận Thành.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở nơi đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ - Ngụy (1966-1967).

 

Ấp I, xã Long Hòa, huyện Cần Đước

 

Số 1460-QĐ/VH

ngày 28/06/1996

 

8

VÀM NHỰT TẢO

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L’Esperance của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: “Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang”. Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: “Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

 

Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ

 

Số 1460-QĐ/VH

ngày 28/06/1996

 

9

CHÙA TÔN THẠNH

Chùa Tôn Thạnh ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808. Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người “dân ấp dân lân”, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: “Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”.

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh “rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng” như xưa. Tuy nhiên, chùa Tôn Thạnh vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX, và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thiếp vàng. Bên phải chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Từ năm 2003 đến nay, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến theo lối kiến trúc cổ truyền.

 

Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc

 

Số 2890-VH/QĐ

ngày 27/9/1997

 

10

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hi Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Ông sinh ngày 28/5 Đinh Hợi tức 21/7/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn tỏ ra là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/8/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông. Chính mảnh đất này đã bảo lưu những truyền thống tốt đẹp của cha ông truyền lại cho Nguyễn Thông. Di tích gợi ta nhớ về nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông - người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

 

Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành.

 

Số 04/2001-QĐ-BVHTT

ngày 19/01/2001

 

11

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

Di tích Bình Thành còn được gọi là Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

 

Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ

 

Số 42/2007/QĐ-BVHTT,

ngày 03/8/2007

 

12

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/6/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng 7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 4/6/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn,  thể hiện lòng tin của nhân dân lao động đối với sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

 

Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa

 

Số 1570-VH/QĐ

ngày 05/9/1989

 

13

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN KHÁNG CHIẾN – HÀNH CHÁNH NAM BỘ (1946 – 1949)

                                                                       

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến - hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

 

Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh

Số 42/2007/QĐ-BVHTT,

ngày 03/8/2007

 

14

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

Ngày 06/3/1930, đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật tại nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ để thành lập nên chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn.

Chi bộ ra Nghị quyết: “Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy”. Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng ba tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

 

Ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa

 

Số 3827/QĐ/BVHTTDL, ngày 31/10/2013

 

15

RẠCH NÚI

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ lại không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khắc với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - văn hóa – nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên Đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu.

Ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc

Số 38/1999-QĐBVHTT

ngày 11/6/1999

 

16

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

 

Khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thành phốTân An. Cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn đông nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

 

Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa

Số 1570-VH/QĐ

ngày 05/9/1989

 

17

GÒ Ô CHÙA

 

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc - 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày, chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến hai ngàn năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu vừa qua, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa.  Họ đã có mối giao lưu  với thế giới bên ngoài  như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1000 năm trước công nguyên đến 1000 năm sau công nguyên.

 

ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng

Số 02/2004/QD0-BVHTT,

ngày 19/01/2004

 

18

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

 

 

Là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hóa dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, thuộc thời kỳ tiền sử. Tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ: 15.106m2.

 

Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa

Số 324/QĐ-BVHTTDL,

ngày 26/01/2011

 

Bài: Phạm Thị Thúy Hồng
Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
 

06/11/2014 1:31 SAĐã ban hànhApproved
TỔNG KẾT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ  TỈNH LONG AN LẦN II – NĂM 2020 TỔNG KẾT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ  TỈNH LONG AN LẦN II – NĂM 2020

Thiết thực chào mừng Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, ngày 28/7/2020, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức khai mạc Hội thi Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An lần II - năm 2020. Hội thi diễn ra trong 4 ngày, từ ngày 28-31/7/2020, tại Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh (số 9 Trương Định, Phường 2, thành phố Tân An), quy tụ nhiều thí sinh đến từ 15 đơn vị huyện, thị xã, thành phố và các thí sinh tự do trong toàn tỉnh.

Qua 3 đêm tranh tài sôi nổi của các thí sinh, Ban Giám khảo đã chọn ra 30 tiết mục xuất sắc dự thi chung kết xếp hạng vào tối ngày 31/7. Kết quả đêm chung kết được công bố như sau:

Phần dự thi bài bản tài tử: Gồm 2 giải nhất, 3 giải nhì, 4 giải ba.

Phần thi độc tấu: Gồm 1 giải nhất, 2 giải nhì, 4 giải ba.

Phần thi vọng cổ nhịp 16: Gồm 1 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba.

Phần thi vọng cổ nhịp 32: Gồm 1 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba.

Phần thi bài ngự: Gồm 1 giải nhất, 1 giải nhì, 2 giải ba.

Phần thi về chủ đề "Nông thôn mới": Gồm 1 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba.

Phần thi về nội dung ca ngợi Bác Hồ, Mẹ Việt Nam Anh hùng, anh hùng liệt sĩ…: Gồm 1 giải nhất, 1 giải nhì, 1 giải ba.

Ngoài ra còn có giải thí sinh nam lớn tuổi nhất, thí sinh nữ lớn tuổi nhất, thí sinh nhỏ tuổi nhất và 1 giải sáng tác về đề tài "Nông thôn mới" hay nhất thuộc về tác giả Nguyễn Minh Tuấn.

3-8-2020 Ông Võ Trường Kỳ trưởng Ban giám khảo đánh giá Hội thi.jpg

Ông Võ Trường Kỳ, Trưởng ban Giám khảo đánh giá hội thi

3-8-2020 Bà Nguyễn Thị Thủy phó Giám đốc sở VH,TTvà DL phát biểu bế mạc Hội Thi.jpg

Bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở VH, TT và DL phát biểu bế mạc hội thi

3-8-2020 cac doi chup anh luu niem.jpg

Đại diện các đội dự thi chụp hình lưu niệm với Ban Tổ chức

Các đơn vị đạt giải thưởng chương trình gồm: Giải nhất thuộc về đơn vị huyện Thủ Thừa; 2 giải nhì là đơn vị huyện Tân Thạnh và thành phố Tân An; 3 giải ba thuộc về đơn vị huyện Tân Hưng, Thạnh Hóa và Vĩnh Hưng; 4 giải khuyến khích thuộc về đơn vị huyện Cần Đước, Tân Trụ, Cần giuộc và Mộc Hóa.

Ông Võ Trường Kỳ, Trưởng ban Giám khảo hội thi đánh giá cao phần dự thi của các thí sinh, nhất là hội thi lần này xuất hiện những ngón đờn ngọt ngào, những lời ca mượt mà, sâu lắng đầy triển vọng, hứa hẹn lần hội thi sau hội tụ nhiều tài năng trẻ góp phần giữ gìn bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh nhà ngày một phát triển./.

Phi Hùng

03/08/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
NGƯỜI ĐÁNH RƠI HẠNH PHÚCNGƯỜI ĐÁNH RƠI HẠNH PHÚC

Chỉ vì đồng tiền, mãi sa đà vào những trò ăn chơi trụy lạc, người vợ, người chồng đánh mất lương tâm, đánh mất chính mình và đánh rơi hạnh phúc gia đình. Đến khi hối hận, hạnh phúc không còn nguyên vẹn như xưa... Đó là bi kịch của 2 gia đình rời quê lên thành phố sinh sống trong vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" của tác giả Kha Tuấn và NSƯT Hữu Lộc.

Bi kịch của đồng tiền

Vở cải lương tâm lý xã hội "Người đánh rơi hạnh phúc" xoay quanh câu chuyện gia đình của 2 nhân vật Đạt và Dĩ. Câu chuyện ấy nhuốm màu bi kịch khi Đạt – người chồng nhẫn tâm phụ vợ, gửi hồn vào những cuộc ăn chơi trụy lạc, đánh mất lương tâm, trở thành kẻ vô nhân tính. Đạt quên trách nhiệm với gia đình, thậm chí "ngó lơ" với giọt máu đang tượng hình trong bụng vợ để ngủ vùi vào những ngày ăn chơi, hút chích. Tệ bạc với vợ, Đạt còn ngỗ ngược với chính người mẹ đứt ruột sinh ra mình và đuổi bà về quê. Bất lực, đau khổ vì con trai bị cuốn theo lối sống thị thành, mẹ ruột của Đạt và vợ anh từ bỏ cuộc sống phồn hoa, trở về quê sống đời lam lũ. Còn một mình bơ vơ nơi đất lạ người xa, tưởng chừng sẽ ăn năn hối lỗi nhưng ngược lại, Đạt càng rơi vào vực thẳm của thói ăn chơi lêu lõng. Đến khi nhà cửa, tài sản chẳng còn, sống vất vưởng không chốn nương thân, không gia đình bên cạnh, Đạt mới nhớ đến mẹ, nghĩ đến vợ. Đạt về quê tìm gặp mẹ và vợ, anh hối hận và xin được tha thứ. Nhưng sự ăn năn đã quá muộn. Lúc gặp lại những người thân yêu cũng là lúc Đạt từ giã cõi đời vì thân tàn ma dại, hơi tàn sức kiệt không đủ sức lực tiếp tục những ngày làm lại cuộc đời đã từng đánh rơi.

 Còn Dĩ – một người vợ từng có mái ấm êm đềm nhưng không biết quý trọng, giữ gìn. Cuộc sống chốn phồn hoa đô thị đã biến Dĩ từ một cô gái quê chân chất, dịu dàng thành một cô gái thành thị đanh đá. Chán chường cuộc sống thiếu trước hụt sau chốn quê nhà nên đến thành đô, Dĩ bị ma lực đồng tiền lôi cuốn. Cô bán rẻ lương tâm, đánh đổi tình chồng nghĩa vợ chạy theo phù phiếm xa hoa. Đến khi đánh mất hạnh phúc gia đình, mất người chồng luôn hết mực yêu thương và hiền hậu, trở thành vợ của kẻ mua vui ái tình, Dĩ hối hận, dằn vặt lương tâm. Dù có được cuộc sống sang giàu như cô từng chạy theo nhưng Dĩ thấy cô đơn vì thiếu vắng một tình yêu thật sự. Cô luôn mong ngày gặp lại chồng, nối lại tình xưa nhưng hạnh phúc ngày nào đã xa tầm tay.

Bên cạnh những người không biết quý trọng hạnh phúc thì Xuyến – vợ Đạt do NSƯT Hồ Ngọc Trinh thủ vai lại là một hình tượng phụ nữ hiền hậu, tốt bụng. Dù chồng ngược đãi, lạnh nhạt với đứa con đang mang trong bụng và vun tiền ăn chơi trác táng nhưng Xuyến vẫn âm thầm cam chịu, gánh từng gánh chè đi bán kiếm tiền xoay xở cuộc sống với hy vọng chồng nghĩ lại mà đổi thay. Nhưng, tình yêu thương của người vợ hiền vẫn không đủ sức vực dậy sự u mê của Đạt. Chính Đạt và Dĩ là những người đánh rơi hạnh phúc.

Thành công trong từng vai diễn

Khi vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" được truyền hình trực tiếp trên VTV Cần Thơ trong chương trình "Hòa điệu đất chín rồng" số tháng 6-2016, NSƯT Hồ Ngọc Trinh (vai Xuyến) được khán giả bình chọn là vai diễn ấn tượng nhất. Dù chồng bạc tình vô nghĩa nhưng Xuyến vẫn một lòng thủy chung và cam chịu. Vai Xuyến đã thể hiện được nết na, lòng vị tha và đức hy sinh của người phụ nữ Việt. Khi xem vở cải lương, nhiều khán giả trong hội trường rơi nước mắt vì thương, đồng cảm cho Xuyến. Không những hát ngọt ngào, Hồ Ngọc Trinh làm rung động khán giả bởi lối diễn nhập vai, thể hiện tâm lý đau khổ của người vợ lực bất tòng tâm, từng ngày chứng kiến chồng bê tha rượu chè bài bạc, hút chích. Trong các lớp diễn, "đắc" nhất là lớp tứ đại oán khi Xuyến gánh chè đi bán, vô tình gặp Đạt và bị đánh dù đang mang trong mình sinh linh bé nhỏ. NSƯT Hồ Ngọc Trinh chia sẻ " Dù lớp này, Hồ Ngọc trinh vừa bị chồng đánh vừa hát nhưng đây là đoạn thể hiện được sự khổ hạnh tột cùng của người phụ nữ nên rất thích và tâm đắc". Đây cũng là đoạn diễn để lại dấu ấn trong khán giả.

Khi nhắc đến vai Đạt, khán giả đều cho rằng "Không ai diễn vai này đạt như Nguyên Tâm". Từng lời nói, cử chỉ đến lối diễn đều bộc lộ được tính cách nhân vật. Ở cuối vở diễn, lúc Đạt đã hối hận về những chuỗi ngày sống buông trôi thả nỗi, NSƯT Nguyên Tâm cho khán giả thấy sự đau đớn, hối hận qua những tiếng kêu nghe chạnh lòng. Nhưng, sự hối hận đã muộn màng vì khi trở về bên vòng tay của mẹ, tình yêu thương của vợ ở chốn quê nhà cũng là lúc sức khỏe Đạt hao mòn sau những ngày trụy lạc bê tha.

Còn diễn viên trẻ Hoàng Oanh, mặc dù vào vai Dĩ với nhiều diễn biến tâm lý khác nhau nhưng Hoàng Oanh đã diễn thành công. Khi phụ chồng, Hoàng Oanh thể hiện được cái đanh đá, chua ngoa. Nhưng khi đã sống trong sang giàu, trong ngôi biệt thự mà chẳng khác gì chiếc lòng son, Dĩ hối hận. Từng lời độc thoại mà Hoàng Oanh diễn như những lời ăn năn sám hối. Lớp diễn trong ngôi biệt thự cũng là cao trào mà diễn viên phải có lực và thể hiện được diễn biến tâm lý nhân vật. Ở đoạn này, khán giả xem vở cải lương vừa cảm nhận được sự hối hận cũng như sự căm thù những kẻ mua vui ái tình bằng bạc tiền qua lối diễn, những lới thét vang của Hoàng Oanh.

Khép lại "Người đánh rơi hạnh phúc", hình ảnh một cô Xuyến khổ hạnh, nết na vẫn làm khán giả xúc động. Càng thương Xuyến càng đáng trách thay những người chồng phụ bạc, vô trách nhiệm như Đạt và những người vợ bán rẻ bản thân chạy theo đồng tiền như Dĩ. Vở cải lương vì thế là một lời cảnh tỉnh cho những ai chạy theo phù phiếm, bạc tiền xem nhẹ tình cảm, đánh rơi hạnh phúc gia đình.

00520072016.jpg

0620072016.jpg 

0720072016.jpg 

0820072016.jpg

Cảnh trong vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc"

Bài, ảnh: Thùy Hương

22/07/2016 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Nhà Long Hiệp - Nơi thành lập Tỉnh ủy đầu tiên tỉnh Chợ LớnNhà Long Hiệp - Nơi thành lập Tỉnh ủy đầu tiên tỉnh Chợ Lớn

Đó là ngôi nhà mà nhân dân địa phương thường gọi là Nhà Long Hiệp để chỉ ngôi nhà của ông Nguyễn Tấn Tảo (xã Tảo) ở ấp Phước Tỉnh, làng Long Hiệp, Tổng Long Hưng Hạ, Quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc ấp Long Bình, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức). Tại ngôi nhà này, tháng 11 năm 1930, Tỉnh ủy đầu tiên tỉnh Chợ Lớn được thành lập.

Nhà Long Hiệp

Nhà Long Hiệp có kiến trúc truyền thống, 3 gian, 2 chái, mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 60 cm, nền lót gạch tàu lục giác, trang trí ở mặt tiền ảnh hưởng phong cách nghệ thuật phương Tây (đắp nổi dây lá Tây, trang trí đầu cột…). Ngôi nhà này do ông Nguyễn Văn Triều (Cai tổng Chèo) xây dựng vào đầu thế kỷ XX. Khi diễn ra sự kiện thành lập Tỉnh ủy Chợ Lớn thì chủ nhân lúc bấy giờ là ông Nguyễn Tấn Tảo (con ông Nguyễn Văn Triều), bên ngoài, ông là tề làng nhưng bên trong, ông là cơ sở bí mật của Đảng.

Sau khi các tổ chức Đảng được hợp nhất ngày 3-2-1930, ngày 20-2-1930 ở Nam Kỳ “Ban Lâm Thời Chấp Ủy”của Đảng Cộng Sản Việt Nam ( tương tự như Xứ ủy lâm thời ) được thành lập do đồng chí Ngô Gia Tự làm bí thư. Lúc bấy giờ nhiệm vụ hợp nhất tổ chức Đảng Cộng sản ở Nam Kỳ từ cấp Tỉnh ủy, Thành ủy đến Xứ ủy để đề cử đại biểu vào cơ quan Trung ương Đảng là rất quan trọng nhằm Đảng thống nhất lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước.

Ở Tỉnh Chợ Lớn bấy giờ phong trào đấu tranh rất mạnh, đặc biệt là ở các quận Đức hòa, Trung Quận-nơi có sự lãnh đạo trực tiếp của các đồng chí Châu văn Liêm, Lê Quang Sung, Nguyễn Thị Nhỏ. Sau khi đồng chí Châu Văn Liêm-Bí thư liên Tỉnh ủy Gia Định-Chợ Lớn lãnh đạo và hy sinh trong cuộc đấu tranh ở Đức Hòa (4-6-1930 ), cuối tháng 11-1930, thực hiện chỉ đạo của Xứ ủy Nam kỳ, đồng chí Lê Quang Sung từ Đức Hòa về Trung Quận chủ trì cuộc họp thành lập Tỉnh ủy Chợ Lớn tại nhà ông Nguyễn Tấn Tảo ở làng Long Hiệp, tổng Long Hưng Hạ. Địa điểm này được chọn vì tổng Long Hưng Hạ là nơi có phong trào cách mạng rất mạnh trong những năm 1930. Nhà ông xã Tảo là cơ sở của Đảng. Về vị trí, ngôi nhà này cách ga xe lửa Gò Đen và lộ Đông Dương (nay là Quốc lộ 1) không xa, lại nằm trong nội đồng cạnh rạch Gò Đen nên rất thuận lợi cho việc hoạt động bí mật.

Nhà Long Hiệp đã bị đổ sụp, nay chỉ còn lại nền và móng

Tại hội nghị, đồng chí Ung Văn Khiêm (tức Huân ) và đồng chí Nguyễn Xuân Luyện (cử Luyện ) đại diện Xứ ủy chỉ định 5 đồng chí vào Ban Thường vụ Chấp ủy đầu tiên tỉnh Chợ Lớn gồm: Lê Quang Sung (bản thân đồng chí cũng là Xứ ủy viên), Nguyễn Thị Nhỏ, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Xuân Luyện, Nguyễn Văn Tốt, do Lê Quang Sung trực tiếp làm bí thư. Tỉnh ủy Chợ Lớn trực tiếp phụ trách một số chi bộ ở Trung Quận và Đức Hòa, đồng thời cử cán bộ đi các địa phương vận động xây dựng cấp ủy. Sau đó Cần Đước, Cần Giuộc thành lập được quận ủy, một số đồng chí được bổ sung vào Tỉnh ủy.

Kể từ sau Hội nghị Long Hiệp, phong trào cách mạng ở tỉnh Chợ Lớn được thống nhất chỉ đạo và phát triển mạnh. Sang năm 1931, thực dân Pháp khủng bố trắng, cơ quan Tỉnh ủy tỉnh Chợ Lớn vì thế phải chuyển vào Sài Gòn hoạt động .

 Gắn liền với sự kiện thành lập Tỉnh ủy đầu tiên tỉnh Chợ Lớn tháng 11-1930, Nhà Long Hiệp trở thành một địa điểm lịch sử đánh dấu quá trình hình thành, xây dựng và phát triển lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Long An trong sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Năm 1994, Nhà Long Hiệp được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, tại Quyết định số 119/ QĐ.UB- 27.01.1994./.

                                                                                   Bài viết: Nguyễn Tấn Quốc

                                                                            Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Long An

16/03/2012 7:40 SAĐã ban hànhApproved
Hòa điệu đất chín rồngHòa điệu đất chín rồng

Tối ngày 26/6, vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc” do nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Cải lương Long An biểu diễn đã được truyền hình trực tiếp trên kênh truyền hình VTV Cần Thơ của Đài Truyền hình Việt Nam trong chương trình “Hòa điệu đất chín rồng” số tháng 6/2016.

HoaDieuDat 9 Rong 1.jpg

Cảnh diễn trong vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc”

 “Người đánh rơi hạnh phúc” của tác giả Kha Tuấn và NSƯT Hữu Lộc là vở cải lương tâm lý xã hội mang thông điệp cảnh tỉnh mọi người đừng vì đồng tiền, vì thói ăn chơi đua đòi mà đánh mất lương tâm và hạnh phúc đang có. Với đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp như NSƯT Hồ Ngọc Trinh, Vương Tuấn, Nguyên Tâm, Hoàng Oanh,..., vở diễn đã làm nức lòng người xem bởi nội dung sâu sắc và lối diễn nhập tâm, thể hiện được tính cách, tâm lý nhân vật của các diễn viên.

HoaDieuDat 9 Rong 2.jpg

Vở diễn đã làm nức lòng người xem bởi nội dung sâu sắc

Được biết, chương trình “Hòa điệu đất chín rồng” của VTV Cần Thơ là chương trình phát sóng trực tiếp theo định kỳ những vở cải lương do các nghệ sĩ, diễn viên.. của các Đoàn Nghệ thuật, Đoàn văn công khu vực đồng bằng sông Cửu Long biểu diễn./.

                                              Nguồn báo Long An Online -Thùy Hương

29/06/2016 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Công diễn vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc”Công diễn vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc”

Vào lúc 20 giờ,00 ngày 26/6/2016, Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ công diễn vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" trong chương trình "Hòa điệu Đất Chín Rồng" diễn ra tại Trung tâm Luyện tập và sinh hoạt Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An (được trực tiếp truyền hình trên kênh VTV5) thu hút đông đảo khán giả đến xem và cổ vũ.

CaiLuong 1.jpg

Quang cảnh hội trường trước khi vở diễn bắt đầu

Vở diễn "Người đánh rơi hạnh phúc" của soạn giả Kha Tuấn và Nghệ sĩ Ưu tú Hữu Lộc là vở cải lương tâm lý xã hội mang thông điệp cảnh tỉnh mọi người đừng vì đồng tiền, vì thói ăn chơi đua đòi mà đánh mất lương tâm và hạnh phúc đang có đến khi nhận ra hối hận thì đã muộn màng.

CaiLuong2.jpg

Cảnh diễn trong vở "Người đánh rơi hạnh phúc"

Vở diễn cuốn hút người xem bởi nội dung kịch bản hay và lối diễn xuất của các diễn viên rất tự nhiên, chân thật. Vở diễn được Nghệ sĩ Ưu tú Hữu Lộc dàn dựng sáng tạo, đạt hiệu quả cao trong kỹ thuật xử lý máy chiếu cho những cảnh quay trước lồng ghép vào lúc chuyển cảnh trên sân khấu làm người xem không bị gián đoạn cảm xúc.

CaiLuong3.jpg

Cảnh kết trong vở "Người đánh rơi hạnh phúc"

Nhờ sự kết hợp cảnh trí trên màn hình máy chiếu và sắp đặt khéo léo kết hợp giữa âm thanh, ánh sáng, cùng lối diễn xuất chắc tay, giọng ca ngọt ngào, mượt mà của những nghệ sĩ tài năng, tâm huyết với nghệ thuật sân khấu cải lương như: Nghệ sĩ Ưu tú Hồ Ngọc Trinh, Nghệ sĩ Ưu tú Nguyên Tâm, Vương Tuấn, Hoàng Oanh,...đã giúp vở diễn tăng thêm sức hấp dẫn, sinh động, lôi cuốn.

Theo nhận xét của nhiều khán giả trong đêm diễn, đây là một vở cải lương tâm lý xã hội được đầu tư dàn dựng kỹ lưỡng, mang nhiều ý nghĩa, có giá trị thiết thực với cuộc sống hiện nay.

                                                         Hoàng Quân - Phòng Quản lý văn hóa

28/06/2016 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Nhà thơ Hoài Vũ với những tác phẩm viết về Long An trong kháng chiến chống MỹNhà thơ Hoài Vũ với những tác phẩm viết về Long An trong kháng chiến chống Mỹ

Long An trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là chiến trường nơi cửa ngõ Sài Gòn ác liệt và nóng bỏng nhưng đầy tình  thương yêu,  không ngẫu nhiên có sức hút kỳ lạ đối với văn nghệ sĩ cách mạng. Hiện thực phong phú, giàu chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tấm lòng kiên trinh, nồng hậu của đồng bào và những thủ đoạn tàn bạo của địch ở nơi đây là chất liệu quý báu đối với người sáng tác. Tiêu biểu trong những văn nghệ sĩ ấy, gắn bó sâu sắc nhất với Long An là nhà thơ Hoài Vũ.

Hoài Vũ tên thật là Nguyễn Ðình Vọng, sinh ngày 25-8-1935 tại Quảng Ngãi, nhưng sự nghiệp văn chương cách mạng của Hoài Vũ hoàn toàn gắn với Nam bộ, đặc biệt là Long An. Với tư cách là Ủy viên thường trực Hội văn nghệ “R”, Hoài Vũ có mặt xuyên suốt ở chiến trường Long An từ cuối 1963, lúc mà phong trào văn nghệ kháng chiến ở địa phương chuyển biến và lớn mạnh lên theo phong trao cách mạng cho đến ngày thắng lợi 1975, đã đặt chân lên hầu khắp Long An, từ vùng bưng trấp Đồng Tháp Mười đến miền hạ “chân trời bát ngát”, từng trải qua những thời điểm gian khổ, ác liệt nhất, đã sống, chiến đấu và dành những tình cảm tốt đẹp nhất để ngợi ca mảnh đất “trung dũng kiên cường” của hai sông Vàm Cỏ. Trong suốt thời gian ấy, những tác phẩm của Hoài Vũ đã lần lượt ra đời mà như ông thổ lộ, đó là sự kết tinh  từ những tấm lòng và vốn sống thực tế. Vốn sống và tấm lòng của chính ông, của đồng đội và của nhân dân ngay trên chiến trường Long An khắc nghiệt đầy đầy nghĩa tình này.
 

Nhà thơ Hoài Vũ 

Bài nhạc Vàm Cỏ Đông và chữ ký của Nhà thơ 


Về thơ, trong 4 tập thơ đã xuất bản là Vàm Cỏ Đông, Anh ở đầu sông em cuối sông, Đi trong hương tràm, Chia tay hoàng hôn, phần lớn là thơ viết về Long An. Và tên của những tập thơ này đều lấy tên của những bài thơ nổi tiếng viết về Long An và đã được phổ nhạc như Vàm Cỏ Đông (Trương Quang Lục phổ), Anh ở đầu sông, em cuối sông (Phan Huỳnh Điểu phổ), Đi trong hương tràm, Chia tay hoàng hôn (Thuận Yến phổ) đã góp phần động viên đồng bào, chiến sĩ Long An và miền Nam nói chung, ngoan cường chiến đấu giải phóng quê hương.

Về văn, phần lớn các tập truyện như Tiếng sáo trúc, Rừng dừa xào xạc, Quê chồng, Bông sứ trắng, Vườn ổi... qua mục đọc truyện đêm khuya của Đài Tiếng nói Việt Nam, cuộc sống chiến đấu ác liệt, đầy gian khổ nhưng rất hào hùng của quân dân Long An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được bạn nghe đài là đồng bào, chiến sĩ cả nước biết đến, theo dõi và có nhiều ấn tượng sâu sắc.

Đặc biệt, trong mảng văn thì bút ký là thể loại được nhà thơ Hoài Vũ thể hiện nhiều nhất do yêu cầu bức xúc của chiến trường, phải nêu ngay những người thật, việc thật, những tấm gương, những đơn vị anh hùng từ thực tế ác liệt của chiến tranh để phục vụ kháng chiến. Toàn bộ bút ký Bên Sông Vàm Cỏ (gồm 10 bút ký), nhà thơ đã phản ánh cuộc sống, sinh hoạt và chiến đấu của quân dân Long An. Từ Anh kỹ sư giải phóng (viết về liệt sĩ Nguyễn Văn Lớn ở Đức Huệ, chuyên sản xuất vũ khí tự tạo, thường gọi là Kỹ sư lớn) cho đến những cô Gái Lương Hoà đánh giặc như việc chặt mía, trồng thơm; hay hai cha con ông già ở Bến Lức 3 tháng liền ròng rã Đường ra tiền tuyến; hình ảnh những cô gái mười tám đôi mươi cười trong gian khổ, lạc quan trước cả cái chết trong Nữ pháo binh thành phố hay Cánh én trong vườn thơm, và câu chuyện về đội thiếu niên du kích bí mật với những người đội trưởng tuyệt vời như trong Chim Quyên... đều là những hình ảnh của cuộc chiến tranh nhân dân ở Long An thu nhỏ lại.

Ngoài ra còn hơn 50 bút ký viết về Long An, trong đó rất nhiều tác phẩm đã gửi ra miền Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và đăng trên các báo Nhân Dân (Làng hầm, Vàm Cỏ Tây dậy sóng), Thống Nhất (Sấm sét trên lộ Đông Dương, Con đê đánh Mỹ, Du kích Đức Tân) ...

 Nói đến những tác phẩm của Hoài Vũ viết về Long An không thể không nhắc đến bài thơ Vàm Cỏ Đông, một trong những bài thơ tình hay nhất trong nền thơ chống Mỹ, có sức sống mãnh liệt qua thời gian, trở thành biểu tượng hào hùng và lãng mạn của mảnh đất “trung dũng kiên cường”. Một đêm, Hoài Vũ cùng Giang Nam qua sông Vàm Cỏ Đông trong sự rập rình của tàu địch, về nằm giấu mình trong một chòi vịt của dân ở giữa đồng thuộc xã Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ. Đêm ấy, Giang Nam viết bài thơ Qua sông Vàm Cỏ, còn Hoài Vũ đã hoàn thành bài thơ Vàm Cỏ Đông. Bài thơ Vàm Cỏ Đông không lâu sau đó được Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trên cả nước. Năm 1966, vào thời kỳ không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, trong một đêm khuya mùa hè, nhạc sỹ Trương Quang Lục (cũng là người Quảng Ngãi, khi ấy đang là kỹ sư hóa chất của Nhà máy Super photphat Lâm Thao), chợt nghe trong buổi Tiếng thơ của Đài tiếng nói Việt Nam giọng của ai đó (nghệ sĩ Trần Thị Tuyết ) đang ngâm bài thơ Vàm Cỏ Đông của nhà thơ Hoài Vũ từ miền Nam gửi ra, lời thơ và giọng ngâm thật tha thiết. Ông xúc động, miên man suy nghĩ. Lên giường nằm, trước khi ngủ ông giở tờ báo Văn Nghệ vừa mới nhận được lúc chiều, lại chợt thấy đăng bài thơ Vàm Cỏ Đông. Ông ngồi bật dậy, đọc đi đọc lại, vừa đồng cảm lại vừa tâm đắc vì ở tận miền Bắc xa xôi lại có người gợi lên một dòng sông xanh mát quanh năm ở tận miền Nam với tất cả tấm lòng tha thiết, thủy chung cùng ý chí kiên cường chống giặc... Và ca khúc Vàm Cỏ Đông ra đời chỉ sau hơn một tiếng đồng hồ ngay trong đêm hôm ấy. Bằng giai điệu giàu chất trữ tình và sâu lắng, bài thơ Vàm Cỏ Đông sau khi phổ nhạc càng được phổ biến rộng rãi và có sức lay động lớn góp phần thôi thúc thanh niên ra trận. Nhà thơ Vĩnh Mai trong một bài viết trên báo Văn Nghệ, cho rằng Vàm Cỏ Đông có chất “ma mị” nên có sức thu hút lớn. Nhà thơ Nguyễn Trọng Oánh mở đầu bài thơ nổi tiếng Ra quân trên chiến trường miền Đông bằng cảm hứng từ Vàm Cỏ Đông:

Ôi câu thơ tự lâu rồi ta nhắc:

“ Quê hương anh cũng có dòng sông”

Dòng sông ấy ngày đêm ta thao thức:

“ Vàm Cỏ Đông, ơi Vàm Cỏ Đông”. 

Sau hiệp định Pa- ri năm 1973, các nhà báo Nguyễn Đức Giáp, Hoàng Lượng, Đinh Phong, Cao Kim, Lê Văn Duy, Đình Lập, Hữu Phước, Hoài Vũ ... được cử vào đoàn nhà báo Giải Phóng làm việc trong Ban trao trả tù binh. Cô Ba Thi đã chỉ đạo chọn một băng nhạc thật hay để phát. Và bài Vàm Cỏ Đông của nhạc sỹ Trương Quang Lục phổ thơ Hoài Vũ là một trong những bài hát được chọn phát khi làm việc.

Trên đây cũng chỉ là những tác phẩm tiêu biểu trong hầu như toàn bộ tác phẩm của Hoài Vũ đều viết về Long An. Trong một cuộc gặp nhà thơ vào tháng 3 năm 2005 để lấy tư liệu viết lịch sử ngành Văn hóa-Thông tin tỉnh Long An, tác giả được nghe ông thổ lộ rằng Long An là quê hương thứ hai của mình, nơi đã cung cấp nguồn sáng tạo vô tận cho trang viết của ông.

Có thể nói rằng, mảnh đất Long An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được cả nước biết đến, được cả nước mến yêu hơn, có một phần qua chất thơ văn lãng mạn, chân thật và đầy sâu lắng của Hoài Vũ./.

                         Nguyễn Tấn Quốc

16/10/2012 1:33 SAĐã ban hànhApproved
THẮP LÊN TÌNH YÊU SÁCH CHO HỌC SINH THẮP LÊN TÌNH YÊU SÁCH CHO HỌC SINH

Ngày 24/02/2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định lấy ngày 21/4 hàng năm là "Ngày Sách Việt Nam" nhằm khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng. Tại huyện Bến Lức, để tạo cho học sinh có được thói quen tiếp xúc với tri thức mới qua những trang sách thì việc xây dựng không gian văn hóa đọc trong trường học là hết sức quan trọng. Một trong những cách làm hiệu quả hơn hết là đưa các em đến gần hơn với sách, khơi dậy tình yêu sách trong mỗi một học sinh.

Trường THCS Nguyễn Trung Trực hiện có 2.131 học sinh và 93 cán bộ giáo viên. Song song với việc giảng dạy, thì làm thế nào để hình thành và phát triển văn hóa đọc cho học sinh trong thời buổi công nghệ thông tin ngày càng phát triển luôn là vấn đề được nhà trường trăn trở, quan tâm. Nhà trường đầu tư xây dựng thư viện đạt chuẩn xuất sắc với gần 11 ngàn bản sách, 20 loại báo - tạp chí; tủ sách pháp luật đảm bảo từ 260 bản sách trở lên, đã giúp các em thuận lợi hơn rất nhiều cho việc học và tìm hiểu kiến thức. Tại thư viện của trường, bàn ghế được kê ngăn nắp, không gian thoáng, rộng, sạch sẽ, các giá sách được sắp xếp theo từng chủ đề để giúp các em học sinh dễ lựa chọn. Trung bình mỗi ngày có khoảng 100 lượt học sinh đến đọc, mượn - trả sách. Em Lê Ngọc Mỹ Uyên, học sinh lớp 9A7 chia sẻ: "Em rất thích đọc sách vì đọc sách giúp có nhiều kiến thức trong cuộc sống và học tập; đọc sách cũng giúp bản thân em duy trì thành tích học giỏi 9 năm liên tục. Hiện nay, nhiều bạn nhỏ trong nước cũng như trên thế giới xem điện thoại rất nhiều. Em nghĩ các bạn nên dành thời gian để đọc sách, để giúp hiểu những kiến thức và những kĩ năng bổ ích cho cuộc sống của chúng ta".

24-4-2019, ben luc Ngay sach Viet Nam - Thap len tinh yeu sach cho hoc sinh.JPG

Đọc sách mở ra một chân trời mới

Cô Bùi Lê Duy Thảo, giáo viên trường cho biết: "Bản thân là giáo viên, việc đọc sách giúp tôi rất nhiều trong việc nghiên cứu, bổ sung kiến thức để có những bài giảng hay hơn, thu hút học sinh hơn. Từ những trang sách, tôi học tập được rất nhiều điều bổ ích như bổ sung các kiến thức về thiên nhiên, xã hội, thế giới quanh ta, hướng con người tới những điều tốt đẹp, lương thiện cũng như duy trì dòng chảy của văn hóa đọc. Và như thế, tình yêu sách sẽ còn mãi, đưa con người đến với trí thức, với sự nhân bản và văn hóa đọc sẽ không bị lụi tàn...".

Bên cạnh đó, trong những buổi sinh hoạt dưới cờ, cán bộ phụ trách thư viện còn giới thiệu những quyển sách mới, phù hợp với tâm lý lứa tuổi đến các em học sinh toàn trường và chỉ cho các em cách xử lý thông tin từ sách, hình thành ở các em thói quen đọc dưới nhiều hình thức. Ông Nguyễn Thành Dững, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Trung Trực vui mừng cho hay: "Trong 3 năm qua, nhà trường đã đầu tư hơn 50 triệu đồng để bổ sung các đầu sách cũng như việc nâng cấp mở rộng không gian đọc sách tại thư viện trường cho học sinh và cán bộ giáo viên. Bên cạnh đó, nhà trường còn phát động phong trào ủng hộ sách cũ, qua đó đã nhận được hơn 600 quyển sách các loại từ các em học sinh và giáo viên. Từ đó, góp phần giúp các học sinh của trường có cơ hội để đọc những cuốn sách hay, hấp dẫn với đầy đủ thể loại. Đồng thời, đây là việc làm hữu ích để tách các em khỏi những quan tâm công nghệ khác như ti vi, điện thoại, game... Cũng nhờ đọc sách, kỹ năng sống của các em được nâng lên thấy rõ, các em yêu sách và gắn bó với phòng đọc hơn".

Trong bối cảnh hiện nay, khi văn hóa nghe nhìn, văn hóa mạng phát triển đã thu hút giới trẻ và có xu hướng lấn át văn hóa đọc. Vì vậy, những năm gần đây các trường học trên địa bàn huyện Bến Lức đã chú trọng xây dựng các biện pháp nhằm thu hút, khơi dậy niềm đam mê đọc sách trong học sinh như xây dựng các thư viện xanh trong khuôn viên trường, thư viện mini tại các góc lớp, qua đó tạo thói quen đọc sách tích cực trong học sinh, bước đầu đã tạo được hình ảnh đẹp về mối quan hệ giữa sách và người./.

Việt Hằng

26/04/2019 5:00 CHĐã ban hànhApproved
ĐỨC HUỆ QUAN TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐỨC HUỆ QUAN TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

Thời gian qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền và tổ chức đoàn thể huyện Đức Huệ luôn xác định việc xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh là một trong những giải pháp quan trọng trong việc phòng, chống tệ nạn xã hội và các sản phẩm văn hóa độc hại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Huyện luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người được tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Lãnh đạo huyện và cơ sở luôn quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng giáo dục chính trị tư tưởng để mọi người nâng cao nhận thức, xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

18-5-2020 Duc Hue quan tam cong tac xay dung doi song VH.png

Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Huệ

Bên cạnh đó, huyện luôn quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp hệ thống các thiết chế  văn hóa, thể thao để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, thể thao của nhân dân. Trong thời gian qua, huyện đã xây mới Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh với cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị cơ bản đảm bảo phục vụ cho nhu cầu phát triển văn hóa, thể thao và truyền thanh của địa phương. Đồng thời, khai thác và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa gồm: 1 bưu điện trung tâm, 11 bưu điện văn hóa xã – thị trấn, 1 đội thông tin lưu động, 1 thư viện, 1 công viên, 3 sân bóng đá, 4 sân bóng chuyền, 18 sân cầu lông, 9 Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Học tập cộng đồng xã, thị trấn. Hệ thống truyền thanh của huyện có 11 Đài cấp xã, 60 trạm truyền thanh ấp, khu phố đã cơ bản phủ sóng toàn bộ địa bàn huyện, các thiết chế này, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. Ngoài ra, huyện thực hiện tốt công tác xây dựng gia đình văn hóa, nhân dân tích cực hưởng ứng xây dựng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Hiện tại, toàn huyện có 96,15% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa, 49/49 ấp, khu phố đạt chuẩn văn hóa. Các giá trị văn hóa truyền thống được nhân dân bảo tồn, phát huy, các hủ tục lạc hậu được xóa bỏ. Từ đó, khơi dậy niềm tin trong cộng đồng dân cư, phát huy vai trò tự quản, góp phần xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ./.         

Tấn Hữu

19/05/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Nghề rèn ở Thủ Thừa, tỉnh Long An Nghề rèn ở Thủ Thừa, tỉnh Long An
Đến xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa vào mùa gặt, bạn sẽ rất ngạc nhiên và không khỏi thắc mắc bởi âm thanh inh ỏi suốt ngày đêm từ tiếng đe, tiếng búa nện vào nhau. Một cảm không mấy dễ chịu với những ai thích sự yên tỉnh ở vùng quê này. Thật ra âm thanh ấy xuất phát từ công sức lao động vất vả của những người thợ rèn. Chính họ đã biến những khối sắt thép ngoan cố trở thành những lưỡi dao, cái cuốc, cái liềm… những vật dụng có ích trong đời sống hàng ngày.

40.JPG

 Nung sắt để tôi sắt thành khối

41.JPG

Đập sắt định hình sản phẩm

Hiện nay vẫn chưa có tư liệu nào xác định cụ thể về thời điểm xuất hiện của nghề rèn ở xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa. Tuy nhiên, nó là một trong những nghề thủ công truyền thống gắn với hành trang văn hóa của lưu dân từ miền Trung trong công cuộc khai phá, mở mang vùng đất phương Nam, trong đó có đất Long An ngày nay. Theo những người cao tuổi ở Nhị Thành (*) thì nghề này có mặt ở đây trên 150 năm và đã trải qua những thăng trầm trong quá khứ. Có thể nói, thời hoàn kim là từ những năm 1978 - 1988. Đó là thời kỳ tỉnh Long An tập trung cho công cuộc khai phá đất hoang của vùng Đồng Tháp Mười. Bấy giờ các lò rèn thường đỏ lửa quanh năm để rèn các sản phẩm như dao phát cỏ, các loại cuốc, xẻng, leng… phục vụ cho công cuộc khai phá ấy. Đến nay, nền kinh tế thị trường cạnh tranh rất gay gắt, thị trường tiêu thụ các sản phẩm của làng nghề bị thu hẹp, nhiều lò rèn đã không còn họat động. Trước đây ở Nhị Thành có đến 100 lò nay chỉ còn khoảng 40 lò hoạt động theo thời vụ. ​

42.JPG

43.JPG

Có thể nói, so với nhiều nghề thủ công khác, rèn là một nghề khá vất vả, tham gia vào nghề toàn là đàn ông. Người làm nghề này không chỉ đòi hòi sức khỏe tốt mà còn phải có trái tim của người thợ kim hoàn, cái khéo léo của  người thợ may cũng như sự sáng tạo và một tinh thần hăng say lao động. Người thợ phải làm việc dưới sức nóng của những chiếc lò lửa, họ phải nung, đập những khối sắt, thép nặng trịch, có hình dạng méo mó rồi tạo dáng cho nó. Tất cả phải 6 lần mới đủ lửa để cho ra sản phẩm như ý. Nhìn những lò lửa rực cháy cùng sức người lao động như thế mới thấy hết cái vất vả của người thợ. Trong quá trình làm ra sảm phẩm, công đoạn tạo dáng là khó và nặng nhất, người thợ không chỉ dùng sức để uốn nắn những thỏi sắt, thép mà còn phải có sự phối hợp đồng bộ với tất cả mọi người. Người cầm kìm giữ vai trò quan trọng nhất trong việc tạo dáng, sẽ điều khiển việc đập thích hợp, đập bao nhiêu cái và ở những chỗ nào để công cụ có dáng ưng ý. Sau khi tạo dáng cho sản phẩm là tiến hành tôi sắt. Bỏ sản phẩm vào máng gỗ đựng nước có hòa tan một ít muối. Cuối cùng là khâu làm chuôi, tra cán, lau chùi sản phẩm. Sản phẩm nơi đây ngoài dao, búa, liềm còn có rựa, cuốc, lưỡi cày. Đây là những sản phẩm được người dân các tỉnh miền tây ưa chuộng.

Những năm trước đây khi mà việc khai thác đất đai còn nhiều, quá trình cơ giới hóa nông nghiệp chưa cao, các lò rèn ở Nhị Thành làm ăn khấm khá, nhất là vào mùa thu họach lúa, mì thì làng nghề lại rực lửa suốt ngày đêm. Bây giờ, cái cày, cái cuốc, cái liềm đã được thay thế dần bằng những chiếc máy cày, máy xới, máy gặt đập liên hợp… thì công việc của những người thợ rèn ngày càng ít đi. Chính vì vậy mà các chủ lò rèn cũng thu hẹp sản xuất. Hiện nay, thanh niên trong vùng cũng không mặn mà với nghề này do lao động quá cực nhọc mà thu nhập cũng không cao. Chính vì vậy nghề rèn ở đây đứng trước nguy cơ mai một và thất truyền là vấn đề được dự báo trước. Song thâm tâm của những người làm nghề nơi đây vẫn muốn bám giữ cái nghề “cha truyền, con nối”, vẫn muốn truyền lại cái đe, cái búa, bếp lửa cho thế hệ sau./.

                                                    Bài: Đỗ Thị Lan

                                                    Ảnh: Nguyễn Thị Hồng Tri

(Bảo tàng Long An)​


22/10/2014 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Di tích khảo cổ học Gò Ô ChùaDi tích khảo cổ học Gò Ô Chùa

      Đồng Tháp Mười là vùng đất mới đối với khảo cổ học, tuy nhiên từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay, nhiều di tích khảo cổ học thời tiền sử và Óc Eo đã được phát hiện và khai quật. Di tích Gò Ô Chùa là một trong số đó. Di tích này đã được phát hiện năm 1986 và khai quật nhiều lần nhằm tìm hiểu tiến trình khai phá, chinh phục Đồng Tháp Mười của các cộng đồng cư dân cổ.

    Về cảnh quan, Đồng Tháp Mười của Long An có thể được chia làm hai phần:

        -Vùng rìa, từ biên giới Việt Nam-Campuchia xuống (vùng phía Bắc Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng) là dãi đất chuyển tiếp giữa phù sa cổ và phù sa mới, gồm các gò đất cao nằm rải rác giữa các bãi lầy thấp.   

        -Tiếp giáp với vùng rìa về phía Nam là bồn trũng với độ cao thay đổi từ 0,50 đến 3m, nhưng trông rất bằng phẳng, phù sa mới của bồn trũng phủ lên phù sa cổ ngày một dày từ Bắc xuống Nam..

    Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11o0008vĩ độ Bắc- 105o4618 kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam- Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3m, dài 450m theo hướng Bắc- Nam, rộng 150m theo hướng Đông-Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam- Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

    Di tích đã được khai quật 04 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng Hòa Liên bang Đức. Hiện vật thu thập được trong các đợt khai quật  khá phong phú, gồm nhiều chất liệu khác nhau, nhiều nhất là đồ gốm. Đồ gốm bao gồm trên 70 đồ đựng còn tương đối nguyên vẹn hoặc có thể phục nguyên và hàng vạn mảnh gốm vỡ, mảnh đất nung, mảnh cà ràng.... Một số lớn trong số đồ gốm này được sử dụng làm đồ tùy táng, số còn lại phân bố rải rác trong tầng văn hóa. Chúng gồm các loại hình khác nhau như nồi, chum nhỏ, bình đáy tròn, tô chậu, mâm bồng, vung... Gốm Gò Ô Chùa có độ nung cao, mặt được phủ áo lấy từ sét trắng, được miết láng và tô đỏ hoặc đen bóng. Ngoài ra, còn tìm được nhiều công cụ xương, sừng và gạt hươu, công cụ sắt như mũi nhọn, thuỗng có họng tra cán, hạt chuỗi bằng đá quý, lục lạc và vòng đồng, mảnh khuôn đúc, nồi rót kim loại...

 

 Hiện trường khai quật di tích

 Hố khai quật di tích Gò Ô Chùa, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, Long An.

 Di vật tìm thấy ở di tích Gò Ô Chùa, xã Hưng Điền A, huyễn Vĩnh Hưng tỉnh Long An.

 

    Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày khoảng 3m, chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ  đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến hai ngàn năm. Cuộc sống của họ khá phát triển, liên tục, vững chắc và ngày càng trở nên  phong phú và tinh tế, cuối cùng trở nên khác biệt với thuở ban đầu (diễn biến của gốm, tầng văn hóa và táng tục...). Những sản phẩm bằng đồng vào lúc này đã xuất hiện. Nồi nấu kim loại và khuôn đúc đồng đã được phát hiện trong khai quật. Vào cuối giai đoạn này, kỹ thuật đã được phát triển hơn nữa, sắt được dùng cùng với đồng. Đồ trang sức như hạt chuỗi bằng đá quý, vòng đeo tay bằng đồng... đã được sử dụng rộng rãi trong khi đồ đá, đồ xương đã giảm vai trò trong đời sống xã hội, nhưng bằng cách này hay cách khác vẫn giữ vai trò trong những tập tục lễ nghi...Nghề dệt ở đây rất được coi trọng, thể hiện qua khối lượng lớn dọi xe chỉ đã thu thập được và việc sử dụng phổ biến nó làm đồ tùy táng. Dấu vết vải để lại trên rất nhiều mảnh gốm, trên các đồ tùy táng bằng sắt, chứng tỏ những người thợ ở đây đã sản xuất được loại vải mịn và mỏng với chất lượng cao. Lúa, gạo đã trở thành nguồn lương thực chủ yếu.

    Di chỉ Gò Ô Chùa được cộng đồng cư dân cổ lựa chọn gần nguồn nước nhưng có thế đất hơi cao thoát khỏi lũ lụt. Hệ thống hào, rạch bao quanh di chỉ nối liền với những sông lớn Cái Cỏ, Long Khốt là khá nổi bật. Nó không những được dùng để cung cấp nước cho đồng lúa mà còn được dùng như những đường thoát nước vào mùa mưa và như những hồ chứa nước vào mùa khô. Súc vật được thuần dưỡng như heo, chó nhà, trâu mà những di cốt được tìm thấy khá phổ biến. Rất nhiều những vỏ trấu, hạt lúa được tìm thấy trong xương gốm, cho biết rằng vào thời này, lúa  đã được cư dân ở đây canh tác đầy đủ và vai trò của nó trong đời sống xã hội là rất quan trọng. Rất nhiều sản phẩm ở Gò Ô Chùa đặc biệt là gốm ba chạc được sản xuất với mục đích trao đổi nói lên rằng cộng đồng cư dân cổ ở đây đã có tiếp xúc, trao đổi với những trung tâm buôn bán lớn trong vùng thuở ấy.

    Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu vừa qua, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

    Do nội hàm văn hóa phong phú và quan trọng như trên, di tích được công nhận cấp Quốc gia theo Quyết định của Bộ Văn hóa- Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) số 1570/VHQĐ ngày 15- 9- 2009. Hiện nay di tích này là điểm tham quan để tìm hiểu về văn hóa cổ không chỉ của Long An mà còn của cả nước để so sánh với cuộc sống cư dân cổ cùng thời ở khu vực Đông Nam Á.

    Để đi đến di tích, du khách có thể dùng thuyền từ Vĩnh Hưng đi về hướng Hưng Điền A khoảng một giờ hoặc có thể đi ô tô từ Vĩnh Hưng theo tỉnh lộ 831 đến trụ sở xã Khánh Hưng rẽ phải 15 km thì gặp di tích ở phía bên trái./. 

                                                                                           Tiến sĩ Bùi Phát Diệm

17/02/2012 2:05 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​