Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 242335
 
Thông tin Văn Hóa - Cải lương
 
​Dù khiêm tốn so với bề dày lịch sử 100 năm cải lương, sân khấu cải lương Long An đã hòa quyện vào dòng chảy chung để lại những dấu ấn nghệ thuật không thể nào quên, góp phần vào sự phát triển của bộ môn nghệ thuật dân tộc trải qua nhiều bước thăng trầm này.1. Thời hoàng kim Khi sân khấu cải lương chính thức ra đời ở Mỹ Tho (15/3/1918), Long An chưa có gánh cải lương nào, chỉ có vài gánh hát bội, ... 
 
​Trải qua quá trình phát triển rực rỡ, cải lương đang mất dần vị thế "độc tôn" bởi qui luật phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển của công nghệ thông tin. Cải lương ở Long An không nằm trong ngoại lệ đó. Ngày 28/4/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Trung ương và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ ch... 
 
​Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018, tại Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An (Phường 4, thành phố Tân An), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) phối hợp với Cục Nghệ thuật Biểu diễn tổ chức Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018. Đây là dịp hội tụ của 25 đơn vị biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp với 32 vở diễn về tranh tài tại vùng đất có truyền thống văn học - nghệ thuật và là một trong những ch... 
 
Ngày 17/7/2017, Đoàn công tác tỉnh Long An do ông Lê Tấn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng đoàn đến thăm và tặng quà Đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân (NSND) Huỳnh Nga tại căn hộ riêng (Chung cư Khánh Hội 1, Phường 1, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh). Tham gia đoàn công tác có bà Lê Thị Thu Thảo, đại diện Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An; bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch... 
 
​Đến hẹn lại lên, vào dịp kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam 12-8 âm lịch hàng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lại phối hợp Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Long An tổ chức họp mặt đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn và những người làm công tác quản lý ngành sân khấu trong tỉnh. Buổi họp mặt ấm áp không chỉ là dịp để văn, nghệ sĩ tỉnh nhà gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm mà còn là nét đẹp... 
 
​Thể hiện sự quan tâm và nhằm tăng cường sức mạnh lãnh đạo đối với Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An, ngày 17/8/2016 ông Phạm Văn Trấn, Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã làm việc với đoàn nghệ thuật Cải lương Long An và trao Quyết định bổ nhiệm Nghệ sĩ Ưu tú Hồ Thị Ngọc Trinh là diễn viên của Đoàn giữ chức vụ Phó Trưởng đoàn Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An, thời hạ... 
 
​Chỉ vì đồng tiền, mãi sa đà vào những trò ăn chơi trụy lạc, người vợ, người chồng đánh mất lương tâm, đánh mất chính mình và đánh rơi hạnh phúc gia đình. Đến khi hối hận, hạnh phúc không còn nguyên vẹn như xưa... Đó là bi kịch của 2 gia đình rời quê lên thành phố sinh sống trong vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" của tác giả Kha Tuấn và NSƯT Hữu Lộc.Bi kịch của đồng tiềnVở cải lươn... 
 
​ Tối ngày 26/6, vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc” do nghệ sĩ, diễn viên của Đoàn Nghệ thuật Cải lương Long An biểu diễn đã được truyền hình trực tiếp trên kênh truyền hình VTV Cần Thơ của Đài Truyền hình Việt Nam trong chương trình “Hòa điệu đất chín rồng” số tháng 6/2016.Cảnh diễn trong vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc” “Người đánh rơi hạnh phúc” của tác giả Kha Tuấn và NSƯT Hữ... 
 
​Vào lúc 20 giờ,00 ngày 26/6/2016, Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ công diễn vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" trong chương trình "Hòa điệu Đất Chín Rồng" diễn ra tại Trung tâm Luyện tập và sinh hoạt Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An (được trực tiếp truyền hình trên kênh VTV5) thu hút đông đảo khán giả đế... 
 
​"Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Lời nhân vật Giáo sư trong vở cải lương "Sân khấu cuộc đời" của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An trong cuộc thi nghệ thuật sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015 tại tỉn... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANTÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

THÀNH PHỐ TÂN AN

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

(Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An)

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Thượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đương thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận Công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 Di tích Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 534/QĐ/BT ngày 11/05/1993.

HUYỆN CẦN GIUỘC

CHÙA TÔN THẠNH (Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc)

Chùa Tôn Thạnh tọa lạc tại xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808.

Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người "dân ấp dân lân", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: "Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ".

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh "rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng" như xưa. Tuy nhiên, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng. Trong khuôn viên chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Năm 2003, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến và vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền.

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Chùa Tôn Thạnh là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/11/1997 .

RẠCH NÚI

(p Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc)

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400 ± 100 năm cách ngày nay, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ, bao gồm nhiều loại hình công cụ lao động bằng đá, xương, sừng và đồ gốm nhưng không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ: Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khác với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó, di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu (Nguyễn Văn Mỹ - quan đại thần triều Nguyễn).

Di tích Rạch Núi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Quyết định số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/06/1999.

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

CHÙA PHƯỚC LÂM

(Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước)

Chùa Phước Lâm – xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An - được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu "bánh ít", có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc hoàng, Thị giả, Thập điện, Thiện ác, Hộ pháp, Kim cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía Đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật.

Chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001.

NHÀ TRĂM CỘT

(Ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước)

Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, tại ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Nhà có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: phần phía trước được bày trí theo kiểu ngoại khách - nội tự (ngoài tiếp khách, trong thờ tự), phần phía sau dùng để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa của vùng đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/09/1997.

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

(Ấp 1, xã Long Hòa, huyện Cần Đước)

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 13 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 3 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm, Thuận Thành và Phước Hậu.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía Nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy (1966-1967).

Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460 QĐ/VH ngày 28/06/1996.

HUYỆN CHÂU THÀNH

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

(Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành)

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, 3 gian, 2 chái. Nhà có dạng hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân "thiên tỉnh" (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 03/08/2007.

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

(Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành)

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông sinh ngày 28/5 năm Đinh Hợi tức ngày 21/07/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/08/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông - nhà trí thức yêu nước,  người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

Khu lưu niệm Nguyễn Thông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 04/2001-QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001.

DI TÍCH ĐÌNH TÂN XUÂN

(Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành)

Đình Tân Xuân là di tích lịch sử văn hóa, một trong những ngôi đình cổ trên đất Long An. Đây là nơi ghi dấu tín ngưỡng thờ thần trong quá trình di dân lập ấp, đồng thời gắn liền sự kiện lịch sử, sự hy sinh oanh liệt của nhà yêu nước Đỗ Tường Tự, người thủ lĩnh cuối cùng của phong trào nông dân khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tân An.

Hàng năm, vào ngày 15-16/1 âm lịch tại đình diễn ra Lễ hội làm chay rất đặc sắc, quy tụ hàng ngàn người dân tham dự. Lễ hội làm chay có đặc trưng độc đáo là liên kết, tổng hòa nhiều thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng dân gian trên địa bàn như: đình Dương Xuân Hội, chùa Ông (Linh Võ tự), Âm Nhơn miếu (miễu cô hồn), Linh Phước tự, thánh thất Phương Quế Ngọc Đài. Lễ hội quy tụ hầu hết nhân dân các giới và các tôn giáo tham gia hành lễ. Về phần lễ, có những nghi thức cổ truyền đã có từ hơn một thế kỷ qua như: Thỉnh Tiêu Diện đại sĩ từ Linh Phước tự về chùa Ông; thỉnh Phật, thỉnh thầy từ Linh Phước tự về Đình Dương Xuân; cúng tế, đề phan liệt sĩ; cúng cô hồn ở Miếu Âm Nhơn; lễ chiêu u (rước cô hồn ) từ các nơi trong huyện về giàn ông Tiêu; nghi lễ đánh động, thỉnh thầy, thỉnh kinh; nghi lễ phóng đăng, phóng sinh; nghi lễ đốt nến, thả bèo, nghi lễ Chạy kim đàn và xô giàn, tiễn khách. Về phần hội, có những trò chơi dân gian cho nhân dân vui chơi như: Bịt mắt đập nồi, nhảy bao bố, kéo co, thả-bắt vịt…

Di tích đình Tân Xuân được xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 4109/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Lễ hội làm chay cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4205/QĐ-BVHTT ngày 19/12/2014.

HUYỆN THỦ THỪA

ĐÌNH VĨNH PHONG

(Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa)

Đình Vĩnh Phong tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

Đình Vĩnh Phong được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1811/1998/QĐ-BVHTT  ngày 31/08/1998.

HUYỆN BẾN LỨC

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

(Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức)

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn, bởi vì đây là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm: Ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông. Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn tọa lạc tại ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930-1945). Đồng thời đây là nơi ghi dấu một số hoạt động của các nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

HUYỆN TÂN TRỤ

VÀM NHỰT TẢO

(Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ)

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L'Espérance của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: "Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang". Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: "Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, UBND tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28/6/1996.

HUYỆN ĐỨC HUỆ

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

(Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ)

Các địa điểm thuộc căn cứ Bình Thành còn được gọi là di tích Bình Thành hay Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An, tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An.

Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói rằng, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

Di tích căn cứ Bình Thành đã được Bộ Văn hóa – Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BT ngày 04/12/1998.

HUYỆN ĐỨC HÒA

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

(Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa)

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5.000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/06/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng  7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 04/06/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn, thể hiện lòng tin của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

Ngã Tư Đức Hòa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH-QĐ, ngày 05/09/1989.

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN

 CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

(Ấp Giống Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa)

Nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ là nơi  đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật để thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn vào ngày 06/03/1930.

Chi bộ ra Nghị quyết: "Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy". Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng 3 tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

Khu nhà ông Bộ Thỏ tại ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL  ngày 31/10/2013.

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

(Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa)

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước hay còn gọi khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng Đông Bắc thành phố Tân An, cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách Tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía Đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn Đông Nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570-VH/QĐ  ngày 05/09/1989.

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

(Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa)

Di tích An Sơn  được hai nhà khảo cổ người Pháp là L. Malleret và P. Levy phát hiện từ năm 1838 và trải qua 3 lần khai quật lớn vào các năm 1978, 1997, 2004 do các nhà khảo cổ trong và ngoài nước thực hiện. Các cuộc khai quật này đã phát hiện nhiều di tích, di vật đa dạng, phong phú có thể tái hiện sinh động phương thức sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ nơi đây.

Đây là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hoá dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, là một đối tượng quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học ở Long An và Đông Nam Bộ.

Di tích An Sơn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 324/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011.

HUYỆN TÂN THẠNH

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ (1946 – 1949)

(Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh)

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

Di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ (1946-1949) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT ngày 03/08/2007.

HUYỆN VĨNH HƯNG

GÒ Ô CHÙA

(Ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng)

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc- 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3 m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến 2.000 năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1.000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

Gò Ô Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp dạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

                              Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền, PHÒNG NGHIỆP VỤ

                                         BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH LONG AN

01/07/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Lễ trao bằng cụm di tích lịch sử Chùa Ông - Đình thần Nhựt TảoLễ trao bằng cụm di tích lịch sử Chùa Ông - Đình thần Nhựt Tảo

Vừa qua, ngày 22.02.2013 (13.01 âm lịch năm Quý Tỵ), Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch phối hợp với UBND huyện Tân Trụ tổ chức lễ trao bằng cụm di tích lịch sử Chùa ông – Đình thần Nhựt Tảo tại di tích nhân dịp lễ Vía đức Quan thánh Đế quân. Đến tham dự buổi lễ có ông Phạm Kim Bửu – Phó giám đốc Sở VH,TT&DL, ông Trần Hồng Có – Phó bí thư huyện ủy, chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Tân Trụ, ông Võ Văn Huyện- Phó chủ tịch UBND huyện và đại diện Ban Quản lý di tích lịch sử, các cơ quan, đơn vị trực thuộc cùng đông đảo bà con nhân dân địa phương.

Cụm di tích lịch sử Chùa Ông – Đình thần Nhựt Tảo thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xếp hạng di tích lịch sử theo quyết định số 2681/QĐ-UBND ngày 23.8.2013. Chùa Ông, đình thần Nhựt Tảo là hai thiết chế văn hóa tín ngưỡng dân gian, được xây dựng song song với quá trình khai hoang, lập ấp của nhân dân Nhựt Tảo. Đây là nơi bảo lưu những truyền thống, tập tục, lễ hội cổ truyền, góp phần đáp ứng nhu cầu tâm linh, nâng cao đời sống tinh thần nhân dân và là nơi thờ tự những người đã có công đầu trong quá trình khẩn hoang, lập nên thôn Nhựt Tảo vào đầu thế kỷ XIX.

 Đặc biệt, cụm di tích còn gắn liền với chiến công đốt tàu L’Eperance của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực cùng với nghĩa quân và nhân dân làng Nhựt Tảo. Đây là địa điểm ghi dấu sự tham gia tích cực của nhân dân, hương chức làng Nhựt Tảo – đã phân tán lực lượng, vô hiệu hóa và tiêu diệt toán quân hỗ trợ tàu L,Esperance đang đóng trên bờ - góp phần làm nên chiến thắng vang dội này. Di tích là minh chứng hùng hồn cho sự đồng lòng, tình quân dân, tinh thần quyết tâm chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta, mở đầu cho những chiến công chói lọi của dân tộc trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.

Hoạt động trao bằng di tích có ý nghĩa tôn vinh những giá trị văn hóa, lịch sử đồng thời quảng bá hình ảnh di tích đến với mọi tầng lớp nhân dân. Trong tương lai, cụm di tích Chùa Ông - Đình thần Nhựt Tảo cùng với di tích Vàm Nhựt Tảo sẽ tạo thành một điểm tham quan, về nguồn ý nghĩa, hấp dẫn du khách gần xa.

 Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh chùa Ông - đình thần Nhựt Tảo

         

Đại biểu dự Lễ 

 

 Đông đảo nhân dân đến dự Lễ

 

 Ông Phạm Kim Bửu, PGĐ Sở VH, TT và DL trao bằng xếp hạng di tích cho BQT chùa Ông - đình thần Nhựt tảo

 

 Toàn cảnh cụm di tích

                                                                                            Hồ Phan Mộng Tuyền

29/05/2013 1:19 SAĐã ban hànhApproved
Khánh thành Di tích lịch sử Nhà Tổng ThậnKhánh thành Di tích lịch sử Nhà Tổng Thận

Vừa qua, ngày 22/02/2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An  tổ chức lễ khánh thành di tích lịch sử Nhà Tổng Thận tại số 19 đường Ngô Quyền, phường 1, thành phố Tân An. Đến dự buổi lễ có ông Mai Văn Chính - UVBCHTW Đảng, Bí thư tỉnh ủy, ông Đỗ Hữu Lâm - Chủ tịch UBND tỉnh cùng đại diện các ban, ngành, phòng văn hóa thông tin các huyện, thành phố cùng toàn thể cán bộ Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa.

Di tích lịch sử Nhà Tổng Thận được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ban hành quyết định số 3148/1998/QĐ.UB ngày 12/11/1998 xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Di tích Nhà Tổng Thận là nơi được Tỉnh ủy Tân An chọn làm trụ sở công khai đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám 1945. Nơi đây đã từng diễn ra nhiểu buổi họp của Tỉnh ủy để giải quyết nhiều vấn đề cấp bách, ra các quyết định quan trọng đối với một tỉnh vừa khởi nghĩa thành công. Đây cũng là công trình có giá trị về mặt văn hóa, thể hiện sự pha trộn, kết hợp hài hòa hai yếu tố kiến trúc Việt - Pháp.

Nhà Tổng Thận có tổng diện tích 2039m2, trong đó ngôi nhà có diện tích 138.24m2, được xây dựng từ đầu thế kỷ XX. Trải qua một thế kỷ nên di tích bị xuống cấp, vì vậy, năm 2009 di tích đã được đầu tư kinh phí để trùng tu tôn tạo, phục vụ công tác giáo dục truyền thống và tham quan. Hiện di tích Nhà Tổng Thận có các phòng trưng bày: Vài nét về Tân An xưa; nhà ở của gia đình thuộc tầng lớp trung lưu xưa; các hoạt động của Tỉnh ủy Tân An trong đó phục dựng cuộc họp lần thứ 3 của Tỉnh ủy vào cuối tháng 9.1945 chuẩn bị kháng chiến khi thực dân Pháp quay trở lại và dãy phòng giam phát xít Nhật để lại.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa quý báu, tọa lạc tại vị trí đẹp cặp bờ sông Bảo Định cùng sự chuyên nghiệp trong công tác trưng bày, giới thiệu, trong tương lai, di tích Nhà Tổng Thận sẽ trở thành điểm tham quan hấp dẫn, thú vị và bổ ích./.
Một số hình ảnh về lễ Khánh thành Nhà Tổng Thận

   

    

                                                                                        Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

                                                                                                Ảnh: Văn Ngọc Bích

 

29/05/2013 12:58 SAĐã ban hànhApproved
Dấu ấn lịch sử một bài ca dao được sưu tầm ở Thủ ThừaDấu ấn lịch sử một bài ca dao được sưu tầm ở Thủ Thừa

Thủ Thừa là vùng đất được khai phá từ lâu đời. Cuối thế kỷ XVIII,  ông Mai Tự Thừa đến đây khai cơ, mở đất, lập chợ, đào kinh, mở đầu cho sự thịnh vượng của vùng đất Thủ Thừa ngày nay. Ghi nhớ công ơn của ông, tên Thủ Thừa trở thành địa danh chỉ một quận của tỉnh Tân An từ năm 1922. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khu vực kinh Trà Cú Thượng, kinh Bo Bo là vùng căn cứ cách mạng quan trọng, là hành lang chiến lược nối liền phía bắc và phía nam lộ 4 (quốc lộ 1 ngày nay). Nhân dân Thủ Thừa tự hào vì đã đóng góp  nhiều công của, máu xương để góp phần tô điểm cho truyền thống “trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc” của đất và người Long An. Không những thế, Thủ Thừa còn là địa phương giàu truyền thống văn hóa. Câu chuyện tôi trình bày sau đây là một minh chứng cho bề dày về lịch sử và văn hóa của vùng đất Thủ Thừa.

Nhân một chuyến công tác ở Thủ Thừa, tôi được Lương y Lê Văn Chấn, nguyên giáo sư trường Trung học Thủ Thừa trước năm 1975, cung cấp một bài ca dao, nguyên văn như sau: 

“Cầu ông mưa thuận gió hòa,
Cho cây lúa trổ, cho cà đơm bông.
Cùng nhau xúm lại cúng ông,
Có trà, có bánh, có lồng đèn xanh.
Lòng người như bóng trăng thanh,
Vui tình đất nước, dân lành ấm no”. 

Chỉ có sáu câu lục bát, nhưng với lời lẽ trong sáng, giản dị, bài ca dao đã gây ấn tượng mạnh và khơi gợi nhu cầu tìm hiểu trong tôi. Qua chỉ dẫn của các bậc cao niên, tôi đến khảo sát, nghiên cứu tại đình Vĩnh Phong-một ngôi đình cổ, được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX tại thị trấn Thủ Thừa- và được biết thêm  một số vấn đề về lịch sử-văn hóa thú vị xung quanh bài ca dao. Đối tượng mà nhân dân thờ cúng và gọi bằng “Ông”, một cách tôn kính trong bài ca dao chính là tiền hiền Mai Tự Thừa, người có công lập nên chợ Thủ Thừa. Ôâng  quê ở làng Bình Cách, tổng Kiến Thạnh, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường. Khoảng đầu thế kỷ XIX, ông đến làng Bình Lương Tây, huyện Thuận An (nay thuộc Thị trấn Thủ Thừa) để khai khẩn đất đai. Đầu tiên, ông cất một căn nhà lá tại bờ nam kinh Trà Cú bên cạnh vàm Rạch Cây Gáo và khẩn hoang 4 mẫu đất dọc theo kinh Trà Cú- bắt đầu từ rạch Cây Gáo chạy dài về phía đông bắc (phần đất này hiện nay là nơi đóng trụ sở của Huyện ủy, UBND huyện Thủ Thừa). Ôâng còn vét ụ dưới kinh Trà Cú làm bến thuyền và đắp một con đường dọc theo rạch Cây Gáo để nhân dân thuận tiện đi lại. Sau đó, ông mở một ngôi quán nhỏ tại nhà để trao đổi, mua bán với thương thuyền dưới kinh Trà Cú và bà con trong vùng. Quán của ông lập ở bờ kinh, ngay vị trí giáp nước nên ghe thuyền neo đậu rất đông. Vì thế, việc mua bán của ông phát triển rất nhanh, dần dần thu hút nhiều người  đến hai bờ kinh Trà Cú cất nhà sinh sống. Từ đó, đoạn Kinh Trà Cú gần nhà ông còn được gọi là rạch Giang Cư.

Để đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua bán ngày càng cao của nhân dân, ông bèn xin làng Bình Lương Tây cho phép lập một ngôi chợ bằng lá trên phần đất của mình. Đây chính là tiền thân của chợ Thủ Thừa ngày nay. Đầu thế kỷ XIX, kinh Trà Cú là con đường quan trọng để lưu thông từ Sài Gòn xuống miền Tây. Ghe thuyền xuôi ngược trên kinh này khi đến giáp nước gần chợ Thủ Thừa đều phải neo đậu chờ con nước, vì thế ngôi chợ của ông Mai Tự Thừa trở thành một chốn mua bán rất sầm uất, dân cư đông đúc. Thấy vậy, ông Mai Tự Thừa làm đơn xin với quan trên tách khỏi làng Bình Lương Tây, lập một làng mới lấy tên là Bình Thạnh. Ông còn hiến phần đất cất quán của mình trước đây ở sát bờ rạch Cây Gáo để cất một ngôi đình thần bằng lá. Đó chính là tiền thân của đình Vĩnh Phong hiện tại.
Năm Minh Mạng thứ 10 (1829) Vua Thánh tổ Nhân hoàng đế nhà Nguyễn (vua Minh Mạng) ra lệnh cho Tổng trấn Gia Định thành là Lê Văn Duyệt huy động 16.000 nhân công nạo vét kinh Trà Cú từ vàm Thủ Đoàn đến thôn Bình Ảnh dài 1.220 trượng, rộng 9 trượng, sâu 1 trượng. Nhờ thế, ghe thuyền đi lại rất thuận tiện. Vua Minh Mạng liền cho đổi tên kinh Trà Cú thành sông Lợi Tế. Tương truyền, trong công cuộc nạo vét kinh Trà Cú, ông Mai Tự Thừa đã đóng góp nhiều tiền của và đứng ra chiêu mộ nhân công. Năm 1832, ông Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất. Vua Minh Mạng nhân đó bãi bỏ chức Tổng rrấn Gia Định thành, chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh, đặt chức Tổng đốc, Bố chính, Aùn sát, Lãnh binh ở mỗi tỉnh để cai trị. Tả quân Lê Văn Duyệt tuy đã mất cũng bị triều đình luận tội và cho san bằng mồ mã. Lê Văn Khôi là con nuôi của ông Lê Văn Duyệt vì uất ức đã khởi binh chiếm tỉnh thành Phiên An và lấy luôn 6 tỉnh Nam Kỳ trong năm 1833. Lúc bấy giờ, ông Mai Tự Thừa  bỏ nhà ra đi vào ngày mồng 10 tháng 10 và không trở về nữa. Ông đi đâu và mất tích trong trường hợp nào không ai biết được rõ ràng. Mãi đến năm 1990, nhân có một phái đoàn của Bộ Văn Hóa Thông Tin đến thăm, Ban Hội Hương của Đình Vĩnh Phong mở hộp sắc thần, phát hiện dưới đáy hộp một tờ phúc bẩm của Hương chức làng Vĩnh Phong trả lời nguồn gốc công thổ chợ Thủ Thừa. Tờ phúc bẩm này cho biết ông Mai Tự Thừa đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi và chết mất xác trong thành Gia Định trong khoảng thời gian 1833-1835. Nhờ thế, những giả thuyết mơ hồ về sự mất tích của ông từ trước đến giờ đã bị xóa bỏ, hậu thế cũng biết được một cách khái lược hành trạng của ông lúc cuối đời.
Sau khi khép tội “tùng nghịch” cho Mai Tự Thừa, Triều Nguyễn đã xóa sạch mọi công lao của ông trên mảnh đất Thủ Thừa. Làng Bình Thạnh do ông lập ra bị đổi tên thành làng Vĩnh Phong. Ngôi đình do ông dựng nên cũng bị dời đi nơi khác. Cái chợ cùng điền sản của ông bị phát mãi và phân tán vào các làng. Vợ con của ông bị lưu đày khổ sai, sau được ân xá nhưng phải đi biệt xứ. Tuy nhiên, những hành động nói trên không thể xóa mờ công đức của ông Mai Tự Thừa với nhân dân Thủ Thừa. Tưởng nhớ công lao khai hoang mở đất của ông, mọi người đã tôn ông làm Tiền Hiền và đưa vào thờ ở gian bên phải chánh điện Đình Vĩnh Phong với bài vị:” Tiền Hiền Mai Tự Thừa- Chủ thị”. Hàng năm, vào ngày 10 tháng 10 âm lịch- ngày mà ông Mai Tự Thừa lên Thành Gia Định tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi- đồng bào Thủ Thừa tề tựu tại Đình Vĩnh Phong làm lễ giỗ ông.
Trở lại với bài  ca dao nói trên, chúng ta thấy rằng tục lệ giỗ ông  Chủ chợ đã có từ hơn 1 thế kỷ qua của nhân dân Thủ Thừa đã được phản ánh một cách sinh động. Bằng thể thơ lục bát êm đềm, bài ca dao thể hiện ước vọng bình dị, chơn chất của người nông dân Thủ Thừa là mong sao cho phong điều vũ thuận, quốc thới dân an, mùa màng tươi tốt. Vị linh thần phù trợ cho ước vọng của mọi người không ai khác chính là người đã có công khai hoang, bồi lộ, lập chợ, xây đình ở vùng đất này từ hàng trăm năm trước.Vì thế, trong tâm thức của nhân dân, ông Mai Tự Thừa vừa thiêng liêng vừa gần gũi biết bao. Ngày ông rời mảnh đất mà ông cùng bao người đã đổ mồ hôi khai phá (mồng 10 tháng 10 AL), trăng đã gần tròn, lúa mùa sắp sửa đơm bông, hoa cà đã e ấp khoe màu tim tím. Đó chính là tín hiệu tốt lành cho một năm yên lành, thịnh vượng, bội thu. Trong bài ca dao, nhân dân cầu ông phù trợ “ cho cây lúa trổ, cho cà đơm bông” phải chăng muốn ghi lại dấu ấn thời gian gắn liền với bậc tiền hiền khai khẩn đã một đi không trở lại. Chi tiết “cùng nhau xúm lại cúng ông” trong bài ca dao thể hiện rõ lòng kính ngưỡng, sự tự nguyện và tình cảm chân thành, gắn bó của nhân dân với ông Mai Tự Thừa. Lễ vật cúng ông cũng hết sức đơn sơ nhưng giàu ý nghĩa bởi đó chính là sản vật được làm từ hạt lúa, củ khoai, từ công sức lao động của người nông dân chân lấm tay bùn: trà, bánh, lồng đèn xanh. Trong đó, lồng đèn xanh chính là biểu tượng cho sức sống bền bĩ của dân tộc, của ngọn lửa thiêng được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, thể hiện ước mơ có được cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc từ bao đời của nhân dân. Hai câu kết của bài ca dao :” Lòng người như ánh trăng thanh.Vui tình đất nước, dân lành ấm no” mới tuyệt diệu làm sao. Thật vậy, ánh trăng thanh của vầng trăng rằm thượng ngươn là hình tượng tuyệt vời để nói lên tấm lòng của người dân Thủ Thừa. Tất cả đều trong sáng, giản dị nhưng cũng hết sức cao đẹp, bởi nó xuất phát từ ước mong được vui sống thanh bình- nguyện vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
Càng nghiền ngẫm bài ca dao, tôi như được trở về với cội nguồn dân tộc. Bài ca dao là hơi thở của ruộng đồng thắm đẫm tình quê. Nó phản ánh đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đầy tính nhân văn của người Việt Nam. Qua bài ca dao, lịch sử khai phá vùng đất và văn hóa ứng xử của người Thủ Thừa nói riêng và nhân dân ta nói chung như được hòa quyện làm một. Đó chính là một trong những nét đặc trưng thể hiện chiều sâu tâm hồn và văn hóa Việt Nam. Với ý nghĩa ấy, bài ca dao này xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng di sản văn hóa dân gian mà cha ông đã để lại cho chúng ta.

                                                                                             NGUYỄN VĂN THIỆN

28/05/2013 8:14 SAĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử khu vực Gò Bắc ChiêngDi tích lịch sử khu vực Gò Bắc Chiêng

Gò Bắc Chiêng nằm ở tả ngạn sông Vàm Cỏ Tây, thuộc thị trấn Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, là một trung tâm kinh tế - chính trị-quân sự  rất quan trọng của khu vực Đồng Tháp Mười.
Từ thời Nguyễn, triều đình đã cho đặt nơi đây một đồn lũy để trấn giữ biên giới, được gọi là thủ sở Tuyên Oai. Khoảng năm 1864-1866, đồn Tuyên Oai là một trong những chiến lũy quan trọng của căn cứ Đồng Tháp Mười trong phong trào kháng Pháp của Thiên hộ Dương -Đốc binh Kiều. Cuối năm 1945, khi tái chiếm Mộc Hóa, giặc Pháp đã cho lập đồn Mộc Hóa tại đỉnh Gò Bắc Chiêng có cấu trúc theo hình chữ nhật được bao bọc bằng tường đất dày, cao 2m, có lổ châu mai với 3 lớp hàng rào kẽm gai, 4 góc có 4 lô cốt, giữa đồn có  trung tâm đề kháng, bên trên có chòi canh  cao 6m. Lực lượng địch đồn trú tại đây lúc nào cũng có khoảng từ 60-70 tên, đa số là lính Partisans. Vũ khí của chúng khá hiện đại, gồm một cối 81, hai cối 60, hai đại liên, bốn trung liên, còn lại là tiểu liên, súng trường. Khi bị tấn công, đồn Mộc Hóa có thể được pháo binh và bộ binh từ phía Cam-pu-chia nhanh chóng tiếp viện. Hoạt động của địch chủ yếu là tổ chức mạng lưới gián điệp, tuần tra xung quanh đồn để bảo đảm cho việc trú quân của chúng và kiểm soát sự đi lại của nhân dân trên sông Vàm Cỏ Tây.
Vào mùa thu năm 1948, căn cứ yêu cầu của chiến trường, qua điều nghiên địa hình và so sánh thực lực hai bên giữa ta và địch, Bộ Tư lệnh Khu 8 chấp thuận cho Ban chỉ huy Trung đoàn 120 phối hợp Tiểu đoàn chủ lực 307 đánh đồn Mộc Hóa, theo chiến thuật Công đồn – đả viện.
Ban chỉ huy trận đánh được thành lập gồm các đồng chí: Nguyễn Chánh – Tham mưu trưởng Khu 8, chỉ huy trưởng; Lê Quốc Sản – Trung đoàn trưởng trung đoàn 120; Đỗ Huy Rừa – Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 307, đã thống nhất đề ra phương án tác chiến như sau:

-Trung đoàn 120 (gồm 2 đại đội: 1075 và 1080) chịu trách nhiệm tấn công đồn Mộc Hóa.

-Tiểu đoàn 307 kết hợp lực lượng bộ đội và du kích địa phương (khoảng 1 trung đội), cùng 1 trung đội công binh của Khu 8 và hơn 500 dân công tham gia chặn đánh quân tiếp viện của địch từ lộ Rồ (Campuchia) đi xuống và chặn đánh tàu địch từ Tân An theo sông Vàm Cỏ Tây đi lên.

-Đội hậu cần do lực lượng dân quân và du kích địa phương đảm trách việc vận chuyển lương thực và nước uống từ vàm Cá Đôi (Tuyên Thạnh) ra trận địa tiếp tế cho các đơn vị chiến đấu.

Sau khi phương án tác chiến được Bộ Tư lệnh Khu 8 thông qua, lệnh chiến đấu được triển khai xuống từng đơn vị, từng chiến sĩ. Từ ngày 16-8 đến 18-8-1948, trận Mộc Hóa đã diễn ra như đúng dự kiến của ta.

*Tại mặt trận công đồn Mộc Hóa: mặc dù không triệt hạ được đồn, nhưng quân ta cũng tiêu diệt được 25 tên địch, làm bị thương 2 tên, bắt sống 6 tên – trong đó có đồn trưởng Louis Bertrand.

*Tại măt  trận đả viện: ta đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn  địch, thu hơn 100 súng các loại – trong đó có 3 cối 60 ly, một số đại liên, trung liên. Khu vực ấp Ông Tờn, mảnh đất giáp biên giới Việt Nam-Campuchia là mồ chôn hàng trăm xác thù.
Bằng chiến thuật Công đồn – đả viện, trận Mộc Hóa đã đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc ta trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làm nức lòng quân dân Khu 8, được cả nước ngợi khen cổ vũ. Đặc biệt, trong lúc quân dân ta đang chiến đấu tại Mộc Hóa, một tổ điện ảnh của Khu 8 đã theo sát các đơn vị quay được nhiều hình ảnh sinh động của trận đánh và dựng thành bộ phim tư liệu với tên gọi “Trận Mộc Hóa”. Đêm 24/12/1948, bộ phim được chiếu ra mắt khán giả tại Câu lạc bộ Quân nhân Khu 8 bên bờ kinh Dương Văn Dương để chào mừng cuộc hội nghị của Ủy ban Kháng chiến-Hành chánh Nam Bộ. Thành công của bộ phim lan đi nhanh chóng. Về sau, bộ phim này được chiếu phục vụ rộng rãi khắp nơi, đưa tên tuổi những nhà làm phim như  Khương Mễ, Mai Lộc, Vũ Sơn…nổi tiếng trong làng điện ảnh nước nhà. Hiện nay, chiếc máy quay bộ phim “Trận Mộc Hóa” được trưng bày tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tại Hà Nội, và Mộc Hóa được xem như là mảnh đất đã khai sinh nền điện ảnh cách mạng của cả nước. Thật may mắn cho lớp hậu sinh chúng ta được xem những hình ảnh chân thật về trận đánh hào hùng này qua những thước phim gốc còn được lưu giữ đến ngày nay.
Năm 1993, nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa đã xây dựng và khánh thành bia chiến thắng tại trung tâm thị trấn. Công trình văn hóa này ngoài tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước chống ngoại xâm cho thế hệ hôm nay và mai sau, còn là một địa điểm tôn tạo cho cảnh quan của trung tâm thị trấn Mộc Hóa. Khu vực Gò Bắc Chiêng- địa điểm diễn ra trận Mộc Hóa nổi tiếng năm 1948 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xếp hạng là di tích lịch sử  tại Quyết định số 1308/QĐ-UB, ngày 29-7-1994.

                                                                                              Nguyễn Văn Thiện

28/05/2013 8:06 SAĐã ban hànhApproved
Di tích Núi ĐấtDi tích Núi Đất

Tọa lạc tại thị trấn Mộc Hóa, cách biên giới Việt Nam-Cam-pu-chia 7km, cách thị xã Tân An  68km về phía tây bắc, di tích  Núi Đất  là khu cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp được tạo dựng nên bằng trí tuệ và bàn tay lao động của con người.
Núi Đất được chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng từ năm 1957 đến 1960, song song với công cuộc kiến tạo tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Tường (nay là thị trấn Mộc Hóa). Vào những năm 1956-1957, khi tỉnh Kiến Tường mới thành lập, Mộc Hóa chỉ là một ngôi chợ nhỏ ở đỉnh gò Bắc Chiêng, xung quanh còn rất hoang vu, cỏ hoang mọc khắp nơi che phủ cả lối đi. Khi tiến hành xây dựng tỉnh lỵ, chính quyền sở tại đã dùng xe ủi đất san lấp mặt bằng, đem đất nơi cao đắp vào những chỗ trũng. Tại khu Núi Đất ngày nay, do Ty Giao thông công chánh lúc ấy không quản lý kỹ việc lấy đất đắp nền xây chợ Kiến Tường nên nơi đây trở thành ao tù nước đọng, trông dơ bẩn và buồn tẻ. Vì thế, tỉnh trưởng Kiến Tường Đinh Văn Phát đã cho mời họa viên kiến trúc ở Sài Gòn về lập đề án thiết kế tôn tạo khu Núi Đất trở thành một nơi có phong cảnh đẹp của trung tâm tỉnh lỵ mới. Đề án thiết kế này được ngụy quyền Sài Gòn thông qua và bắt đầu cho thi công vào đầu năm 1957 với chu vi hơn 1 ha. Tỉnh trưởng Kiến Tường Đinh Văn Phát là người chỉ huy thực hiện công trình này. Ngoài bản tính tàn bạo, hung hăng trong việc lùng bắt những người kháng chiến cũ, Đinh Văn Phát còn là một quan tham có tiếng. Y đã sử dụng lực lượng tù chính trị đang bị biệt giam tại trại giam Kiến Tường ra lao động khổ sai tại đây để ém nhẹm gần trọn số tiền ngân sách quốc gia chi cho việc thuê mướn nhân công. Bình quân một ngày tại công trình có hơn 200 tù nhân, mỗi tù nhân phải đào đắp, khiêng vác 1m3 đất đá dưới sự giám sát của lực lượng bảo an Mộc Hóa. Nếu như trong ngày lao động mà không đảm trách nổi 1m3 đất đá, tù nhân sẽ bị bọn bảo an đánh đập rất dã man, đồng thời bị bắt nhốt vào trại biệt giam. Có nhiều đồng chí yếu sức do bệnh tật và bị hành hạ trong lao tù, không kham nổi chỉ tiêu địch đề ra, bị bọn chúng đánh đập rất tàn nhẫn. Ngoài việc cho đào đất dưới hồ chuyển lên đắp núi, ngụy quyền còn cho chở đá ong từ Núi Sam (Châu Đốc), từ Biên Hòa…về đắp xen lẫn với đất để trái núi dính chắc vào nhau. Công trình được làm rất khẩn trương giữa cái nắng gắt và gió khô hanh của Đồng Tháp Mưới. Lao động cực nhọc, muỗi mòng bu đốt, lại bị đánh đập dã man nên nhiều tù nhân ngã bệnh nặng. Có thể nói rằng, công trình Núi Đất đã thấm mồ hôi, máu và nước mắt của bao anh em tù chính trị lúc đó. Trãi qua gần 3 năm ròng rã, đến giữa năm 1960, Núi Đất cơ bản hoàn thành, cũng là lúc Đinh Văn Phát bị thuyên chuyển đi nơi khác do nhân dân nơi đây phản đối chế độ cai trị hà khắc và thói tham nhũng của y.
Ngày 14-9-1960, tân tỉnh trưởng Kiến Tường là Lê Thành Nhựt đến nhậm chức và tiếp tục công trình xây dựng Núi Đất. Là người theo Công giáo, nên ngoài những công trình có từ thời trước, tỉnh trưởng Lê Thành Nhựt đã cho đúc tượng Đức Mẹ cao hơn 2 m đặt giữa đỉnh núi lớn, 2 tượng thánh Phê-rô và chúa Giê-su đặt hai bên trái núi nhỏ. Do vậy, khu Núi Đất còn được gọi là Núi Đức Mẹ. Giữa hồ sen, người ta cho xây dựng một ngôi nhà thủy tạ cao 2 tầng bằng gỗ rất đẹp, chạm trổ lộng lẫy kiểu kiến trúc cung đình Huế: mái cong, 4 góc mái có chạm trổ hình rồng. Đỉnh nóc nhà thủy tạ được đặt một cây thánh giá, biểu tượng của đạo Thiên  Chúa. Nối liền bờ hồ với thủy tạ là một cây cầu gỗ uốn cong, sơn phết đẹp đẽ. Xung quanh Núi Đất được trồng nhiều loại cây, từ loại cổ thụ lấy bóng mát cho đến những loại hoa kiểng trang trí: bốn góc vườn có tre trúc đủ loại; trên đỉnh núi có keo, bồ đề, điệp vàng, sanh, sồi, gáo vàng…; dọc bờ hồ là những dãy dương liễu được cắt tỉa công phu, tỉ miõ; từ cổng vào là vô số  chậu hoa kiểng to, nhỏ, trổ hoa đủ màu sắc suốt 4 mùa- có cả hoa hồng vàng, hoa lay-ơn đỏ từ Đà Lạt mang về. Buổi trưa, gió từ đồng xa thổi tới, sóng nước gợn lăn tăn, cây lá xào xạc, rì rào …Giữa cái nắng gió oi bức của Đồng Tháp Mười, thiên nhiên tươi đẹp, mát mẻ nơi đây giúp tâm hồn con người lắng dịu và thanh thản hơn. Núi Đất lúc bấy giờ được xem là một địa điểm nghỉ mát hấp dẫn của các quan chức Sài Gòn-kể cả Ngô Đình Diệm mỗi khi về kinh lý Kiến Tường.
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Núi Đất vẫn còn đó, mỗi ngày được bàn tay lao động của con người tạo dựng, bồi đắp. Qua từng ngày, từng tháng, từng năm….cây xanh đâm chồi nẩy lộc. Nhiều cây con ngày nào bây giờ đã lớn, tỏa bóng mát khắp xung quanh. Sau ngày 30-4-1975,  ngụy quyền Sài Gòn sụp đổ, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Mộc Hóa trở thành một huyện thuộc tỉnh Long An. Khu thắng cảnh Núi Đất được chính quyền và nhân dân nơi đây quan tâm gìn giữ, bảo vệ và tu bổ nên ngày một tươi đẹp thêm ra. Những hòn núi lớn, núi nhỏ, hồ sen, nhà thủy tạ, rừng cây… hợp thành một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng ở vùng Đồng Tháp Mười đồng khô, cỏ cháy. Với giá trị về khoa học, nghệ thuật và lịch sử, Núi Đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An  xếp hạng di tích tại Quyết định số 1308/QĐ-UB, ngày 29-7-1994.

                                                                                               Nguyễn Văn Thiện

28/05/2013 7:54 SAĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Vàm Rạch GốcDi tích lịch sử Vàm Rạch Gốc

Trong suốt 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mảnh đất Đức Huệ anh hùng luôn được chọn là căn cứ địa cách mạng cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Vì thế, nơi đây là địa bàn địch tập trung đánh phá ác liệt nhất. Nhân dân nơi đây đã trải qua nhiều gian lao, vất vả, gánh chịu nhiều tổn thất, hy sinh mà cuộc thảm sát ngày 27 tháng 11 năm Mậu thân (15-1-1969) tại Vàm Rạch Gốc, xã Mỹ Thạnh Đông là một trong những điển hình.

Từ sau cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa xuân Mậu thân (1968), trong khi ta chủ trương bám trụ vùng ven để chờ thời cơ tiếp tục tấn công vào Sài Gòn thì địch đã nhanh chóng triển khai kế hoạch Bình định cấp tốc để phản công. Thủ đoạn cơ bản của chúng là lợi dụng sơ hở của ta, đưa lực lượng lớn luồn ra phía sau chiếm lại vùng nông thôn mà cách mạng đã giải phóng từ trước. Đối với nhân dân, địch đã dùng những thủ đoạn thâm độc về kinh tế, văn hóa, chính trị, tâm lý chiến để dụ dỗ, mua chuộc, đồng thời tăng cường hành động quân sự, càn quét, ném bom, rải chất độc hóa học, dồn dân, bắn giết, ám sát bừa bãi để khuất phục nhân dân, tiêu diệt cơ sở của cách mạng. Bằng thủ đoạn này, chúng đã bắt hầu hết nhân dân Mỹ Thạnh Đông phải dồn vào các khu tập trung ở Hiệp Hòa. Vì thế,  cán bộ, đảng viên, du kích xã tạm thời bị tách rời khỏi dân, không được sự chở che, đùm bọc và tiếp tế của dân trong quá trình bám trụ hoạt động. Trước tình hình trên, chi bộ xã Mỹ Thạnh Đông chủ trương vận động quần chúng nhân dân đấu tranh với địch để trở về nhà cũ, ủng hộ cách mạng. Những đảng viên, du kích bí mật đã tận dụng thế hợp pháp của mình để về xã, lấy cớ thăm nhà cũ và lao động sản xuất để tiếp tế lương thực, thuốc men cho cách mạng. Nhờ đó mà trong khó khăn, lực lượng cách mạng Mỹ Thạnh Đông vẫn đứng vững và duy trì hoạt động. Về phía địch, để thực hiện cho bằng được chương trình Bình định cấp tốc, giặc Mỹ và tay sai đã dùng thủ đoạn thâm độc, thực hiện cuộc thảm sát dã man đồng bào Rạch Gốc- xã Mỹ Thạnh Đông, nhằm khủng bố tinh thần, ngăn chặn cuộc đấu tranh đòi trở về nhà cũ của nhân dân.

Vào lúc 15 giờ ngày 15-1-1969 (27 tháng 11 năm Mậu thân), bằng những thủ đoạn cực kỳ dã man, 1 toán lính Mỹ gồm 7 tên đã thảm sát 15 người dân vô tội, chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em, trong đó có 3 thai phụ gần đến ngày sinh. Ngay sau khi thực hiện hành động dã man đó, chúng đã ném bộc phá thiêu đốt thi hài của đồng bào ta, hòng phi tang bằng chứng.

Cùng với các cuộc thảm sát Quéo Ba (Mỹ Quý Tây-Đức Huệ) ngày 1-5-1948, Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) ngày 16-5-1967, Đồng 41 (Tân Thạnh-Long An) ngày 17-6-1967...  cuộc thảm sát Vàm Rạch Gốc đã được lịch sử ghi nhận như là một trong những cuộc thảm sát dã man, tàn độc nhất mà bọn xâm lược đã thực hiện trên đất nước ta. Cái chết đau thương của 16 đồng bào Vàm Rạch Gốc là bằng chứng về tội ác trời không dung, đất không tha mà giặc Mỹ và tay sai đã gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước hôm nay, cuộc thảm sát Rạch Gốc sẽ nhắc nhở cho thế hệ trẻ đừng quên về một quá khứ đau thương, từ đó càng phải quyết tâm lao động, sáng tạo để xây dựng nên một đất nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh, tiến bộ. Mặt khác, đây còn còn là bằng chứng cho tinh thần quật khởi, lòng yêu nước, quyết tâm sắt đá bám đất, giữ làng, ủng hộ sự nghiệp cách mạng cao cả của người dân Rạch Gốc nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung, cho dù họ phải trãi qua những đau thương, mất mát không thể nào bù đắp được.

Năm 2007, Ủy ban nhân dân huyện Đức Huệ đã đầu tư kinh phí xây dựng bia tưởng niệm những đồng bào đã hy sinh trong cuộc thảm sát năm xưa tại ấp 2, xã Mỹ Thạnh Đông. Du khách từ thị trấn Đông Thành theo tỉnh lộ 838 qua cầu Rạch Gốc, rẽ trái theo con đường đất đỏ khoảng 2km là đến bia. Trong tương lai, các công trình phục hồi, tôn tạo di tích sẽ từng bước được xây dựng để đáp ứng nhu cầu về tâm linh của nhân dân và phục vụ công tác giáo dục truyền thống ở địa phương. Địa điểm ghi dấu cuộc thảm sát Vàm Rạch Gốc đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử tại Quyết định số 2291/QĐ-UBND, ngày 22-9-2006.

      Nguyễn Văn Thiện 

28/05/2013 7:50 SAĐã ban hànhApproved
Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của ông Đỗ Tường Phong và ông Đỗ Tường Tự ở Châu ThànhTruyền thuyết về cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của ông Đỗ Tường Phong và ông Đỗ Tường Tự ở Châu Thành

Ông Đỗ Tường Kiên và ngôi nhà 36 cửa – Trung tâm liên lạc của nghĩa quân trong phong trào vũ trang kháng Pháp của Thủ Khoa Huân
 

    Đầu thế kỷ XIX, theo dòng lưu dân Nam tiến có 3 anh em họ Đỗ quê ở Quảng Trị theo đường biển vào Nam khai phá khu vực hạ lưu sông Vàm Cỏ. Người anh cả dừng chân ở Nhựt Ninh khai phá đất đai xung quanh khu vực miểu Ông Bần Quỳ. Hai người em tiếp tục theo dòng Vàm Cỏ Tây ghé vào Tầm Vu và định cư tại đó. Thưở ấy đất đai còn hoang vu, rậm rạp đầy thú dữ và rắn độc. Hai anh em họ Đỗ ra sức chặt cây, phát cỏ, quyết tâm biến mảnh đất hoang vu thành ruộng vườn.Người anh là Đỗ Tường Kiên khẩn đất từ Bàu Chà, Ao Vang (ranh giới giữa xã Dương Xuân Hội và Long Trì ngày nay) đến Bàu Đôi, Bàu Lẻ, Cây Keo (giáp ranh xã Bình Cách – Tiền Giang ngày nay). Ông Đỗ Tường Kiên còn khẩn thêm một dây đất ở thôn Bình Trị (nay thuộc xã Phú Ngãi Trị), còn người em là Đỗ Tường Ngọc khai khẩn vùng đất từ Ao Vang đến xã Long Trì. Với bản tính siêng năng tháo vát, chẳng bao lâu anh em họ Đỗ đã làm chủ một số đất đai lớn. Ông Đỗ Tường Kiên khẩn được 51 mẩu đất và trở nên khá giả. Ông kết hôn  với bà Huỳnh Thị Đức – người thôn Bình Trị – và sinh được 4 con trai là Đỗ Tường Phong, Đỗ Tường Tự, Đỗ Tường Thoại và Đỗ Tường Soạn. Bà Huỳnh Thị Đức nổi tiếng là người nhân hậu, chính bà đã từng giúp đỡ việc việc đèn sách cho Nguyễn Thông – một trí thức yêu nước lớn của Việt Nam.Sẳn tiền của, ông Đỗ Tường Kiên đã cho xây dựng tại làng Dương Xuân (nay thuộc xã Dương Xuân Hội) một ngôi nhà lớn nhất vùng với 36 cửa, xung quanh được bao bọc bởi 6 lớp rào tre.
 

Năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định, và đánh chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ năm 1861. Lúc bấy giờ ở vùng Long Trì, Bình Cách, Tầm Vu, Dương Xuân Hội, Hiệp Thạnh, Vĩnh Công…phong trào vũ trang chống Pháp dấy lên rất mạnh với các thủ lĩnh nghĩa quân như Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị, Trần Văn Trà, Nguyễn Hữu Huân. Với khả năng tài chính của mình, ông bà Đỗ Tường Kiên – Huỳnh Thị Đức đã hết lòng giúp đỡ quân kháng chiến về tiền bạc, lương thực. Ngôi nhà 36 cửa của họ Đỗ cũng trở thành trung tâm liên lạc của các thủ lĩnh nghĩa quân kháng chiến.

Trước ưu thế quân sự của thực dân Pháp và thái độ chủ hòa của Triều đình Huế, các phong trào kháng chiến ở Nam Bộ nói chung và huyện Tân Thạnh (Châu Thành ngày nay) nói riêng dần dần thất bại. Ông Phan Văn Đạt bị Pháp giết, Thủ Khoa Huân bị bắt đày sang Nam Mỹ. Năm 1869, Pháp đưa Thủ Khoa Huân về Sài Gòn và giam lỏng tại nhà việt gian Đỗ Hữu Phương. Đến năm 1872, Thủ Khoa Huân bí mật trở về Bình Cách và tổ chức một phong trào kháng Pháp mới. Hai người con trai của ông Đỗ Tường Kiên là Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân. Nhà 36 cửa lúc này lại là một trung tâm liên lạc lớn của nghĩa quân. Nhưng cuộc khởi ngĩa lần 2 của Thủ Khoa Huân cũng bị thất bại. Ông bị Pháp bắt vào tháng 4/1875 và bị chém tại Mỹ Tịnh An. Thực dân Pháp biết họ Đỗ đã từ lâu ngấm ngầm ủng hộ quân khởi nghĩa, nên đã bắt giam  ông Đỗ Tường Kiên, dọa nạt, tra tấn, buộc ông phải gọi 2 người con ra đầu thú. Ông kiên quyết chối từ nên bị Thực dân Pháp đã đánh đập dã man, đến khi thấy sức khỏe của ông quá yếu chúng phải cho bà Huỳnh Thị Đức lãnh ông về nhà. Chẳng bao lâu ông Đỗ Tường Kiên mất vào ngày 20-10 âm lịch năm Đinh Sửu (1877), mộ chôn gần nhà 36 cửa. Giặc Pháp tiếp tục mua chuộc, ép buộc bà Huỳnh Thị Đức gọi 2 con ra hàng nhưng bà vẫn không khuất phục. Cuối cùng Thực dân Pháp quyết định cho đốt ngôi nhà 36 cửa. Khi ngôi nhà này bị đốt, thóc lúa trong nhà cháy đến một tháng sau vẩn còn khói. Pháp còn đem người con út của họ Đỗ là Đỗ Tường Soạn cắt gân, khắc nhượng cho tàn phế vì cho rằng ông có dính líu đến nghĩa quân. Về phần bà Huỳnh Thị Đức, sau khi ngôi nhà bị cháy bà  phải về nương náu ở Bình Trị và qua đời tại đây.

 

Nhà 36 cửa hiện chỉ còn một ngôi vườn rộng khoảng 5000m2 giữa đồng trống thuộc xã Dương Xuân Hội. Tuy đã bị đốt cháy từ lâu, nhưng tại đây vẩn còn  phế tích là những đống gạch ngói đổ nát rất lớn đủ để chứng minh quy mô xưa kia của ngôi nhà như thế nào.

 

Anh em Đỗ Tường Phong – Đỗ Tường Tự và cuộc khởi nghĩa năm 1878  ở Tầm Vu – Bình Cách:

 

Ông Đỗ Tường Phong là con cả và ông Đỗ Tường Tự là người con thứ ba trong một gia đình giàu có ở làng Dương Xuân (nay thuộc xã Dương Xuân Hội – huyện Châu Thành). Song thân của hai ông là ông bà Đỗ Tường Kiên-Huỳnh Thị Đức, một trong những người đầu tiên có công khai phá vùng đất Tầm Vu, Dương Xuân Hội thuộc huyện Châu Thành ngày nay.Thưở nhỏ, hai ông được cha mẹ cho học chữ Hán. Khi hai ông trưởng thành, thì Thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Trước cảnh nước mất nhà tan, ông Đỗ Tường Phong đã tòng quân theo Trương Định lập căn cứ kháng Pháp ở Tân Hòa (Gò Công). Năm 1864 căn cứ Tân Hòa thất thủ, Trương Định tự sát, ông Đỗ Tường Phong phải ra Huế nhận một chức quan để đợi thời cơ về Nam đánh Pháp.

Ở vùng Tân Thạnh – Kiến An [Châu Thành (Long An) và Chợ Gạo (Tiền Giang)] từ 1872 đã nổ ra cuộc khởi nghĩa lần 2 do Thủ Khoa Huân lãnh đạo. Lúc bấy giờ, ông Đỗ Tường Phong đã bí mật từ  Huế trở về tham gia cuộc khởi nghĩa này. Ông Đỗ Tường Tự năm 1874 đang làm Hương Thân làng Dương Xuân cũng đã gia nhập vào hàng ngũ kháng chiến. Ông đã bán 3 mẫu đất được gia đình chia cho ở Vĩnh Xuân (nay thuộc xã Dương Xuân Hội) để lấy tiền nuôi nghĩa quân. Tháng 9/1874, Pháp huy động lực lượng mạnh do Trần Bá Lộc chỉ huy tấn công vào căn cứ Bình Cách. Đến tháng 4/1875, Pháp bắt được Thủ Khoa Huân và đem xử chém tại làng Tịnh Hà, Chợ Gạo. Trước tình thế ấy, hai ông Đỗ Tường Phong – Đỗ Tường Tự đã quyết tâm tiếp nối ngọn cờ khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân. Hai ông đã tập hợp những nghĩa quân đang phiêu tán trong vùng và chiêu mộ những người yêu nước khắp nơi tới ứng nghĩa. Ông Đỗ Tường Tự còn bán tiếp phần ruộng Cây Keo để làm quân phí và mua thuốc súng, vũ khí. Nghĩa quân tụ họp ngày càng đông, hai ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự quyết định chọn vùng Long Trì, Bình Cách làm căn cứ khởi nghĩa. Giặc Pháp biết việc này nên đã tra tấn ông Đỗ Tường Kiên đến nổi phải mang bệnh mà chết. Chúng còn cho đốt nhà 36 cửa, cắt gân ông Đỗ Tường Soạn để ép buộc hai ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự phải ra đầu thú. Nhưng cả gia đình họ Đỗ đã kiên quyết ủng hộ hai ông đứng lên khởi nghĩa. Sang năm Mậu Dần 1878, sau khi chuẩn bị mọi điều kiện về vũ khí, lương thực, đạn dược, hai ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự làm lễ xuất quân ở ruộng Cây Keo (nay thuộc ấp Vĩnh Xuân , xã Dương Xuân Hội) rồi tiến đánh đồn Bình Cách. Sau đó nghĩa quân về căn cứ Long Trì-Bình Cách và tập kích các đồn Pháp trong vùng. Giặc Pháp bèn đem lực lượng đến đàn áp nghĩa quân. Do lực lượng có hạn, chiến đấu đơn độc không có lực lượng tiếp ứng, lại bị bọn gian thương bán súng giả…nên nghĩa quân nhanh chóng thất bại. Nhiều nghĩa quân bị Pháp bắt, chém đầu chôn chung trên một gò đất ở Vĩnh Xuân mà hiện nay nhân dân vẫn gọi là Gò trăm đầu. Thất trận ông Đỗ Tường Tự lánh về Phú Hòa (nay là xã Trung Hòa – Tiền Giang), đến ngày 23/4 năm Mậu Dần (1878) ông bị Pháp bắt giải về làng Dương Xuân. Bọn giặc ra sức dụ hàng ông, chúng hứa sẽ cho ông lãnh chức Tổng trấn Tân An – Mỹ Tho nhưng ông đã khảng khái chối từ. Ba hôm sau, ngày 26/4, Pháp đem ông đến đình làng Dương Xuân xử tử. Hương chức và dân làng đều cảm phục Đỗ Tường Tự. Họ kéo nhau đến chợ Tầm Vu thật đông đảo để tiễn ông. Mẹ ông và vợ con ông đã bày sẳn một mâm cơm để tế sống ông. Bà Châu Thị Đạt - vợ ông Đỗ Tường Tự , người làng Thuận Lễ – dẫn 3 người con đến lạy ông mỗi người 4 lạy. Ông Đỗ Tường Tự đầu bịt khăn tang lạy mẹ mình là bà Huỳnh Thị Đức, rồi hướng về Thuận Lễ lạy mẹ vợ. Sau đó ông bồng 2 người con trai là Đỗ Tường Hiệu và Đỗ Tường Tị lên đùi và dặn rằng:“Ta còn sống thì đánh Pháp đến cùng, đến chết mới thôi. Ta cấm con cháu không đứa nào được ăn cơm của Tây. Phần ta thì chết đâu chôn đó, khỏi xây mồ mả gì cả”.

 

Sau cùng ông rót rượu cảm ơn bà con và Hương chức đã đến tiễn đưa, rồi ung dung để cho giặc đưa ra pháp  trường ở phía sau đình Dương Xuân. Khi bọn Pháp bịt mắt ông chuẩn bị bắn, ông nói:“Đừng bịt mắt, hãy để ta thấy súng Tây trước khi chết”.

 

Sau khi ông mất, bà con chợ Tầm Vu góp tiền tặng ông một cỗ quan tài tốt. Vợ ông mang đến một đôi chiếu Thuận Lễ để tẩn liệm cho ông. Theo di huấn, mọi người mai táng ông bên con đường mòn cạnh pháp trường phía sau đình  Dương Xuân. Người cận vệ của ông vốn là dân tộc thiểu số, mọi người thường gọi là ông mọi,  vì quá tiếc thương chủ tướng nên xin được chết theo cho trọn nghĩa. Giặc Pháp bèn bắn luôn người nghĩa sĩ vô danh này, và chôn bê cạnh mộ ông Đỗ Tường Tự.

 

Về phần ông Đỗ Tường Phong, sau khi thất trận ở Bình Cách - Long Trì, ông tạm lánh về Tân Hương – Mỹ Tho rồi bị Pháp bắt đem về Bình Lập (nay thuộc Thị xã Tân An). Ngày 29/4 năm Mậu Dần, Pháp xử chém ông tại nghĩa địa Tân An (nay thuộc ấp Bình Nam, Thị xã Tân An). Đao phủ là Đội Rựa – người Cần Thơ – thực hiện bản án. Tương truyền ông Đỗ Tường Phong trước lúc mất có cầm cây quạt ngà đưa cho Đội Rựa và nói rằng:“Đội Rựa đưa ta một đao cho tốt, ta tặng mi cây quạt ngà”.

Đội Rựa lạy ông 3 lạy rồi nói: “Quan lớn vươn cổ cho ngay để tôi khai đao cho ngọt”.

 

Nói xong, Đội Rựa mới vung đao tiễn ông về chín suối. Gia đình họ Đỗ đem ông về an táng ở thôn Bình Trị (nay thuộc xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành).

 

*Vài dấu tích còn lại:

Cuộc khởi nghĩa chống Pháp của 2 anh em Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự đã diễn ra cách nay hơn một thế kỷ, nhưng dư âm của nó còn tồn tại qua ký ức của nhân dân và những di tích – địa danh trên đất Châu thành.

 

-Mộ ông Đỗ Tường Tự và ngôi miếu thờ:

Tương truyền, sau khi qua đời, Đỗ Tường Tự vẫn thường hiển linh cho nhân dân quanh chợ Tầm Vu thấy nên mọi người đã xây một ngôi miếu nhỏ để thờ ông. Qua sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, ngôi miếu này hiện nay không còn nữa. Nhân dân đã đem linh vị của ông Đỗ Tường Tự  vào thờ trong đình Tân Xuân.

Ngôi mộ của ông Đỗ Tường Phong và người cận vệ đến năm 1994 vẫn còn là ngôi mộ đất nằm cạnh con đường nhỏ thuộc phần đất của ông Đỗ Thanh Hùng. Năm 1994, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã xây lại mộ ông Đỗ Tường Tự bằng xi măng. Hiện nay đình Dương Xuân và mộ ông Đỗ Tường Tự đang được lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định đăng ký di tích lịch sử – văn hóa.

-Mộ ông Đỗ Tường Phong:

Tương truyền năm 1878, Thực dân Pháp chém ông Đỗ Tường Phong chỉ trả lại thân còn đầu thì bêu để thị chúng. Gia đình phải làm lại đầu ông bằng sáp chắp vào thân để mai táng ở Bình Trị. Mộ ông được xây bằng đá ong, đến năm 1991 Sở Văn hóa Thông tin Long An đã cho cải táng và xây lại bằng ciment.

-Gò Trăm Đầu:

Gò Trăm Đầu nằm trên phần ruộng Cây Keo là nơi vào năm Mậu Dần (1878) ông Đỗ Tường Phong và Đỗ Tường Tự đã làm lễ xuất quân đánh Pháp. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Pháp đã cho chém đầu hàng loạt nghĩa quân rồi chôn chung thành một gò mả ở ruộng Cây Keo nên nhân dân gọi đây là Gò Trăm Đầu. Ngày nay Gò trăm đầu chỉ còn là một gò đất nhỏ, trên mọc lơ thơ vài ba cây trâm bầu.

-Gò Ông Tự – Gò Ông Chử:

Tọa lạc tại ấp Long Bình - xã Long Trì - huyện Châu Thành, nơi đây từng là căn cứ của một bộ phận nghĩa quân trong phong trào khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân và Đỗ Tường Phong -  Đỗ Tường Tự sau này.

Gò Ông Tự, có người giải thích đây là nơi ông Đỗ Tường Tự đóng quân, theo các cụ già trước đây rất rộng, cây cối rậm rạp. Hiện nay gò này chỉ còn lại một phần nhỏ, phía trên mặt gò mọc nhiều cỏ cây hoang dại.

Gò Ông Chử (nơi một bộ tướng tên Chử đóng quân) cách Gò Ông Tự chừng 100m ngày nay chỉ còn là một dãy đất cao 0,5m , rộng 2,5m , chạy dài 30m. Cách nay khoảng 30-40 năm, gò này vẫn còn cao ngang ngực, giống như một lũy đất có lẫn đá ong, thân lũy có đóng nhiều cây cột bằng gỗ trai. Hiện tại bên dưới lớp đất của Gò Ông Chử vẫn còn tìm thấy nhiều tảng đá ong xếp nối nhau làm nền. Có thể đây là một chiến lũy cũ trong hệ thống căn cứ kháng chiến của Thủ Khoa Huân và Đỗ Tường Phong -  Đỗ Tường Tự  xưa kia.
                                                                                                Nguyễn văn Thiện

 

 

14/05/2013 3:17 SAĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Nhà VuôngDi tích lịch sử Nhà Vuông

Nhà Vuông thuộc ấp Bình Nam, xã Bình Tâm, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Đây là loại hình kiến trúc đặc biệt gắn liền với tiến trình khai hoang, lập ấp của nhân dân Long An nói chung và nhân dân Nam Bộ nói riêng.

Cách nay khoảng 3 thế kỷ, trong quá trình Nam tiến, lưu dân người Việt từ miền Ngũ Quảng đã vượt biển vào Nam lập nên quê hương mới. Buổi đầu khẩn hoang, khi có đủ số dân theo quy định, những đơn vị hành chính cơ sở như: thôn, phường, lân, ấp được thiết lập thì song song đó, các thiết chế văn hóa như nhà vuông, đình, chùa lần lượt ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân trên vùng đất mới. Nhà vuông xuất hiện đầu tiên, là nơi hội họp, quyết định mọi vấn đề liên quan đến cộng dồng dân cư và đáp ứng nhu cầu tâm linh, cùng bái tưởng nhớ đến công đức của các vị tiền hiền đã có công khai cơ mở đất.

Trong bối cảnh chung ấy, Nhà Vuông Bình Nam ra đời, gắn liền với công cuộc khai hoang mở đất của lưu dân ngưồi Việt cách nay 3 thế kỷ. Qua những biến thiên của lịch sử, loại hình nhà vuông dần dần mất đi, chỉ tồn tại trong ký ức cộng đồng qua một vài địa danh rải rác trong tỉnh. Vì thế, Nhà Vuông Bình Nam trở thành di tích duy nhất của loại hình nhà vuông còn tồn tại trên đất Long An.

Nhà Vuông Bình  Nam là thiết chế văn hóa thôn ấp cổ truyền với đối tượng thờ cúng là Tiên sư và những bậc tiền nhân đã có công khai khẩn, khai cơ, truyền lại cơ đồ cho con cháu. Vì vậy, Nhà Vuông là nơi bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, mà cơ bản là tinh thần tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn.

Nhà Vuông còn là nơi ghi dấu những sự kiện lịch sử quan trọng ở địa phương. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân xã Bình Lập đã chọn Nhà Vuông làm nơi tổ chức lễ ra mắt và đặt trụ sở hoạt động. Trong kháng chiến chống Pháp, Nhà Vuông là nơi đặt trạm gác tiền tiêu của huyện Châu Thành để lực lượng cách mạng đối phó với những cuộc càn quét của thực dân Pháp.

Với những giá trị lịch sử và văn hóa cơ bản trên, Nhà Vuông Bình Nam xứng đáng được bảo tồn, tôn tạo, phát huy tác dụng nhằm giáo dục truyền thống yêu nước và bảo lưu các giá trị văn hóa dân tộc. Ngày 10/4/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành quyết định số 1209/QĐ-UBND, xếp hạng Nhà Vuông Bình Nam là di tích lịch sử cấp tỉnh.
                                                                                                 Nguyễn Văn Thiện

14/05/2013 2:44 SAĐã ban hànhApproved
Hiệu quả việc đưa chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình vào quy ước ấp, khu phố ở huyện Bến lứcHiệu quả việc đưa chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình vào quy ước ấp, khu phố ở huyện Bến lức

Trong những năm qua, việc đưa nội dung chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) vào quy ước ấp, khu phố ở huyện Bến Lức được tổ chức thực hiện khá tốt thông qua phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, trong đó tiêu chí "không sinh con thứ 3" là một trong những tiêu chí quan trọng để làm cơ sở bình xét công nhận các danh hiệu "Gia đình văn hóa"; "Ấp, khu phố văn hóa".

Từ đó, tạo bước chuyển biến tích cực trong việc thi đua xây dựng gia đình văn hóa; ấp, khu phố văn hóa; xã đạt chuẩn văn hóa; phường, thị trấn văn minh đô thị, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện ngày càng bền vững. Hiện nay, toàn huyện có 101/101 ấp, khu phố đưa chính sách DS-KHHGĐ vào quy ước ấp, khu phố. Việc bổ sung đưa nội dung chính sách DS-KHHGĐ vào quy ước ấp, khu phố trong thời gian qua đã đạt những kết quả nhất định. Năm 2009, huyện có 43 ấp, khu phố và một xã không có người sinh con thứ 3, thì đến năm 2017 có 78 ấp, khu phố và 5 xã không có người sinh con thứ 3. Để đạt kết quả này, các xã, thị trấn đều đưa công tác DS-KHHGĐ vào Nghị quyết của Đảng bộ nhằm giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên. Các ban, ngành, đoàn thể xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, đồng thời đưa chỉ tiêu về DS-KHHGĐ vào kế hoạch hoạt động hàng năm và xem đây là nội dung quan trọng trong chương trình, kế hoạch, hoạt động của ngành mình, đơn vị mình. Cán bộ, đảng viên gương mẫu đi đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ, đồng thời có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận động gia đình mình và nhân dân thực hiện tốt chính sách dân số nhằm mục tiêu xây dựng gia đình đạt tiêu chí: "Ít con, ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc".

12-4-2018 Truyền thông về chính sách DS- KHHGĐ.jpg

Truyền thông về chính sách DS- KHHGĐ góp phần nâng cao chất lượng dân số

Phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" và nhân rộng mô hình các ấp, khu phố, xã, thị trấn không có người sinh con thứ 3 trở lên, trong thời gian tới, Ban chỉ đạo các xã, thị trấn và Ban Công tác Mặt trận các ấp, khu phố tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng hơn, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng dân số, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh.

Truyền thông theo hướng phân nhóm đối tượng và theo chủ đề riêng (vị thành niên, thanh niên, nam giới, phụ nữ, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, người cao tuổi); chú trọng tuyên truyền ở các cơ sở có tỷ lệ sinh cao. Lồng ghép đánh giá hoạt động DS-KHHGĐ vào các đợt kiểm tra, giám sát định kỳ, bình xét gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa và mô hình khu dân cư không sinh con thứ 3 trở lên và hằng năm đánh giá kết quả thực hiện quy ước ấp, khu phố lồng ghép vào nội dung Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11./.

Việt Hằng

18/04/2018 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Tập huấn tuyên truyền bảo vệ môi trường gắn với công tác xây dựng đời sống văn hóa năm 2017 Tập huấn tuyên truyền bảo vệ môi trường gắn với công tác xây dựng đời sống văn hóa năm 2017

Ngày 06/10/2017, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An đã tổ chức tập huấn về công tác bảo vệ môi trường gắn với thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (TDĐKXDĐSVH) đối với 02 huyện Bến Lức và Đức Hòa. Tham gia lớp tập huấn gồm đại diện lãnh đạo và công chức phụ trách công tác xây dựng đời sống văn hóa cấp huyện; Phó chủ tịch UBND phụ trách khối văn hóa - xã hội và cán bộ làm công tác văn hóa xã, thị trấn, ấp, khu phố.

06-10-2017 hinh  quang canh hoi nghi tap huan moi truong ket hop nong thon moi.jpg

Quang cảnh buổi tập huấn

Tại lớp tập huấn các đại biểu được nghe báo cáo viên Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh triển khai hướng dẫn Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 3182/QĐ-UBND ngày 01/8/2016 của UBND tỉnh; Công văn số 2919/UBND-VX ngày 01/8/2017 của UBND tỉnh về việc Hướng dẫn thang điểm thi đua - khen thưởng phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 2524/QĐ-UBND ngày 10/7/2017 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy định đánh giá thực hiện các tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Long An; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thực hiện các tiêu chí của danh hiệu văn hóa và xây dựng xã nông thôn mới tại địa phương, cơ sở gắn với tiêu chí môi trường giai đoạn 2016-2020.

Thông qua lớp tập huấn lần này, nhằm giúp cho đội ngũ làm công tác xây dựng đời sống văn hóa cấp huyện, xã và Ban vận động ấp, khu phố nắm vững một số kiến thức về bảo vệ môi trường để làm nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động hội viên và nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn dân cư./.

Việt Hằng – Thái Tần

11/10/2017 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Khánh thành di tích lịch sử Nhà Tổng ThậnKhánh thành di tích lịch sử Nhà Tổng Thận

Trong không khí hân hoan phấn khởi chào mừng kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam ((3/2/1930 – 3/2/2013) và đón tết Nguyên đán Quý Tỵ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã long trọng tổ chức lễ  khánh thành công trình trùng tu, tôn tạo di tích Nhà Tổng Thận, tọa lạc tại số 19, đường Ngô Quyền, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Đến dự có ông Mai Văn Chính, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; ông Đặng Văn Xướng, Chủ tịch HĐND tỉnh; ông Võ Lê Tuấn, Chủ tịch MTTQ Việt Nam tỉnh Long An; ông Phạm Thanh Phong, nguyên Bí thư Tỉnh ủy; ông Trần Hữu Phước, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; ông Phạm Văn Trấn, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cùng các ông, bà cán bộ cách mạng lão thành và lãnh đạo các Ban ngành, đoàn thể tỉnh.

Nhà Tổng Thận đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 3148/1998/QĐ.UB, ngày 27/2/1997. Được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã lập Dự án trùng tu, tôn tạo di tích gồm 2 hạng mục chính là: hạng mục phục hồi kiến trúc ngôi nhà và hạng mục nội thất trưng bày. Công ty Cổ phần đầu tư Thiên Việt thi công phục hồi kiến trúc ngôi nhà và Trung tâm Mỹ thuật ứng dụng – Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện phần nội thất trưng bày.

Trong cuộc cách mạng Tháng Tám - 1945, tỉnh Tân An vinh dự được Xứ ủy Nam Bộ chọn làm thí điểm cho cuộc khởi nghĩa và trở thành phát pháo lệnh cho cả Nam Bộ hòa nhập vào cuộc tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Tân An, mà trực tiếp là các đồng chí Nguyễn Văn Hoằng, Nguyễn Văn Trọng, Lê Minh Xuân… cuộc khởi nghĩa đã thành công tại tỉnh lỵ Tân An vào ngày 21/8/1945. công trình trùng tu, tôn tạo di tích Nhà Tổng Thận, Ngay sau cuộc mitting, chiều tối ngày 22/8, Tỉnh ủy Tân An đã quyết định chuyển trụ sở hoạt động từ Nhà thuốc Minh Xuân đường (số 17 – Lê Văn Duyệt, nay là đường Nguyễn Duy) về nhà Tổng Thận. Kể từ thời điểm này, Nhà Tổng Thận trở thành trụ sở hoạt động công khai đầu tiên của Tỉnh ủy Tân An.

Cuối tháng 10/1945, liên quân Anh-Pháp phá vỡ vành đai Sài Gòn-Chợ Lớn, bắt đầu kế hoạch đánh chiếm Nam Bộ. Được tin thực dân Pháp chiếm cầu Bình Điền, đồng thời chúng cũng chiếm Mỹ Tho bằng đường thủy, nhằm tránh thế phải nằm trong hai gọng kìm của địch và cũng để bảo toàn lực lượng, Tỉnh ủy Tân An chỉ đạo cho tất cả các cơ quan, ban ngành phải rút ra ngoài trung tâm tỉnh lỵ. Cơ quan Tỉnh ủy cũng chính thức rút khỏi nhà Tổng Thận về căn cứ Đồng Tháp Mười.

Tuy chỉ là trụ sở hoạt động công khai của Tỉnh ủy Tân An trong khoảng 2 tháng – thời gian không dài so với quá trình hoạt động cách mạng - nhưng Nhà Tổng Thận có ý nghĩa lịch sử hết sức quan trọng: là một minh chứng rõ nét nhất về một thời kỳ lịch sử cách mạng của tỉnh Tân An xưa và Long An ngày nay. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, nhân dân Tân An đã đi đầu và thực hiện thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám - 1945, đồng thời tích cực xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong buổi đầu còn non trẻ.

 Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương V (Khóa 8) của Đảng về việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong thời gian tới, Sở VH, TT và DL sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan tham mưu đề xuất Tỉnh ủy, UBND tỉnh những vấn đề cần thiết để phát huy giá trị di tích lịch sử Nhà Tổng Thận nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc quản lý công trình và phục vụ nhân dân tốt nhất.

    

Ông Đặng Văn Xướng, Chủ tịch HĐND tỉnh trồng cây lưu niệm tại di tích lịch sử Nhà Tổng Thận 

 

Ông Mai Văn Chính, Bí thư Tỉnh ủy, trồng cây lưu niệm tại di tích lịch sử Nhà Tổng Thận 

 

Quang cảnh buổi lễ  khánh thành 

 

Lễ cắt băng khánh thành công trình trùng tu, tôn tạo di tích Nhà Tổng Thận 

 

Ông Phạm Văn Trấn, Giám đốc Sở VH,TT và DL báo cáo quá trình trùng tu, tôn tạo và ý nghĩa lịch sử khu di tích Nhà Tổng Thận 

 

Danh sách các đồng chí trong Tỉnh ủy lâm thời ngày 22/8/1945 

                                                                                             Tin, ảnh: Phước Vẹn

24/05/2013 2:30 SAĐã ban hànhApproved
Họp mặt kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam: NÉT ĐẸP TRI ÂNHọp mặt kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam: NÉT ĐẸP TRI ÂN

Đến hẹn lại lên, vào dịp kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam 12-8 âm lịch hàng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lại phối hợp Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Long An tổ chức họp mặt đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn và những người làm công tác quản lý ngành sân khấu trong tỉnh. Buổi họp mặt ấm áp không chỉ là dịp để  văn, nghệ sĩ tỉnh nhà gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm mà còn là nét đẹp của đạo lý uống nước nhớ nguồn, của lòng tri ân đối với những bậc tiền nhân đã khai sáng bộ môn nghệ thuật truyền thống.

Tiếp bước tiền nhân

Tại buổi họp mặt kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam được tổ chức vào ngày 11-9-2016 tại Đoàn Cải lương Long An, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Nguyễn Văn Danh ôn lại truyền thống ngành sân khấu trên quê hương Long An. Ông Nguyễn Văn Danh phát biểu: "Long An không chỉ là một trong những chiếc nôi của nền âm nhạc tài tử Nam Bộ mà còn là nơi sớm hình thành nghệ thuật sân khấu truyền thống như gánh hát bội của Nguyễn Quang Đại lập ra ở xã Tân Lân do ông Cả Cương chu cấp; trường hát bội ở xã Long Sơn, huyện Cần Đước mà đến hôm nay, cái tên Xóm Trường vẫn còn lưu danh. Hay đó là giai thoại về Huỳnh Duy Ngạn - người đặt nền móng cho nghề hát bội ở đất Tân An xưa, đến hôm nay mồ mả vẫn còn ở xã Nhơn Thạnh Trung, thành phố Tân An".

GioToSanKhau ld Tinh.JPG

Lãnh đạo tỉnh dâng hương bàn thờ tổ nghiệp

Những năm chiến tranh, ngành sân khấu Long An có sự đóng góp của hai Đoàn Văn công giải phóng Long An và Kiến Tường, được thành lập vào những năm Đồng Khởi. Hai Đoàn Văn công này luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, đem tiếng hát, tiếng đàn, điệu múa, vở kịch, trích đoạn cải lương... phục vụ sự nghiệp đấu tranh, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Những vở kịch Trăng lên khỏi núi, Dậy lửa (Nguyễn Vũ), Bám đất giữ làng (Trần Ngọc), Dòng máu (Phạm Ngọc Truyền), Máu rơi bám đất (Hà Mạnh Đức), Lá cờ giải phóng, Hồi trống đất (Nguyễn Hữu Thường), Tô thuốc độc, Cô Điền (Thanh Châu)..., cùng những tiết mục múa Giải phóng quân nhập thành, Những búp măng non, Xây làng chiến đấu, Trái lựu đạn gỗ, Ong vò vẽ đánh Mỹ,... là những tác phẩm tiêu biểu của sân khấu kháng chiến Long An - Kiến Tường năm xưa.    

GioToSanKhau NgocGiau.JPG

NSND Ngọc Giàu dâng hương bàn thờ tổ nghiệp

Tiếp bước thế hệ tiền nhân trong bộ môn nghệ thuật truyền thống, ngày nay, Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An, Đoàn Xiếc nhân dân Long An, Trung tâm Văn hóa tỉnh là lực lượng chủ yếu tiếp tục gìn giữ, phát huy những giá trị tinh thần của ngành sân khấu. Ông Nguyễn Văn Danh thông tin, có nhiều nghệ sĩ, diễn viên sân khấu của 2 Đoàn nghệ thuật và một số nghệ nhân đờn ca tài tử của tỉnh đạt những danh hiệu cao quý, gồm 1 Nghệ sĩ nhân dân (NSND), 7 Nghệ sĩ ưu tú NSƯT) và 3 Nghệ nhân ưu tú. Ngoài ra, nhiều nghệ sĩ, diễn viên đạt các giải thưởng cao như giải triển vọng Trần Hữu Trang, giải Chuông Vàng, Chuông Bạc vọng cổ. Đội ngũ văn, nghệ sĩ đã phát huy niềm đam mê, tinh thần sáng tạo phục vụ khán giả, đáp ứng nhiệm vụ chính trị cũng như góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cho người dân.

GioToSanKhau HongNga.JPG

NS Hồng Nga, NS Kim Phương dâng hương bàn thờ tổ nghiệp

Niềm tin vào thế hệ trẻ

Với bề dày truyền thống lịch sử của ngành sân khấu Long An, ngày 12-8 âm lịch hàng năm là dịp để đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên, những người làm công tác quản lý ngành sân khấu tỉnh nhà cùng họp mặt, dâng lên bàn thờ tổ nghiệp nén hương tỏ lòng tri ân. Từ đó, tất cả chung một tâm nguyện giữ gìn, phát huy loại hình nghệ thuật truyền thống mà các bậc tiền nhân đã khai sáng, NSƯT Hồ Ngọc Trinh – Phó Trưởng đoàn nghệ thuật Cải lương Long An bày tỏ:" Kỷ niệm ngày Sân khấu là dịp để ghi nhớ công ơn, tỏ lòng thánh kính với tổ nghiệp. Tôi và anh chị em văn, nghệ sĩ nguyện giữ mãi ngọn lửa đam mê, sáng tạo và đem lời ca tiếng hát phục vụ khán giả, để những giá trị của Sân khấu Việt Nam mãi sáng ngời".

Ngoài đội ngũ văn nghệ sĩ tỉnh nhà, kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam năm nay, Long An vinh dự khi có NSND Ngọc Giàu, nghệ sĩ (NS) Hồng Nga, NS Kim Phương từ Thành phố Hồ Chí Minh cũng về dự ngày giổ tổ. NS Hồng Nga chia sẻ: " Đối với tôi, ở nơi đâu cũng là tổ nghiệp nên dù tham dự kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam ở Sài Gòn hay Long An, tôi đều xúc động. Lần đầu tiên về dự ngày giổ tổ với anh chị em nghệ sĩ Long An, thấy nghệ thuật sân khấu ở Long An được quan tâm, nhìn Long An có đội ngũ trẻ khá nhiều nên tôi tin, bộ môn nghệ thuật truyền thống này sẽ sống mãi và ngày càng phát triển theo chiều hướng tốt".

Để nghệ thuật sân khấu ngày càng phát triển, để phát huy tinh thần sáng tạo của thế hệ trẻ trong ngành sân khấu, tại ngày họp mặt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh – Lê Tấn Dũng nhấn mạnh: " Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ văn nghệ sĩ chủ động sáng tạo được nhiều tác phẩm sân khấu có chất lượng, giá trị cao về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Đồng thời chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng các tác giả, đạo diễn, diễn viên sân khấu trẻ, có định hướng trong sáng tác và trong biểu diễn. Ngoài ra, có phương thức phù hợp, hiệu quả nhằm quảng bá các tác phẩm nghệ thuật đến người xem, gắn kết hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp với nghệ thuật quần chúng để ngày càng nâng cao chất lượng biễu diễn của đội ngũ nghệ sĩ tỉnh".

Buổi họp mặt kỷ niệm ngày Sân khấu Việt Nam ấm áp, thần tình khép lại nhưng ngày hội truyền thống này sẽ là sự cổ vũ, động viên tinh thần để đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên tiếp tục rèn nghề, phục vụ khán giả góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân.

                                                         Bài, ảnh:  THÙY HƯƠNG

16/09/2016 3:00 CHĐã ban hànhApproved
NGƯỜI ĐÁNH RƠI HẠNH PHÚCNGƯỜI ĐÁNH RƠI HẠNH PHÚC

Chỉ vì đồng tiền, mãi sa đà vào những trò ăn chơi trụy lạc, người vợ, người chồng đánh mất lương tâm, đánh mất chính mình và đánh rơi hạnh phúc gia đình. Đến khi hối hận, hạnh phúc không còn nguyên vẹn như xưa... Đó là bi kịch của 2 gia đình rời quê lên thành phố sinh sống trong vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" của tác giả Kha Tuấn và NSƯT Hữu Lộc.

Bi kịch của đồng tiền

Vở cải lương tâm lý xã hội "Người đánh rơi hạnh phúc" xoay quanh câu chuyện gia đình của 2 nhân vật Đạt và Dĩ. Câu chuyện ấy nhuốm màu bi kịch khi Đạt – người chồng nhẫn tâm phụ vợ, gửi hồn vào những cuộc ăn chơi trụy lạc, đánh mất lương tâm, trở thành kẻ vô nhân tính. Đạt quên trách nhiệm với gia đình, thậm chí "ngó lơ" với giọt máu đang tượng hình trong bụng vợ để ngủ vùi vào những ngày ăn chơi, hút chích. Tệ bạc với vợ, Đạt còn ngỗ ngược với chính người mẹ đứt ruột sinh ra mình và đuổi bà về quê. Bất lực, đau khổ vì con trai bị cuốn theo lối sống thị thành, mẹ ruột của Đạt và vợ anh từ bỏ cuộc sống phồn hoa, trở về quê sống đời lam lũ. Còn một mình bơ vơ nơi đất lạ người xa, tưởng chừng sẽ ăn năn hối lỗi nhưng ngược lại, Đạt càng rơi vào vực thẳm của thói ăn chơi lêu lõng. Đến khi nhà cửa, tài sản chẳng còn, sống vất vưởng không chốn nương thân, không gia đình bên cạnh, Đạt mới nhớ đến mẹ, nghĩ đến vợ. Đạt về quê tìm gặp mẹ và vợ, anh hối hận và xin được tha thứ. Nhưng sự ăn năn đã quá muộn. Lúc gặp lại những người thân yêu cũng là lúc Đạt từ giã cõi đời vì thân tàn ma dại, hơi tàn sức kiệt không đủ sức lực tiếp tục những ngày làm lại cuộc đời đã từng đánh rơi.

 Còn Dĩ – một người vợ từng có mái ấm êm đềm nhưng không biết quý trọng, giữ gìn. Cuộc sống chốn phồn hoa đô thị đã biến Dĩ từ một cô gái quê chân chất, dịu dàng thành một cô gái thành thị đanh đá. Chán chường cuộc sống thiếu trước hụt sau chốn quê nhà nên đến thành đô, Dĩ bị ma lực đồng tiền lôi cuốn. Cô bán rẻ lương tâm, đánh đổi tình chồng nghĩa vợ chạy theo phù phiếm xa hoa. Đến khi đánh mất hạnh phúc gia đình, mất người chồng luôn hết mực yêu thương và hiền hậu, trở thành vợ của kẻ mua vui ái tình, Dĩ hối hận, dằn vặt lương tâm. Dù có được cuộc sống sang giàu như cô từng chạy theo nhưng Dĩ thấy cô đơn vì thiếu vắng một tình yêu thật sự. Cô luôn mong ngày gặp lại chồng, nối lại tình xưa nhưng hạnh phúc ngày nào đã xa tầm tay.

Bên cạnh những người không biết quý trọng hạnh phúc thì Xuyến – vợ Đạt do NSƯT Hồ Ngọc Trinh thủ vai lại là một hình tượng phụ nữ hiền hậu, tốt bụng. Dù chồng ngược đãi, lạnh nhạt với đứa con đang mang trong bụng và vun tiền ăn chơi trác táng nhưng Xuyến vẫn âm thầm cam chịu, gánh từng gánh chè đi bán kiếm tiền xoay xở cuộc sống với hy vọng chồng nghĩ lại mà đổi thay. Nhưng, tình yêu thương của người vợ hiền vẫn không đủ sức vực dậy sự u mê của Đạt. Chính Đạt và Dĩ là những người đánh rơi hạnh phúc.

Thành công trong từng vai diễn

Khi vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" được truyền hình trực tiếp trên VTV Cần Thơ trong chương trình "Hòa điệu đất chín rồng" số tháng 6-2016, NSƯT Hồ Ngọc Trinh (vai Xuyến) được khán giả bình chọn là vai diễn ấn tượng nhất. Dù chồng bạc tình vô nghĩa nhưng Xuyến vẫn một lòng thủy chung và cam chịu. Vai Xuyến đã thể hiện được nết na, lòng vị tha và đức hy sinh của người phụ nữ Việt. Khi xem vở cải lương, nhiều khán giả trong hội trường rơi nước mắt vì thương, đồng cảm cho Xuyến. Không những hát ngọt ngào, Hồ Ngọc Trinh làm rung động khán giả bởi lối diễn nhập vai, thể hiện tâm lý đau khổ của người vợ lực bất tòng tâm, từng ngày chứng kiến chồng bê tha rượu chè bài bạc, hút chích. Trong các lớp diễn, "đắc" nhất là lớp tứ đại oán khi Xuyến gánh chè đi bán, vô tình gặp Đạt và bị đánh dù đang mang trong mình sinh linh bé nhỏ. NSƯT Hồ Ngọc Trinh chia sẻ " Dù lớp này, Hồ Ngọc trinh vừa bị chồng đánh vừa hát nhưng đây là đoạn thể hiện được sự khổ hạnh tột cùng của người phụ nữ nên rất thích và tâm đắc". Đây cũng là đoạn diễn để lại dấu ấn trong khán giả.

Khi nhắc đến vai Đạt, khán giả đều cho rằng "Không ai diễn vai này đạt như Nguyên Tâm". Từng lời nói, cử chỉ đến lối diễn đều bộc lộ được tính cách nhân vật. Ở cuối vở diễn, lúc Đạt đã hối hận về những chuỗi ngày sống buông trôi thả nỗi, NSƯT Nguyên Tâm cho khán giả thấy sự đau đớn, hối hận qua những tiếng kêu nghe chạnh lòng. Nhưng, sự hối hận đã muộn màng vì khi trở về bên vòng tay của mẹ, tình yêu thương của vợ ở chốn quê nhà cũng là lúc sức khỏe Đạt hao mòn sau những ngày trụy lạc bê tha.

Còn diễn viên trẻ Hoàng Oanh, mặc dù vào vai Dĩ với nhiều diễn biến tâm lý khác nhau nhưng Hoàng Oanh đã diễn thành công. Khi phụ chồng, Hoàng Oanh thể hiện được cái đanh đá, chua ngoa. Nhưng khi đã sống trong sang giàu, trong ngôi biệt thự mà chẳng khác gì chiếc lòng son, Dĩ hối hận. Từng lời độc thoại mà Hoàng Oanh diễn như những lời ăn năn sám hối. Lớp diễn trong ngôi biệt thự cũng là cao trào mà diễn viên phải có lực và thể hiện được diễn biến tâm lý nhân vật. Ở đoạn này, khán giả xem vở cải lương vừa cảm nhận được sự hối hận cũng như sự căm thù những kẻ mua vui ái tình bằng bạc tiền qua lối diễn, những lới thét vang của Hoàng Oanh.

Khép lại "Người đánh rơi hạnh phúc", hình ảnh một cô Xuyến khổ hạnh, nết na vẫn làm khán giả xúc động. Càng thương Xuyến càng đáng trách thay những người chồng phụ bạc, vô trách nhiệm như Đạt và những người vợ bán rẻ bản thân chạy theo đồng tiền như Dĩ. Vở cải lương vì thế là một lời cảnh tỉnh cho những ai chạy theo phù phiếm, bạc tiền xem nhẹ tình cảm, đánh rơi hạnh phúc gia đình.

00520072016.jpg

0620072016.jpg 

0720072016.jpg 

0820072016.jpg

Cảnh trong vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc"

Bài, ảnh: Thùy Hương

22/07/2016 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Công diễn vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc”Công diễn vở cải lương “Người đánh rơi hạnh phúc”

Vào lúc 20 giờ,00 ngày 26/6/2016, Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An phối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ công diễn vở cải lương "Người đánh rơi hạnh phúc" trong chương trình "Hòa điệu Đất Chín Rồng" diễn ra tại Trung tâm Luyện tập và sinh hoạt Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An (được trực tiếp truyền hình trên kênh VTV5) thu hút đông đảo khán giả đến xem và cổ vũ.

CaiLuong 1.jpg

Quang cảnh hội trường trước khi vở diễn bắt đầu

Vở diễn "Người đánh rơi hạnh phúc" của soạn giả Kha Tuấn và Nghệ sĩ Ưu tú Hữu Lộc là vở cải lương tâm lý xã hội mang thông điệp cảnh tỉnh mọi người đừng vì đồng tiền, vì thói ăn chơi đua đòi mà đánh mất lương tâm và hạnh phúc đang có đến khi nhận ra hối hận thì đã muộn màng.

CaiLuong2.jpg

Cảnh diễn trong vở "Người đánh rơi hạnh phúc"

Vở diễn cuốn hút người xem bởi nội dung kịch bản hay và lối diễn xuất của các diễn viên rất tự nhiên, chân thật. Vở diễn được Nghệ sĩ Ưu tú Hữu Lộc dàn dựng sáng tạo, đạt hiệu quả cao trong kỹ thuật xử lý máy chiếu cho những cảnh quay trước lồng ghép vào lúc chuyển cảnh trên sân khấu làm người xem không bị gián đoạn cảm xúc.

CaiLuong3.jpg

Cảnh kết trong vở "Người đánh rơi hạnh phúc"

Nhờ sự kết hợp cảnh trí trên màn hình máy chiếu và sắp đặt khéo léo kết hợp giữa âm thanh, ánh sáng, cùng lối diễn xuất chắc tay, giọng ca ngọt ngào, mượt mà của những nghệ sĩ tài năng, tâm huyết với nghệ thuật sân khấu cải lương như: Nghệ sĩ Ưu tú Hồ Ngọc Trinh, Nghệ sĩ Ưu tú Nguyên Tâm, Vương Tuấn, Hoàng Oanh,...đã giúp vở diễn tăng thêm sức hấp dẫn, sinh động, lôi cuốn.

Theo nhận xét của nhiều khán giả trong đêm diễn, đây là một vở cải lương tâm lý xã hội được đầu tư dàn dựng kỹ lưỡng, mang nhiều ý nghĩa, có giá trị thiết thực với cuộc sống hiện nay.

                                                         Hoàng Quân - Phòng Quản lý văn hóa

28/06/2016 3:00 CHĐã ban hànhApproved
ĐỘI VĂN NGHỆ XUNG KÍCH TRUNG TÂM VĂN HÓA TỈNH LONG AN THĂM, BIỂU DIỄN TẠI HUYỆN ĐẢO TRƯỜNG SA NĂM 2017ĐỘI VĂN NGHỆ XUNG KÍCH TRUNG TÂM VĂN HÓA TỈNH LONG AN THĂM, BIỂU DIỄN TẠI HUYỆN ĐẢO TRƯỜNG SA NĂM 2017

Từ ngày 13/4 đến ngày 22/4/2017, Đoàn công tác số 5 gồm đồng chí Trần Hữu Bình, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương làm Trưởng đoàn; Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Chuẩn Đô đốc Đỗ Minh Thái, Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân và đồng chí Đỗ Hữu Lâm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Long An là Phó Trưởng đoàn cùng gần 200 cán bộ của các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong Khối Doanh nghiệp Trung ương và tỉnh Long An đã đến thăm và làm việc với quân và dân quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK1.

Trung tâm Văn hóa tỉnh Long An tham gia chuyến công tác thông qua Đội Văn nghệ xung kích gồm 12 người. Mỗi thành viên cảm nhận được vinh dự lớn lao của mình, mong muốn mang lời ca tiếng hát đến với cán bộ, chiến sĩ nơi tiền tiêu của Tổ quốc.

ThamTruongSa 2017 01.jpg

Đoàn đại biểu của Tỉnh ủy và Đội văn nghệ xung kích

Đoàn đến thăm, động viên, giao lưu và tặng quà cho cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng và nhân dân tại 8 đảo, 10 điểm đảo và nhà giàn: Đá Lớn (A,B,C), Sinh Tồn, Cô Lin, Phan Vinh (B), Trường Sa Đông, Đá Tây (B), Đá Lát, Trường Sa và Tư Chính (Nhà giàn DK1/14). Thật ấn tượng bởi những điểm đảo nổi, đảo chìm Đoàn đến, dù là bên công sự, trước thềm nhà, trên sàn xi măng nhỏ sát biển, các thành viên đội văn nghệ bằng cái tâm, cái tình đã biểu diễn và "cháy" hết mình. Không chỉ biểu diễn thành công tại những điểm đến, đội văn nghệ còn là nòng cốt khuấy động phong trào văn hóa, văn nghệ trên tàu KN 491 (tàu chở Đoàn công tác số 5).

ThamTruongSa 2017 02.jpg

Đoàn công tác số 5 giao lưu văn hóa, văn nghệ với chiến sĩ Đảo Phan Vinh B

Góp phần thành công cho chuyến thăm của Đoàn công tác số 5 phải kể đến sự đóng góp của Đội văn nghệ xung kích Trung tâm Văn hóa tỉnh Long An. Các thành viên của đội đã đem lời ca tiếng hát khích lệ, động viên cán bộ, chiến sĩ chắc tay súng, bảo vệ bình yên biển đảo của Tổ quốc.

Tại Lễ tổng kết chuyến đi được tổ chức trang trọng trên boong tàu, Trưởng đoàn công tác đã đánh giá cao ý thức, trách nhiệm và hành động thiết thực của mỗi thành viên Đoàn công tác, trong đó có sự đóng góp tích cực và hiệu quả của Đội văn nghệ xung kích. Đội trưởng Đội văn nghệ xung kích vinh dự được tuyên dương là cá nhân xuất sắc của chuyến đi và các thành viên của đội được tặng Huy hiệu "Chiến sĩ Trường Sa".

Chuyến công tác qua đi, nhưng lời ca tiếng hát của Đội văn nghệ xung kích Trung tâm Văn hóa tỉnh Long An vẫn còn lắng đọng mãi với cán bộ, chiến sĩ Trường Sa. Đối với mỗi thành viên Đoàn công tác số 5 cũng như Đội văn nghệ xung kích, chuyến đi là một trải nghiệm tuyệt vời, có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cả cuộc đời; đồng thời, phát huy truyền thống và ghi nhận từ những chuyến công tác, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về biển đảo và chủ quyền biển đảo trong thời gian tới./.

                                                                              Bài, ảnh: Hồng Thủy

Trung tâm Văn hóa tỉnh Long An.

20/06/2017 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Khu vực miễu Bà CốDi tích lịch sử Khu vực miễu Bà Cố

Miễu Bà Cố là một ngôi miếu nhỏ được xây dựng cách nay hơn 100 năm, tại ấp Bình Trị, xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành. Tại khu vực này, vào ngày 24-2-1954, Tiểu đoàn 309 phối hợp cùng quân dân Châu Thành đã phục kích diệt gọn 1 tiểu đoàn và 1 đại đội quân địch, lập nên một trong những chiến thắng vang dội nhất trong lịch sử  9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên đất Long An.

Trận miễu Bà Cố còn gọi là trận Hiệp Thạnh -Phú Ngãi Trị -miễu Bà Cố, vì trước khi trận đánh, Tiểu đoàn 309 đã phối hợp du kích và bộ đội địa phương Châu Thành (lúc đó còn được gọi là địa phương quân Vàm Cỏ) tiến đánh bót Vĩnh Công vào ngày 22-2-1954. Sau khi diệt bót Vĩnh Công, lực luợng ta nhanh chóng trở về điểm trú quân đóng trên khu vực trải dài từ ấp Bình Trị, xã Phú Ngãi Trị đến ấp 5, xã Hiệp Thạnh. Chính tại khu vực này, Tiểu đoàn 502 và Đại đội 14 của địch đã  bị Tiểu đoàn 309 và địa phương quân Vàm Cỏ tiêu diệt.

Trận đánh diễn ra vào ngày 24-4-1954, chia 2 đợt:

-Buổi sáng, lực lượng ta chặn đánh địch từ ấp Bình Trị và truy kích chúng đến cầu Bà Thơm (xã Hiệp Thạnh). Một cánh quân khác của ta tiến công địch ở hướng Vĩnh Công và truy kích chúng chạy dạt ra lộ 12 (nay là đường Nguyễn Thông).

-Trong khi trận đánh buổi sáng chưa kết thúc thì Ban Chỉ huy được trinh sát báo cáo: khoảng 1 trung đội địch từ  Kỳ Son hành quân theo lộ 12 tiến vào cầu Biện Trẹt (xã Phú Ngãi Trị). Sau này qua khai thác tù binh, ta mới biết đây là Tiểu đoàn 502 và Đại đội 14 hành quân bằng cơ giới từ Tân An xuống Kỳ Son. Đến Kỳ Son, chúng xuống xe và hành quân bộ vào Phú Ngãi Trị. Ban Chỉ huy trận đánh liền ra lệnh cho các đơn vị đang truy kích địch nhanh chóng trở về vị trí, chuẩn bị đánh cánh quân này.

Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, lực lượng ta với thế đón lõng, chia làm 3 gọng kìm bao vây tiêu diệt địch:

-Trung đội A thuộc Đại đội 399 (Tiểu đoàn 309) ém quân tại ấp Bình Trị, kết hợp Trung đội B có trách nhiệm khóa đuôi và đánh vào sườn bắc đội hình địch.

-Đại đội 941 (Tiểu đoàn 309) và địa phương quân Vàm Cỏ ém quân tại huớng bắc rạch Bà Quạ chịu trách nhiệm đánh xuyên hông đội hình địch.

-Trung đội C thuộc Đại đội 939 (Tiểu đoàn 309) và tổ trợ chiến tiểu đoàn có nhiệm vụ đánh chính diện.

Với sự bố trí trên, bộ đội ta làm chủ hoàn toàn trận địa. Trận đánh diễn ra ác liệt nhất là từ cầu Biện Trẹt đổ dài vào khu vực miễu Bà Cố, cách miễu khoảng 300m về hướng nam. Kết thúc trận đánh, ta đã tiêu diệt 145 tên địch, bắt sống 123 tên, thu trên 200 súng các loại cùng nhiều quân trang, quân dụng. Về phía ta, có 1 đồng chí hy sinh và 5 đồng chí bị thương.

Khu vực miễu Bà Cố là địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược của quân đội ta trong thời kỳ 9 năm kháng chiến, chứng minh sự lớn mạnh và trưởng thành của lực lượng vũ trang ta có thể đương đầu và đánh bại quân chủ lực của giặc Pháp và tay sai. Chiến thắng miễu Bà Cố phối hợp với chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 của cả nước đã góp phần làm phá sản kế hoạch Na-va, đẩy giặc Pháp vào tình thế ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ  ngày 7-5-1954, kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương. Năm 1994, nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Phú Ngãi Trị-Hiệp Thạnh- miễu Bà Cố, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã long trọng tổ chức mít-tinh và làm lễ khành thành bia kỷ niệm chiến thắng vang dội này tại xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành. Bia tọa lạc tại đường Nguyễn Thông, cách Uûy ban nhân dân xã Phú Ngãi Trị khoảng 2,5km. Cùng với những di tích khác trong tỉnh, Khu vực miễu Bà Cố là điểm son tô thắm truyền thống yêu nước, trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm của đất và người Long An, hun đúc thêm lòng tự hào và tình yêu quê hương cho thế hệ hôm nay và mai sau. Khu vực Miễu Bà Cố đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xếp hạng di tích tại Quyết định số 1649/QĐ-UB, ngày 17-8-1994.

                                                                                      Nguyễn Văn Thiện

28/05/2013 7:48 SAĐã ban hànhApproved
HUYỆN ĐOÀN CẦN ĐƯỚC KHÁNH THÀNH VÀ ĐƯA VÀO SỬ DỤNG CÔNG TRÌNH THÀNH NIÊN “BẢNG QUẢNG CÁO, RAO VẶT MIỄN PHÍ” HUYỆN ĐOÀN CẦN ĐƯỚC KHÁNH THÀNH VÀ ĐƯA VÀO SỬ DỤNG CÔNG TRÌNH THÀNH NIÊN “BẢNG QUẢNG CÁO, RAO VẶT MIỄN PHÍ”

Vừa qua, Huyện đoàn Cần Đước đã tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng công trình thanh niên "Bảng quảng cáo, rao vặt miễn phí", lắp đặt tại ngã tư Chợ Rạch Kiến, xã Long Hòa, nhân lễ ra quân thực hiện tháng thanh niên năm 2020. Công trình được thực hiện với kinh phí trên 10 triệu đồng. Đây là điểm để cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thông tin, quảng cáo, tìm việc làm, tuyển lao động và quảng cáo sản phẩm của mình mà không làm mất vẻ mỹ quan đô thị, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở cơ sở.

4-3-2020 BTV huyện đoàn Cần Đước cắt băng khánh thành công trình thanh niên Bảng quảng cáo, rao vặt miễn phí.JPG

Ban Thường vụ Huyện đoàn Cần Đước cắt băng khánh thành
công trình thanh niên "Bảng quảng cáo, rao vặt miễn phí"

Bên cạnh đó, Huyện đoàn còn tổ chức cho các bạn đoàn viên thanh niên ra quân bóc xóa các biển quảng cáo, rao vặt trên thân cây, cột điện dọc các tuyến đường chính trên địa bàn xã Long Hòa; vệ sinh môi trường, thu gom rác thải; phát nước rửa tay sát khuẩn, khẩu trang miễn phí và tuyên truyền phòng chống dịch bệnh Covid-19.

4-3-2020  Đoàn viên ra quân bóc xóa các biển quảng cáo, rao vặt trên thân cây, cột điện.JPG

Đoàn viên thanh niên ra quân bóc xóa các biển quảng cáo,
rao vặt trên thân cây, cột điện ở địa bàn xã Long Hòa

4-3-2020 Đoàn viên thanh niên tham gia vệ sinh môi trường.JPG

Vệ sinh môi trường, thu gom rác thải

Các hoạt động trong tháng thanh niên được đoàn viên thanh niên xã, thị trấn trong huyện thực hiện song song với việc phát động thi đua mỗi cán bộ, đoàn viên một việc làm tốt, mỗi tổ chức Đoàn một công trình thanh niên vì an sinh xã hội, vì cuộc sống cộng đồng, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII nhiệm kỳ 2020-2025./.

Cẩm Tú  

06/03/2020 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Bào tàng Long An, chặng đường 25 nămBào tàng Long An, chặng đường 25 năm
Ngày 27-4-1985, Bảo tàng tỉnh Long An được thành lập theo Quyết định số 866/QĐ-UB.85 của UBND tỉnh Long An, địa điểm trưng bày đặt tại 10 A Quốc lộ I- trụ sở của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh bàn giao lại, chính thức mở cửa phục vụ ngày 30-4-1985, nhân kỷ niệm 10 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

        Bảo tàng có lịch sử lâu đời. Tư liệu về lịch sử văn hoá cổ đại cho biết từ thế kỷ II trước Công nguyên đã có bảo tàng rất nổi tiếng mang tên A-lếch-xăng-đờ-ri ở Hy Lạp (nay là thành phố A-lếch-xăng-đờ-ri ở Ai Cập). Sau thời kỳ Trung cổ, “thời đại phục hưng” thế kỷ XV-XVIII đã làm xuất hiện nhiều nhà sưu tầm là các nhà bác học, nhân văn, lịch sử…và nhiều bảo tàng được hình thành ở Nga, Ý, Pháp, Mỹ… Các bảo tàng đã phát triển hơn về thể loại cũng như số lượng. Đến những năm 70 của thế kỷ XX thì thế giới đã có trên 20.000 bảo tàng. Trong bối cảnh đó, bảo tàng ở Việt Nam đầu tiên được xây dựng là Bảo tàng Louis Finot, năm 1926, là viện bảo tàng của Trường Viễn Đông bác cổ.Trước sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các bảo tàng trên thế giới, năm 1946, Hội đồng bảo tàng quốc tế (International Council of Museums) gọi tắt là ICOM đã ra đời theo sáng kiến của ngài Chauncey J.Hanlinn- Chủ tịch Hiệp hội các bảo tàng Mỹ, trụ sở đặt tại Pa-ri. Hiện nay, ICOM có trên 26.000 thành viên tổ chức và cá nhân tham gia tại 139 quốc gia. Tháng 5-1977, Hội nghị ICOM lần thứ 12 tại Lê-nin-grát (nay là Xanh Pe-téc-bua, Liên bang Nga ) quyết định lấy ngày 18-5 hằng năm là "Ngày Quốc tế Bảo tàng" (International Museum Day). 

 

Đội ngũ cán bộ, nhân viên bảo tàng Long An, năm 2010

  
        Ở nước ta, sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập chỉ 2 tháng 21 ngày, dù đất nước đang trong hoàn cảnh “nghìn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh “Bảo tồn cổ tích” ngày 23-11-1945, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người đối với bảo tàng và di sản nói chung của dân tộc. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sau khi thành lập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ngày 3-9-1958, trên cở sở kế thừa Bảo tàng Louis Finot, là sự ra đời của hàng loạt các bảo tàng chuyên ngành và các bảo tàng khảo cứu địa phương. Ở miền Nam, do điều kiện chiến tranh, công tác này tương đối còn non trẻ. Dù vậy, ở Long An, ngay từ sau năm 1975, công tác này đã được tỉnh quan tâm với bộ phận Bảo tồn-bảo tàng ra đời vào tháng 10-1976, thuộc Phòng Văn hóa-Thư viện, Ty Văn hóa-Thông tin. Ngày 27-4-1985, Bảo tàng tỉnh Long An được thành lập theo Quyết định số 866/QĐ-UB.85 của UBND tỉnh Long An, địa điểm trưng bày đặt tại 10 A Quốc lộ I- trụ sở của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh bàn giao lại, chính thức mở cửa phục vụ ngày 30-4-1985, nhân kỷ niệm 10 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

 

Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Bảo tàng Long An, năm 1985


        Nhắc qua lịch sử bảo tàng nói chung, nước ta nói riêng để thấy rằng chặng đường 25 năm của Bảo tàng Long An thật là một quãng thời gian ngắn ngủi đối với một bảo tàng. Từ khởi đầu với cơ sở vật chất nghèo nàn, số lượng tài liệu hiện vật khiêm tốn và đội ngũ cán bộ còn hạn chế, nhờ sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, sự đầu tư, đào tạo của ngành văn hóa và sự hỗ trợ của các ngành hữu quan, địa phương cơ sở và nhân dân, đến nay, Bảo tàng đã lưu giữ được hàng chục ngàn hiện vật, trong đó có những sưu tập hiện vật có giá trị, quí hiếm, không những đối với tỉnh nhà mà còn là bảo vật quốc gia, có ý nghĩa quốc tế; có hệ thống trưng bày tương đối hoàn chỉnh để phục vụ tham quan, tìm hiểu; có đội ngũ cán bộ, chuyên viên ngày càng được nâng lên để dần đáp ứng yêu cầu mới của ngành. Nhờ sự chỉ đạo sát sao của tỉnh, hướng dẫn của Cục Di sản văn hóa và hệ thống pháp lý ngày càng hoàn chỉnh, hoạt động của ngành ngày càng đi vào chính qui và có định hướng. Công tác bảo tồn, đến nay đã đề nghị xếp hạng 84 di tích, trong đó có 16 di tích quốc gia. Nhiều di tích đã được trùng tu, chống xuống cấp. Công tác bảo tàng, hệ thống trưng bày dù còn hạn chế về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cũng như một số nội dung nhưng cũng đã cơ bản giới thiệu được chiều dài từ thời tiền sử, sơ sử đến lịch sử tỉnh nhà. Công tác khảo cổ, với những kết quả rất đáng ghi nhận trong việc phối hợp khai quật, nghiên cứu, xuất bản, công bố trên diễn đàn khoa học…, đã góp phần làm sáng tỏ diện mạo văn hóa Tiền sử và Óc Eo ở Long An và phía Nam Tổ quốc-vốn là nền văn hóa cổ quan trọng, cấu thành văn hóa truyền thống địa phương cả cho cả nước. Từ năm 2005, Bảo tàng còn phụ trách thêm mảng “bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể’, với nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội, nghề truyền thống… Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực của mình với các tổ chức, cá nhân từ những quốc gia tiên tiến như Đức, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc… cũng là mặt ghi nhận. Từ năm 1992, ICOM quyết định chọn một chủ đề cụ thể cho Ngày Quốc tế Bảo tàng như "Bảo tàng và Môi trường" (1992), "Bảo tàng và thế hệ trẻ" (2006), "Bảo tàng và Di sản Universal" (2007), "Bảo tàng như là đại lý của xã hội thay đổi và phát triển" (2008), "Bảo tàng và Du lịch" (2009), và năm 2010 là “Bảo tàng vì sự hài hòa của xã hội”. Trong ý nghĩa và định hướng ấy, với điều kiện và khả năng cụ thể của mình, Bảo tàng những năm gần đây đã có những cố gắng và nỗ lực nhằm đưa bảo tàng đến với cộng đồng, xã hội, thông qua công tác trưng bày lưu động. Bên cạnh thiết kế, dàn dựng các cuộc triển lãm chuyên đề như “ Bác Hồ với văn hóa Việt Nam”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Việt nam lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước”, “Quân đội nhân dân Việt Nam và Lực lượng vũ trang Long An”, “1000 năm Thăng Long – Hà Nội”… hướng đến đối tượng thế hệ trẻ, học sinh, cuộc triển lãm hướng đến cộng đồng đáng chú ý là cùng với một số bảo tàng lớn trong nước phối hợp cùng Bảo tàng Nghệ thuật Houston và Hội Châu Á tổ chức cuộc triển lãm “Nghệ thuật cổ Việt Nam-Từ châu thổ ra biển lớn” tại Hoa Kỳ năm 2009-2010, thu hút đông đảo khách tham quan thế giới. Qua đó, di sản và hình ảnh của địa phương được giới thiệu và quảng bá đến với cộng đồng, quốc tế. Với những kết quả ấy, Bảo tàng ngày càng nhận được quan tâm của cộng đồng và xã hội. Nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, chuyên gia quốc tế, khách tham quan đã để lại nhiều ý kiến và đóng góp sâu sắc.

 

Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Bảo tàng Long An, năm 2010


        Sự quan tâm ấy thật ý nghĩa đối với người làm công tác bảo tàng. Đó vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức. Vì so với tiềm năng di sản văn hóa của địa phương cần phát huy, giới thiệu và quảng bá, những kết quả đạt được, cũng như mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của ngành là còn hạn chế. Xác định bảo tàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, chúng tôi ý thức rằng bên cạnh cần nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu mới, nhất là công tác phục vụ, thuyết minh, hiện đại hóa trưng bày, ứng dụng công nghệ hiện đại vào việc bảo quản hiện vật, bảo tồn di tích… là những đóng góp nhiều mặt của cộng đồng xã hội./.

    Bài và ảnh

Nguyễn Tấn Quốc

            

31/10/2011 1:58 SAĐã ban hànhApproved
THẠNH HÓA TỔ CHỨC LIÊN HOAN “TIẾNG HÁT VÙNG BIÊN”THẠNH HÓA TỔ CHỨC LIÊN HOAN “TIẾNG HÁT VÙNG BIÊN”

Liên hoan "Tiếng hát vùng biên" lần thứ nhất năm 2017 vừa được huyện Thạnh Hóa tổ chức tại xã biên giới Thuận Bình. Đây là hoạt động văn nghệ quần chúng do Phòng Văn hóa và Thông tin phối hợp cùng Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Ủy ban nhân dân hai xã Tân Hiệp và Thuận Bình tổ chức.

LienHoanTiengHat ThanhHoa 2017 01.jpg 

Có gần 30 tiết mục của nhân dân, lực lượng vũ trang, công chức, viên chức trên địa bàn 2 xã biên giới tham gia.

Đây cũng là một trong những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra trên địa bàn huyện theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo Thông tin đối ngoại trỉnh Long An và thiết thực chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khuyến khích các hoạt động văn nghệ quần chúng ở cơ sở.

Ban Tổ chức đã trao 16 giải thưởng cho các cá nhân thể hiện tốt tác phẩm dự thi lần này. Toàn bộ kinh phí tổ chức Liên hoan được trích từ nguồn kinh phí thông tin đối ngoại của Phòng Văn hóa và Thông tin./.

                                                                                 Tin, ảnh: Phú Nhuận

Phòng VH và TT huyện Thạnh Hóa.

20/06/2017 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Liên hoan "Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông": "Thương hiệu" của đất Chín Rồng Liên hoan "Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông": "Thương hiệu" của đất Chín Rồng
Nhân sự kiện lễ giỗ lần thứ 84 cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, tối ngày 26-11-2013, Liên hoan “Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông” lần thứ XIV năm 2013 do Cục Văn hóa cơ sở - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức đã khai mạc tại Khu di tích cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc ở thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Huỳnh Vĩnh Ái đã đến dự.

3.JPG

 Tiết mục văn nghệ chào mừng lễ khai mạc liên hoan của Đoàn Văn công Đồng Tháp

Tham dự liên hoan có 13 Đoàn Nghệ thuật Quần chúng thuộc Trung tâm Văn hóa các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Trường Đại học Cần thơ. Với chủ đề xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, mỗi đơn vị sẽ dự thi một chương trình tổng hợp gồm ca, múa, tiểu phẩm…trong thời lượng 25-30 phút. Riêng Đoàn Nghệ thuật Quần chúng  Trung tâm Văn hóa tỉnh Long An tham dự liên hoan với chương trình mang chủ đề “Quê hương ngày mới”; trong đó có các tiêt mục Tốp ca nam “Nắng gió Phương Nam”; Đơn nữ “Cảm xúc quê hương”; Múa “Dòng chảy”; Song ca cổ “Khúc hát tình quê” và Hát múa “Khúc ca Long An ngày mới”.

Liên hoan sẽ diễn ra từ ngày 26 đến 29-11-2013. Đây là dịp để các Đoàn Nghệ thuật Quần chúng gặp gỡ, giao lưu và trao đổi kinh nghiệm; đồng thời phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của người dân. Liên hoan cũng khắc họa những nét văn hóa đặc trưng về đất và người Đồng bằng Sông Cửu Long qua các tiết mục được trình diễn.

Sau lễ khai mạc, Đoàn Nghệ thuật Quần chúng các tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ đã trình diễn những tiết mục tham dự liên hoan.

Nét văn hóa đồng bằng

Vốn là chiếc nôi của nghệ thuật cải lương và đờn ca tài tử, các đơn vị tham gia “Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông” đã không quên mang đến Liên hoan những “đặc sản” ấy. Trong hơn 70 tiết mục đa dạng về thể loại hò vè, hát múa… thì đờn ca tài tử, ca cổ, dân ca có “tần suất” xuất hiện khá nhiều. Nhắc đến đờn ca tài tử cải lương, nhiều người sẽ nghĩ đến câu “nhất Bạc Liêu, nhì Cần Đước”. Và trong Liên hoan, Đoàn Nghệ thuật Quần Chúng tỉnh Bạc Liêu đã mang đến cho khán giả một phong cách biểu diễn “rất Bạc Liêu” qua các tiết mục mang chủ đề “Trên quê hương đờn ca tài tử”. Mở đầu chương trình của Đoàn Bạc Liêu là tiết mục múa “Cảm hứng đêm trăng” như tái hiện lại bức tranh cuộc sống thường nhật. Trong buổi trăng thanh gió mát, trên chiếc xuồng nhỏ, một tiếng đàn kìm réo rắc vang lên tạo cảm hứng đờn ca, hát xướng cho những đôi nam thanh nữ tú. Nhưng ấn tượng hơn cả là bài hát “Đêm gành hào nghe điệu hoài lang” gợi người xem nhớ lại cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu.

Tự hào là nơi nhạc sư Nguyễn Quang Đại đã khai sinh ra bộ môn đờn ca tài tử và sau này phát triển thành nghệ thuật cải lương, Trần Minh và Mỹ Linh đã trình bày một tiết mục ca cổ với tựa đề “Khúc hát tình quê”. Bài hát như thay lời giới thiệu với khán giả về đất Long An - nơi có những vườn thanh long tươi tốt ở xứ Châu Thành. Ngoài ra, Đoàn Nghệ thuật Quần chúng tỉnh Long An còn tái hiện lại cuộc sống người phương Nam qua tiết mục “Nắng gió Phương Nam”. Vẫn chiếc áo bà ba truyền thống, những diễn viên múa đã tái hiện công cuộc chinh phục mảnh đất “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh” của người Phương Nam. Ngôn ngữ múa cùng ngôn ngữ hát kết hợp hài hòa và giúp khán giả hiểu hơn về những đặc trưng, đặc sản phương Nam với “tình anh bán chiếu, thơ ông đồ, hò sử sang sê cống cô liêu”. Đặc biệt, về Phương Nam “ngắm con sông dài, ngắm lục bình trôi, nghe bìm bịp kêu nước ròng nước lớn”.

Nhìn chung, đến với Liên hoan, mỗi đơn vị đều “trình làng” những đặc sắc văn hóa vùng miền giống như lời Nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn – Chủ tịch Hội đồng Giám khảo đã nhận xét “chỉ cần nhìn đạo cụ, trang phục và điệu múa là có thể biết đó là của đơn vị nào”. Đó là điệu múa Apsara tượng trưng cho những mái đền cong vút của người Khmer trong tiết mục Tốp ca “Tình anh em quê tôi” của đơn vị tỉnh An giang; hay Múa lễ Cúng trăng của người Khmer ở Sóc Trăng và câu hò Đồng Tháp trên đất sen hồng…

Nhịp sống mới

Không chỉ mang đến cho người xem những đặc trưng đậm đà phong cách vùng miền, những tiết mục tham gia liên hoan đều hướng đến “xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới”. Bên cạnh những ca khúc ca ngợi Đảng, Bác Hồ và công ơn cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, các đoàn đã xây dựng một vài tiểu phẩm xoay quanh chủ đề xây dựng nông thôn mới. Tiểu phẩm “Tờ di chúc” của Đoàn Nghệ thuật Quần chúng tỉnh Bạc Liêu đã để lại nhiều ấn tượng khi xem. Bởi, “Tờ di chúc” không đơn thuần là một tiết mục nghệ thuật phục vụ nhu cầu hưởng thụ đời sống tinh thần mà đó còn là một hình thức tuyên truyền nhẹ nhàng, sâu sắc. Qua tiểu phẩm, người xem sẽ không còn những suy nghĩ lệch lạch như nhân vật Cô Bảy, Chú 6 khi chỉ nghĩ đến lợi ích riêng và trông chờ vào tiền đền bù từ những địa điểm được chọn làm nơi xây dựng những công trình. Ngược với những suy nghĩ cá nhân ấy là sự chung vai góp sức của Má 5, Cô 9 và Bé Nhi trong quá trình dựng xây nông thôn mới ở địa phương.​

Dù thể hiện bằng nhiều thể loại khác nhau nhưng tất cả lời ca tiếng hát ấy đều là khúc “khải hoàn” trước những đổi thay của vùng đất Chín Rồng. Đó là một Hậu Giang trẻ trung đã gầy dựng thế đứng vững vàng bên bờ Tây Sông Hậu. Cùng với Hậu Giang, các sinh viên Trường Đại học Cần Thơ cũng thể hiện niềm tự hào quê hương bằng lời ca tiếng hát. Niềm tự hào này là những hình ảnh thật giản đơn nhưng gắn với cuộc sống như cánh đồng lúa bạt ngàn, sông rạch chằng chịt, những mương vườn quanh năm xanh tốt, bốn mùa hoa trái xum xuê. Quê hương ấy còn là chiếc nôi của điệu hò, câu lý; của những chàng trai cô gái “đẹp như hoa hồng – cứng hơn sắt thép”. Nhịp sống hối hả, nhộn nhịp trong ngày mới còn được chuyển tải qua những tiết mục múa “Dòng chảy”, “Nhịp điệu nông thôn mới”…

Đến với Liên hoan, dù không là đội ngũ chuyên nghiệp nhưng các Đội Nghệ thuật Quần chúng đã thể hiện tinh thần lao động nghệ thuật nhiệt tình. Nhận xét về liên hoan, Nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn cho biết: “Các tiết mục đều đúng chủ đề và được thể hiện bằng nhiều thể loại đa dạng. Đạo cụ, hòa âm phối khí, trang phục… đều hài hòa. Đặc biệt, tình anh em các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm.. cũng được thể hiện qua các tiết mục. Chất liệu dân gian được khai thác cùng với tính hiện đại tạo nên những nét văn hóa tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc”.

Sau 3 đêm diễn ra trên đất sen hồng Đồng Tháp, Liên hoan “Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông” đã khép lại. Không riêng gì liên hoan lần thứ XIV này, suốt 28 năm qua, Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông đã trở thành “Thương hiệu” của đất Chín Rồng khi tất cả nét văn hóa, đặc trưng vùng miền và nhịp sống mới của đồng bằng sông Cửu Long đều được thể hiện qua các tiết mục tham gia liên hoan..

Kết thúc Liên hoan, Ban Tổ chức trao 30 Huy chương vàng, 35 Huy chương bạc cho các tiết mục đạt giải. Trong đó, Đoàn Nghệ thuật Quần chúng Long An có 2 tiết mục đạt huy chương vàng gồm Tốp ca “Nắng gió Phương Nam”, Đơn ca “Cảm xúc quê hương”. Tiết mục Song ca cổ “Khúc hát tình quê” và hát múa “Khúc ca Long An ngày mới” đạt huy chương bạc.

                                                                      Bài, ành: THÙY HƯƠNG

 




22/10/2014 3:00 CHĐã ban hànhApproved
PHỤ NỮ XÃ TÂN LẬP TÍCH CỰC THAM GIA DUY TRÌ VÀ NÂNG CHẤT XÃ ĐẠT CHUẨN VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI PHỤ NỮ XÃ TÂN LẬP TÍCH CỰC THAM GIA DUY TRÌ VÀ NÂNG CHẤT XÃ ĐẠT CHUẨN VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI

Cùng với việc thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua, thời gian qua, Hội Phụ nữ xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh đã tích cực tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn văn hóa (VH) và xây dựng xã nông thôn mới (NTM). Những kết quả đạt được của phụ nữ xã Tân Lập đã góp phần quan trọng cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM.

Bà Phan Thị Mai, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Tân Lập cho biết: Bên cạnh việc thực hiện các phong trào thi đua và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức Hội, thời gian qua, phụ nữ xã đã tích cực, chủ động tham gia cùng với địa phương duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

14-10-2019 Mô hình phân loại rác tại nguồn của Hội phụ nữ xã Tân Lập.jpg

Mô hình phân loại rác tại nguồn của Hội phụ nữ xã Tân Lập

Để làm tốt nhiệm vụ này, Hội Phụ nữ xã đã đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho hội viên. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình hành động của tổ chức Hội, thu hút 100% cán bộ, trên 90% hội viên tham gia. Hội Phụ nữ xã phối hợp các ban, ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến các văn bản pháp luật cho cán bộ, hội viên, nhất là những bộ luật có liên quan đến phụ nữ, trẻ em như: Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân gia đình; phối hợp tuyên truyền phòng chống các tệ nạn ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em, giáo dục phổ biến Luật An toàn giao thông đường bộ... thu hút 5.994 lượt cán bộ, hội viên tham gia. Nhờ vậy, nhận thức của chị em hội viên không ngừng được nâng cao.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Hội Phụ nữ xã đã tập trung chỉ đạo gắn việc hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm của xã. Cụ thể là phối hợp với Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo xã tiến hành khảo sát, phân loại hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, tìm nguyên nhân nghèo, từ đó giao chỉ tiêu cho từng chi hội giúp phụ nữ nghèo với các biện pháp phù hợp như: Giúp tín chấp cho vay vốn, giúp đỡ ngày công...; kết quả đã giúp thoát nghèo 23 hộ, trong đó có 11 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn xã đến cuối năm 2019 xuống còn 3,7%.

Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, phụ nữ xã Tân Lập đã chủ động tham gia thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm của xã với các phong trào "Phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi", "Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình". Trong sản xuất nông nghiệp, chị em đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào quá trình sản xuất. Nhiều chị em đã mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu kinh tế quả cao. Trong những năm qua mô hình "5 không 3 sạch" có 8 tiêu chí, thực hiện hiệu quả theo từng tiêu chí, duy trì tiêu chí 3 sạch "phân loại rác tại nguồn", "tổ phụ nữ không có con em bỏ học và suy dinh dưỡng", phát huy tiêu chí không đói nghèo "nhóm phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế không đói nghèo".

Một trong những việc làm thiết thực nữa của Hội Phụ nữ xã Tân Lập nhằm góp phần thực hiện thành công duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM là vận động chị em hiến đất, tài sản, làm hàng rào, hưởng ứng phong trào ánh sáng an ninh... với tổng trị giá quy đổi thành tiền gần 1 tỷ đồng và 5.141 ngày công. Những tấm gương của các chị đã có sức lan tỏa mạnh mẽ trong việc vận động toàn dân tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM./.

Nguyễn Thị Kim Ngân

14/10/2019 5:00 CHĐã ban hànhApproved
DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANDANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

STT

TÊN DI TÍCH

NỘI DUNG

ĐỊA ĐIỂM

SỐ QUYẾT ĐỊNH; NGÀY CẤP

1

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Nhượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đường thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 

Phường Khánh Hậu, Thành phố Tân An

Số 534QĐ/BT

ngày 11/5/1993

 

2

CHÙA PHƯỚC LÂM

  Chùa Phước Lâm được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu “bánh ít”, có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập điện, Diêm Vương, Thiện Ác, Hộ Pháp, Kim Cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thiếp vàng rực rỡ.

  Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ khá cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái lục hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đều đến chùa lễ Phật.

Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước

 

Số 53/2001-QĐ-BVHTT

ngày 28/12/2001

 

3

NHÀ TRĂM CỘT

  Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: Phần trước là phần nội tự - ngoại khách (trong thờ tự, ngoài tiếp khách), phần sau là phần để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột là một kiến trúc có kiểu thức thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

 

Ấp Trung, xã Long Hựu, huyện Cần Đước

 

Số 2890-VH/QĐ

ngày 27/9/1997

 

4

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

Cụm Nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau. Xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, theo kiểu 3 gian 2 chái. Nhà hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân “ thiên tỉnh” (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và  còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Ấp Thanh Phú, Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành.

 

Số 43/2007/QĐ-BVHTT

ngày 03/08/2007

 

5

ĐÌNH VĨNH PHONG

Đình Vĩnh Phong được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

            Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

 

Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa

 

Số 1811/1998-QĐ-BVHTT

ngày31/8/1998

 

6

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn bởi vì đó là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm:  ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông.

Nhà và lò gạch Võ Công Tồn còn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mạng cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930 - 1945). Nhà Võ Công Tồn là nơi ghi dấu một số hoạt động của nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, nhà và lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

 

Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức

 

Số 02/2004/QĐ-BVHTT

ngày 19/01/2004

 

7

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 12 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 2 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm và Thuận Thành.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở nơi đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ - Ngụy (1966-1967).

 

Ấp I, xã Long Hòa, huyện Cần Đước

 

Số 1460-QĐ/VH

ngày 28/06/1996

 

8

VÀM NHỰT TẢO

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L’Esperance của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: “Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang”. Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: “Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

 

Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ

 

Số 1460-QĐ/VH

ngày 28/06/1996

 

9

CHÙA TÔN THẠNH

Chùa Tôn Thạnh ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808. Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người “dân ấp dân lân”, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: “Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”.

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh “rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng” như xưa. Tuy nhiên, chùa Tôn Thạnh vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX, và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thiếp vàng. Bên phải chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Từ năm 2003 đến nay, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến theo lối kiến trúc cổ truyền.

 

Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc

 

Số 2890-VH/QĐ

ngày 27/9/1997

 

10

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hi Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Ông sinh ngày 28/5 Đinh Hợi tức 21/7/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn tỏ ra là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/8/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông. Chính mảnh đất này đã bảo lưu những truyền thống tốt đẹp của cha ông truyền lại cho Nguyễn Thông. Di tích gợi ta nhớ về nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông - người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

 

Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành.

 

Số 04/2001-QĐ-BVHTT

ngày 19/01/2001

 

11

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

Di tích Bình Thành còn được gọi là Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

 

Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ

 

Số 42/2007/QĐ-BVHTT,

ngày 03/8/2007

 

12

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/6/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng 7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 4/6/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn,  thể hiện lòng tin của nhân dân lao động đối với sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

 

Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa

 

Số 1570-VH/QĐ

ngày 05/9/1989

 

13

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN KHÁNG CHIẾN – HÀNH CHÁNH NAM BỘ (1946 – 1949)

                                                                       

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến - hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

 

Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh

Số 42/2007/QĐ-BVHTT,

ngày 03/8/2007

 

14

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

Ngày 06/3/1930, đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật tại nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ để thành lập nên chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn.

Chi bộ ra Nghị quyết: “Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy”. Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng ba tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

 

Ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa

 

Số 3827/QĐ/BVHTTDL, ngày 31/10/2013

 

15

RẠCH NÚI

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ lại không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khắc với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - văn hóa – nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên Đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu.

Ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc

Số 38/1999-QĐBVHTT

ngày 11/6/1999

 

16

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

 

Khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thành phốTân An. Cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn đông nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

 

Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa

Số 1570-VH/QĐ

ngày 05/9/1989

 

17

GÒ Ô CHÙA

 

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc - 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày, chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến hai ngàn năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu vừa qua, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa.  Họ đã có mối giao lưu  với thế giới bên ngoài  như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1000 năm trước công nguyên đến 1000 năm sau công nguyên.

 

ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng

Số 02/2004/QD0-BVHTT,

ngày 19/01/2004

 

18

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

 

 

Là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hóa dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, thuộc thời kỳ tiền sử. Tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ: 15.106m2.

 

Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa

Số 324/QĐ-BVHTTDL,

ngày 26/01/2011

 

Bài: Phạm Thị Thúy Hồng
Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
 

06/11/2014 1:31 SAĐã ban hànhApproved
Sự thật về khối đá nổi ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần ĐướcSự thật về khối đá nổi ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước

Thực hiện chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Long An phối hợp cùng Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa tiến hành khảo sát hiện trường và khối đá nổi tại xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Kết quả khảo sát như sau:

Khối đá nổi được ông Bùi Hiền Hòa phát hiện trong lúc neo đậu ghe tại bến ấp Chợ, xã Long Hựu Đông vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 12/01/2018. Lúc này, khối đá nằm ngang, nổi nhô cao khỏi mặt nước khoảng 10cm, được người dân đưa vào bờ và đặt ở trước sân Chùa Ông (ấp Chợ) đối diện và cách nơi phát hiện khoảng 20m. Khối đá có hình dạng khối tam giác vuông gần cân, chiều dài 2 cạnh góc vuông 105cm và 110cm, cạnh huyền 160 cm, độ dày 60 cm.

Theo nhận định của Bảo tàng Long An, đây là loại đá bọt biển (gọi theo dân gian), tên khoa học là Spongilit. Sở dĩ, đá có tên Spongilit là vì thành phần của đá gồm tàn tích hữu cơ (tàn tích động - thực vật biển) và chủ yếu là những bọt biển silic (spicule silicon sponges). Đây là loại đá trầm tích nhẹ, xám trắng, hạt mịn, thủng tổ ong trông như đá sa thạch[1] (ảnh 1, 2, 3, 4). Kết cấu hơi xốp, có dày đặt lỗ thủng tổ ong (đa số lỗ hình tròn rỗng kín) chứa không khí (ảnh 5). Vừa có trọng lượng nhẹ và chứa khí là nguyên nhân chính làm cho khối đá có thể nổi trên nước.

16-01-2018 Ảnh 1,2,3,4 hon da noi - Copy.jpg

Ảnh 1, 2, 3: Các mặt của khối đá nổi Long Hựu Đông

16-01-2018 Ảnh 1,2,3,4 hon da noi.jpg

Ảnh 4: Đá sa thạch, loại đá trông giống khối đá nổi Long Hựu Đông

16-01-2018 Ảnh 5 mau da noi.jpg

Ảnh 5: Mẫu mảnh vỡ bên trong của khối đá nổi với nhiều lỗ thủng tổ ong

Đây là loại đá bình thường, không có giá trị vật chất nhưng có giá trị nghiên cứu về khoa học địa chất. Loại đá này phổ biến nhiều nơi trên thế giới. Tại xã Bình Phú, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, năm 2012, người dân cũng từng phát hiện viên đá loại này, nặng 16kg. Tuy nhiên, vì đây là viên đá nổi đầu tiên được phát hiện tại Long Hựu Đông nên thu hút sự khám phá tìm hiểu của đông đảo nhân dân, trong đó, một số ít người dân còn thêm phần thêu dệt về khối đá cho ly kỳ.

Theo nguyện vọng của người dân và tinh thần cuộc họp ngày 14/01/2018 của UBND huyện Cần Đước, UBND xã Long Hựu Đông, trước mắt, UBND huyện bàn giao khối đá này cho Chùa Ông bảo quản, phục vụ nhân dân tham quan tìm hiểu./.

Nguyễn Phương Thảo (Bảo tàng Long An)



[1]. Tài liệu tham khảo: Bella KESHELAVA, George TATARASHVILI, Rajden SKHVITARIDZE (Kiriak Zavriev Institute of Structural Mechanics and Earthquake Engineering, M.Aleksidze str.8, 0193, Tbilisi, Georgia), George TSINTSKALADZE (Institute of Physical and Organic Chemistry named after P.Melikishvili, Jiqia str. 5, 0186, Tbilisi, Georgia), 2010, UTILIZATION OF NATURAL RAW MATERIALS OF GEORGIA IN CONCRETE TECHNOLOGY,  NANOCON'10 (international conference held in Olomouc on the 12th – 14th October 2010 and organized by the Czech Society for New Materials and Technologies) .

17/01/2018 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Thị trấn Tân Hưng với hoạt động văn hóa - thông tin cơ sởThị trấn Tân Hưng với hoạt động văn hóa - thông tin cơ sở

Là đơn vị luôn dẫn đầu thi đua hoạt động văn hóa thông tin cơ sở nhiều năm liền của ngành văn hóa và thông tin huyện Tân Hưng, riêng trong năm 2016 thị trấn Tân Hưng được huyện chọn đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong hoạt động văn hóa và thông tin cơ sở.

Với thuận lợi cơ bản là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện, có 04 khu phố với 1.310 hộ, 5.764 nhân khẩu, nhân dân chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chương trình hỗ trợ cho nhân dân nâng cao đời sống như giải quyết việc làm - giảm nghèo…Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn như: Một bộ phận dân cư từ nơi khác chuyển đến phần đông không có nghề nghiệp, chủ yếu làm thuê nên việc bố trí sắp xếp và quản lý dân cư gặp không ít khó khăn, cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa phục vụ cho nhu cầu tinh thần của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, trật tự an toàn xã hội vẫn còn diễn biến phức tạp, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, đá gà, ma túy, chạy xe lạng lách đánh võng…vẫn còn xảy ra trên địa bàn. Nhưng với sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân thị trấn, trong năm 2016 hoạt động văn hóa - thông tin cơ sở đã đạt những kết quả đáng ghi nhận.

Trên lĩnh vực xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện nâng chất các tiêu chí danh hiệu được công nhận "Thị trấn văn hóa", tiếp tục phát động xây dựng "Thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị", phấn đấu đạt được 25/25 tiêu chí vào năm 2018 để đề nghị Ban Chỉ đạo huyện phúc tra công nhận. Hiện tại cơ bản đã hoàn thành được 17/25 tiêu chí xây dựng thị trấn văn minh đô thị. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng và hiệu quả có nâng lên so với trước. Thị trấn có 4/4 khu phố giữ vững 10 năm liền danh hiệu khu phố văn hóa; 6 cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa (tỉ lệ 100%), có 1.188/1.243 hộ gia đình văn hóa đạt ba năm liên tục giai đoạn 2014 - 2016 (tỷ lệ 95,58%), trong đó có 80 gia đình văn hóa tiêu biểu, 17 cá nhân đạt danh hiệu "Gương người tốt việc tốt". Tổ chức tốt Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, có trên 90% hộ dân tham dự ở các khu phố.

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền cổ động được quan tâm, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Hiện nay, có 05 câu lạc bộ văn nghệ ở 04 khu phố và 01 câu lạc bộ văn nghệ hát với nhau. Ngành văn hóa đã phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, tạo được không khí phấn khởi, sôi nổi, có sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Qua đó, động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân tích cực lao động sản xuất, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Nhân các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước và các sự kiện chính trị của địa phương, thị trấn tổ chức nhiều cuộc biểu diễn, hội thi, giao lưu văn nghệ quần chúng như: Văn nghệ Mừng Đảng - Mừng Xuân; ngày 30/4 ; 1/5; Quốc tế Thiếu nhi, tổ chức kể chuyện về tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức văn nghệ đón tết Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng...Tham gia các cuộc hội diễn, hội thi văn hóa, văn nghệ do huyện tổ chức, cung cấp nhiều cộng tác viên tiêu biểu cho huyện tham gia các phong trào do tỉnh tổ chức, đạt nhiều thứ hạng cao. Vận động nhân dân trên địa bàn thị trấn chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước như treo cờ đầy đủ vào các dịp lễ, tết, tham gia sinh hoạt hội họp ở khu phố nhất là vào Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11.

Phong trào thể dục thể thao được phát triển mạnh mẽ, có nhiều khởi sắc,  hiện có 10 câu lạc bộ thể thao quần chúng ở các khu phố, 01 câu lạc bộ thể thao ở thị trấn. Công tác xã hội hóa luôn được quan tâm, kêu gọi đầu tư của các tập thể, cá nhân. Hiện có 03 sân cỏ nhân tạo được nhân dân tự bỏ vốn ra đầu tư, ở các khu phố đều có sân bóng đá, bóng chuyền, Nhà nước đầu tư các dụng cụ thể dục ngoài trời đặt ở Trung tâm Văn hóa – Thể thao…, từ đó thu hút nhân dân tích cực tham gia tập luyện, rèn luyện sức khỏe nhất là lực lượng thanh thiếu niên…Các câu lạc bộ thể thao thường xuyên duy trì hoạt động, tổ chức thi đấu giao hữu với nhau tạo không khí vui tươi, sôi nổi. Phong trào "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" ngày càng phát triển, theo thống kê hàng năm số người thường xuyên tham gia tập luyện đều cao hơn năm trước. Các loại hình tập luyện phong phú như: Đi bộ, chạy bộ, chạy xe đạp, tập thể dục dưỡng sinh, đánh cầu lông, bóng đá, bóng chuyền…

Công tác quản lý nhà nước về các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa được tăng cường. Toàn thị trấn có 08 điểm kinh doanh karaoke, 08 điểm kinh doanh Internet, 03 hộ kinh doanh trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm, 05 hộ kinh doanh trong lĩnh vực photocoppy, 10 cơ sở lưu trú du lịch. Đội kiểm tra liên ngành của thị trấn thường xuyên tổ chức kiểm tra, đặc biệt tăng cường công tác kiểm tra vào các dịp lễ, tết nhằm tuyên truyền, nhắc nhở bà con nhân dân kinh doanh theo qui định của pháp luật. Nhờ đó, trong thời gian qua trên địa bàn thị trấn không xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục như chưa thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; đám tang còn kéo dài ngày; một bộ phận người dân chưa có ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, còn vứt rác bừa bãi; các hoạt động văn hóa như karaoke di động, nhạc sống chưa đi vào nề nếp còn vi phạm thời gian, gây tiếng ồn lớn ảnh hưởng đến mọi người xung quanh…

Để hoạt động văn hóa - thông tin cơ sở ngày càng đi vào chiều sâu góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn mới theo Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thiết nghĩ cần sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền hơn nữa, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân thông suốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để đồng thuận hưởng ứng thực hiện vì người dân là chủ thể cũng là người hưởng lợi. Tin rằng, với những giải pháp đồng bộ, thị trấn Tân Hưng sẽ trở thành thị trấn văn minh đô thị vào năm 2018 góp phần xây dựng huyện Tân Hưng ngày thêm giàu đẹp./.

Bài: Nguyễn Thị Liễu

 Phòng VH và TT huyện Tân Hưng.

04/05/2017 10:00 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về việc xếp hạng cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế. Di tích hiện tọa lạc tại phường 1, thành phố Tân An, là một công trình kiến trúc cổ đặc thù kiểu Tứ trụ của đình, miếu Nam Bộ có niên đại hơn 103 năm. Đồng thời, trong miếu còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như hệ thống hoành phi, liễn đối, bao lam…được chạm trổ hết sức tinh xảo, công phu vừa có giá trị về mặt nghệ thuật, vừa có giá trị về mặt lịch sử.

18-11-2019 Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế

Di tích lịch sử miếu Quan Thánh Đế còn là chứng tích của quá trình khai phá vùng đất Vũng Gù (Tân An ngày nay) của cộng  đồng cư dân Việt - Hoa. Bởi, sau khi Cù Lao Phố và Mỹ Tho Đại Phố tan rã, một số nhóm người Hoa đã di cư đến sống ở vùng Tân An. Vì đa số người Hoa di cư thường làm nghề kinh doanh buôn bán nên khi đến Tân An họ thường tụ cư ở những trung tâm thương mại, khu vực chợ búa, và cùng với người Việt chiếm đa số chung sức đồng lòng lập phố xá, chợ sầm uất mà nổi tiếng là chợ Hưng Lợi (nay là chợ Phường 1). Bên cạnh đó, khi di - định cư đến Tân An, họ đã xây dựng miếu để làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và đã thu hút đông đảo người Việt đến lễ bái như chính cơ sở tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình trong suốt quá trình cộng cư và giao lưu văn hoá.

Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Thánh Đế Quân tức Đại tướng quân Quan Vũ, một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc được kính ngưỡng về lòng trung nghĩa và chí khí anh hùng. Khi đến định cư ở vùng đất Tân An nói riêng, ở Long An nói chung, người Hoa đã mang nhiều hành trang văn hóa từ những thiết chế xã hội, phong tục tập quán đến các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thánh truyền thống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Ông Bổn… từ quê cha đất tổ đến vùng đất mới lập nghiệp, góp phần cùng các dân tộc anh em khác xây dựng và phát triển nơi đây ngày một trù phú. Một trong những hành trang quý giá ấy chính là tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân mang nhiều nét nổi bật, tiêu biểu cho văn hóa tinh thần người Hoa cũng như  sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa. Khi cộng cư lâu dài với người Việt trên vùng đất mới, tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân của người Hoa dần được người Việt tiếp nhận, thờ tự trang nghiêm thể hiện sự kính ngưỡng đối với phẩm cách chính trực trung nghĩa, cương cường, dũng cảm của Ông, đồng thời tin tưởng Ông sẽ phù hộ cho sự bình an của mọi người, thậm chí thờ Ông như là thần bảo mạng của nam giới trong gia đình. Quan Thánh Đế Quân không chỉ là thần linh được thờ phụng trong gia đình, mà còn là thần linh đặc trưng trong các cơ sở tôn giáo người Việt, được biến thể hóa từ các tôn giáo lớn như: Nho Giáo tôn xưng Ông là Văn Hoành Thánh Đế;  Đạo Giáo tôn xưng Ông là Hiệp Thiên Đại Đế; còn Phật Giáo tôn xưng Ông là Hộ Pháp Già Lam. Đây là một dạng thức tín ngưỡng thể hiện sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng cư dân Việt - Hoa trong quá trình tụ cư, chung sống với nhau như anh em một nhà suốt bao thế kỷ qua và là một nét đẹp trong ứng xử văn hóa, đã làm cho sắc thái văn hóa của vùng đất Long An nói riêng thêm đa dạng và phong phú.

18-11-2019 Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải), Châu Xương (bên trái).jpg

Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải),
Châu Xương (bên trái)

Tìm hiểu về niên đại xây dựng miếu, theo thông tin từ các dòng lạc khoản ghi trên câu đối, hoành phi (Quang Tự nhị thập ngũ niên tuế thứ Kỷ Hợi trọng hạ kiết lập) cho biết kiến trúc hiện trạng và hệ thống tượng thờ, bài vị, các chi tiết trang trí, trống, chuông đồng… có niên đại Quang Tự, năm Kỷ Hợi (1899). Ngoài ra, trên bao lam khám thờ bên phải có khắc năm 1916, đánh dấu cho lần trùng tu miếu.

18-11-2019 Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ.jpg

Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ

Ngôi miếu tọa lạc trên mảnh đất có diện tích 330.8 m2 có bố cục hình chữ tam gồm hậu điện, chính điện và tiền điện với đặc điểm nổi bật là xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ mang nét đặc trưng của đình làng vùng đất Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, điều này cho thấy kiến trúc miếu đã có yếu tố Việt ngay từ những buổi đầu xây dựng.

18-11-2019 Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ.jpg

Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ

Đặc biệt, trong miếu còn thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Hoa qua cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) vốn là hiện vật phổ biến trong các ngôi đình của người Việt, thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu của nền văn hóa Việt, được đặt chung trong khám thờ Quan Thánh Đế Quân.

18-11-2019 Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong bàn thờ Quan Thánh Đế Quân.jpg

Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong
bàn thờ Quan Thánh Đế Quân

Hàng năm, Miếu Quan Thánh Đế diễn ra lễ vía Ông vào các ngày 13 tháng Giêng (Vía chánh), 13 tháng 5 và 24 tháng 6, là nơi đến của đông đảo đồng bào Việt - Hoa ở thành phố Tân An, các hội Miếu Quan Thánh lân cận, thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân địa phương. Tuy ban đầu miếu do người Hoa thành lập nhưng trong quá trình giao thoa văn hóa đã thu hút cộng đồng người Việt đến thắp hương... thể hiện sự giao lưu giữa đời sống tâm linh và cuộc sống hàng ngày của hai tộc người. Trong tâm thức người dân, đây là tiêu biểu cho những giá trị tinh thần tốt đẹp cũng như thể hiện tính bao dung, cởi mở trong tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Việt. Mặt khác, không chỉ là những khách hành hương, người Việt còn nằm trong Ban Quản trị, là ông từ trực tiếp trông coi, sớm chiều hương khói, chung tay góp sức với người Hoa cùng nhau thờ tự, giữ gìn miếu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt - Hoa trên mảnh đất Long An.

Ngày nay, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa lẫn nhau giữa người Việt và người Hoa ngày càng trở nên mạnh mẽ, các yếu tố văn hóa Việt,  văn hóa Hoa tồn tại đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Ví như trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người Việt không phân biệt rạch ròi giữa miếu, miễu và chùa thường gọi lẫn lộn. Trong khi đó, miếu, miễu là nơi thờ Thần, còn chùa là nơi thờ Phật, nhưng đối với Miếu Quan Thánh Đế của người Hoa, người Việt thường gọi là Chùa Ông... Qua đó cho thấy, sự giao lưu văn và tiếp biến hóa giữa người Việt - Hoa được diễn ra một cách hòa hợp vì giữa hai nền văn hóa có nhiều yếu tố tương đồng, giống nhau. Tuy là miếu Hoa nhưng vẫn thấy được văn hóa Việt, đó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Long An nói riêng. Bởi văn hóa là hòa bình, không bao giờ phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay thể chế chính trị - kinh tế - xã hội.

Do đó, việc xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với Miếu Quan Thánh Đế là cần thiết, nhằm bảo tồn và giữ gìn được di sản văn hóa của tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung, góp vào nguồn lực phát triển văn hóa vùng đất Nam Bộ trong hiện tại cũng như trong tương lai./.

Hồng Nhung

25/11/2019 7:00 CHĐã ban hànhApproved
HỘI THI TRƯNG BÀY HOA KIỂNG HUYỆN CẦN ĐƯỚC THU HÚT 155 TÁC PHẨM DỰ THI HỘI THI TRƯNG BÀY HOA KIỂNG HUYỆN CẦN ĐƯỚC THU HÚT 155 TÁC PHẨM DỰ THI

Hội thi trưng bày hoa kiểng huyện Cần Đước mừng Xuân Canh Tý 2020 thu hút 155 tác phẩm dự thi của các nghệ nhân, những người yêu thích, đam mê hoa kiểng đến từ các huyện Bến Lức, Cần Giuộc và Cần Đước.

31-1-2020  Tac pham du thi (3).jpg

Tác phẩm dự thi

Trong 155 tác phẩm dự thi, nhiều nhất là bonsai tiểu cảnh với 44 tác phẩm. Kế đến là đá cảnh, cây khô nghệ thuật, hoa lan và mai vàng. Năm nay số lượng và chất lượng các tác phẩm có phần vượt trội hơn các năm trước. Các tác phẩm được người chơi kiểng đầu tư, chăm sóc kỹ với sự chăm chút và công phu; bonsai với các dáng thế độc đáo, những tác phẩm đá cảnh, cây khô nghệ thuật còn được các nghệ nhân thổi hồn vào đá, vào cây bằng việc đục đẽo một cách kỳ công, tỉ mỉ và tinh tế, làm toát lên cái hồn của từng tác phẩm.

31-1-2020 Trao giai nhat hoi thi trung bay cay kieng.jpg

Ban Tổ chức trao giấy khen cho các đơn vị, cá nhân đạt giải

Ban Tổ chức đã trao giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Cần Đước cho 37 giải nhất, nhì, ba và khuyến khích đối với các nội dung: đá cảnh, hoa lan, cây khô nghệ thuật, tiểu cảnh, bonsai mini, bonsai nhỏ, bonsai trung, bonsai đại và mai vàng. Qua hội thi nhằm chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trồng, chăm sóc hoa kiểng; tạo sự giao lưu, gắn kết giữa các nghệ nhân, những người yêu thích, đam mê hoa kiểng trong và ngoài huyện Cần Đước./.

Cẩm Tú

03/02/2020 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Bến Lức: Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc qua loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử Bến Lức: Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc qua loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử

Với mục tiêu nâng cao đời sống tinh thần cho người dân, những năm qua ngành văn hóa thông tin huyện Bến Lức tăng cường đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ với những loại hình phong phú và đa đạng để phục vụ người dân. Bên cạnh đó ngành luôn chú trọng giữ gìn và phát huy loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử. Đây là loại hình nghệ thuật dân tộc gắn bó với đời sống của người dân, mang nét đặc trưng của người Nam Bộ, mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa dân tộc, thu hút đông đảo hội viên tham gia. Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12/2013.

Hiện tại 15/15 xã, thị trấn trong huyện đều có câu lạc bộ, đội, nhóm đờn ca tài tử, duy trì sinh hoạt định kỳ hàng tuần, tháng, quý, năm. Mỗi câu lạc bộ, đội, nhóm đều có lực lượng nòng cốt từ 10 – 30 người. Đáng kể nhất là các câu lạc bộ, đội, nhóm của các xã Thanh Phú, Thạnh Đức, An Thạnh, Lương Bình, Phước Lợi,… hoạt động mạnh, tham gia giao lưu, hội thi, hội diễn mừng các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị diễn ra tại địa phương. Tiêu biểu như: Đội Đờn ca tài tử ấp 6, xã Thạnh Đức do ông Nguyễn Thành Chí làm Chủ nhiệm, duy trì hoạt động đến nay hơn 40 năm. Hàng tuần, đội tổ chức sinh hoạt định kỳ vào 2 ngày thứ 4 và thứ 7 với 15 thành viên tham gia. Người cao tuổi nhất 76 tuổi và nhỏ tuổi nhất 36 tuổi.

7-6-2018 ong Nguyen Thanh Chi - Chu nhiem Doi Don ca tai tu ap 6 xa Thanh Duc.jpg

Ông Nguyễn Thành Chí, Chủ nhiệm Đội Đờn ca tài tử ấp 6, xã Thạnh Đức

Ông Nguyễn Thành Chí, Chủ nhiệm Đội Đờn ca tài tử ấp 6, xã Thạnh Đức nói: "Không hiểu vì sao hồi nhỏ là tôi đã bắt đầu mê đờn ca tài tử rồi, mà hồi đó ít tân nhạc lắm, ở đồng quê chỉ yêu thích cổ nhạc thôi. Anh em trong đội quý mến nhau lắm, thường xuyên tập hợp lại giao lưu đờn ca vui chơi, chủ yếu là ca vọng cổ các thể loại Nam, Bắc, ca oán và duy trì từ khi hòa bình cho đến nay".

Để phát huy loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử, ngoài duy trì và phát triển những câu lạc bộ, đội, nhóm đờn ca tài tử, hàng năm huyện Bến Lức còn tổ chức các hội thi, đêm giao lưu để các thành viên được cọ sát, rèn luyện tiếng đàn, lời ca thêm điêu luyện. Đó là những nghệ sĩ không chuyên gắn kết với nhau bằng điệu đờn, tiếng hát, là nét đặc trưng trong đời sống tinh thần đầy ý nghĩa giúp xua tan nỗi vất vả sau những ngày làm việc mệt nhọc. Hiện nay, các câu lạc bộ, đội, nhóm đờn ca tài tử trong huyện là nơi tụ họp của những tài tử không chuyên cùng chung sở thích gặp gỡ, học hỏi kinh nghiệm, cùng nhau gìn giữ, phát triển nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ. Từ đó, góp phần thắt chặt tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư và phát huy nét đẹp cho loại hình nghệ thuật này.

7-6-2018 don ca tai tu Ben Luc.jpg

Ông Huỳnh Văn Hải, Phó Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Bến Lức cho biết: "Để nâng cao chất lượng hoạt động của loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử trên địa bàn huyện thì ngoài hoạt động tập trung và tổ chức các cuộc liên hoan, hội thi định kỳ hàng năm, ngành văn hóa thông tin huyện đã phối hợp với Trung tâm Truyền dạy đờn ca tài tử Thành phố Hồ Chí Minh, với nghệ sĩ ưu tú Hoàng Tấn tổ chức một lớp truyền dạy về nghệ thuật ca và đàn để bồi dưỡng cho cộng tác viên của các câu lạc bộ, đội, nhóm trên địa bàn huyện với thời gian là 6 tháng. Từ khi kết thúc lớp học đến nay, qua theo dõi thì chất lượng sinh hoạt của loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử của các câu lạc bộ, đội, nhóm đã có sự chuyển biến rõ nét, các thể điệu nghệ thuật ca và các ngón đờn của cộng tác viên, hội viên thể hiện một cách bài bản và chất lượng hơn".

Bên cạnh đó, hoạt động của các câu lạc bộ cũng đem lại hiệu quả thiết thực, duy trì sinh hoạt định kỳ và tổ chức hoạt động giao lưu, phục vụ nhân các ngày lễ kỷ niệm trong và ngoài huyện. Ngoài ra, ngành văn hóa thông tin huyện còn phối hợp tổ chức các hội diễn, hội thi, liên hoan các loại hình văn hóa văn nghệ như: Liên hoan nghệ thuật quần chúng, Hội thi karaoke công nhân viên chức lao động, Hội thi tiếng hát đồng quê,… Những hoạt động này không những phục vụ nhu cầu văn hóa, văn nghệ của người dân mà còn tạo ra sân chơi cho những người yêu thích và đam mê hoạt động văn hóa văn nghệ, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, cũng như lưu giữ nét đẹp truyền thống của dân tộc./.

Lê Hạnh

11/06/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Phạm Tiến với phong trào khởi nghĩa vũ trang kháng Pháp ở Gia Định nửa cuối thế kỷ XIXPhạm Tiến với phong trào khởi nghĩa vũ trang kháng Pháp ở Gia Định nửa cuối thế kỷ XIX

        Phạm Tiến (Phạm Tuấn Phát) sinh năm 1827 trong một gia đình hào phú, tại thôn Long Phú, huyện Tân Long, phủ Tân Bình (nay thuộc xã Long Phú, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ông là người rộng rãi, trọng nghĩa khinh tài, hay giúp đỡ mọi người nên xa gần đều mến phục.

        Tháng 02/1859, thành Gia Định rơi vào tay Pháp, hưởng ứng li kêu gọi của triều đình, ông đã bỏ gia tài chiêu mộ nghĩa binh, tích trữ lương thực, mua sắm khí giới, phối hợp với Dương Bình Tâm, Trương Định chống giặc ở vùng Thuận Kiều,  Chợ Lớn. Sau trận Đại Đồn, tháng 3/1861, Phạm Tiến về quê nhà chiêu mộ hơn 1000 nghĩa quân, lập căn cứ kháng chiến chống Pháp ở Gò Đen. Ông đã liên kết với Bùi Quang Diệu ở Cần Đước, Trà Quý Bình ở Tân Thạnh (Châu Thành), Nguyễn Trung Trực ở Cửu An (Tân Trụ - Thủ Thừa), Trương Định ở Gò Công...hình thành một thế trận liên hoàn, bao vây, tập kích các đồn lũy của địch buộc chúng phải rút bỏ các đồn binh ở Tân An, Gò Công, Cần Giuộc...lui về co cụm giữ Sài Gòn vào tháng 3/1862.

        Tháng 6/1862, triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất, bán rẻ 3 tỉnh Miền Đông cho Pháp. Để thi hành hòa ước này, triều đình đã hạ lệnh triệt thoái toàn bộ quân đội và quan lại ở 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Trương Định cũng được triều đình thăng chức Lãnh Binh tỉnh An Giang và buộc phải nhanh chóng giải binh, đến nhiệm sở mới. Trước tình thế đó, các nghĩa hào (thủ lĩnh các nhóm nghĩa quân) đều không muốn triệt binh và bàn với nhau rằng :” Quân Tây nhiều lần bị quân ta đánh, nên lấy binh lực bắt triều đình phải giảng hòa, không phải thực lòng đâu. Nay hòa ước đã định, bọn mình không đâu nương tựa, chi bằng ra sức chống đánh, giữ một mảnh đất mà đùm bọc lấy nhau” (Tác phẩm Nguyễn Thông, Lãnh Binh Trương Định truyện, nxb Long An,1984). Tất cả đều đồng lòng đề nghị Trương Định giữ binh quyền để tiếp tục đánh Pháp. Trương Định còn đang do dự, chưa quyết thì Phạm Tiến đến Gò Công mang thư của các nghĩa hào tôn Trương Định làm Bình Tây đại nguyên soái. Thấy mọi người trên dưới một lòng, Trương Định quyết tâm kháng lệnh triều đình, ở lại Gia Định lãnh đạo nghĩa quân chống giặc.

        Từ sau hòa ước Nhâm Tuất, Phạn Tiến trở thành một thủ lĩnh quan trọng trong phong trào kháng chiến của Trương Định, được phong chức Tổng binh, hoạt động mạnh ở khu vực từ vùng thượng Cần Đước trở lên Bến Lức, Đức Hòa. Trong Lãnh Binh Trương Định truyện, Nguyễn Thông có ghi nhận:” ...duy có quân của Định và Tổng binh Phạm Tuấn Phát ở Gò Đen, Bùi Huy Diệu ở Cần Đước và Tuyên phủ sứ Nguyễn Văn Trung ở Tân Thạnh là khá nghiêm chỉnh, cùng Định phối hợp thân thế, cứu ứng lẫn nhau”.

        Đầu năm 1863, Pháp huy động  một đại đội lính Ma Ní, 30 lính Mã Tà, 15 lính thủy đánh bộ, 11 lính thủy, 25 pháo thủ do đại úy Lepes chỉ huy tấn công vào Gò Đen và Cần Đước với ý đồ tiêu diệt các căn cứ của nghĩa quân. Ngày mùng 8 tháng giêng năm Quý Hợi (1863), quân địch tấn công Gò Đen, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Phạm Tiến đã tổ chức hai trận phục kích đánh địch ở nhiều nơi để tiêu hao lực lượng của chúng. Đến ngày 11, địch mới tiến quân đến Cần Đước, ở đây chúng bị nghĩa quân của Đốc binh Bùi Quang Diệu đánh thiệt hại nặng, trên đường rút quân chúng lại bị Phạm Tiến chặn đánh ở Long Phú và Gò Đen nên phải đem tàn quân tháo chạy về Sài Gòn. Vùng căn cứ của nghĩa quân ở Cần Đước, Gò Đen được giữ vững.

        Bên cạnh việc đánh giặc, Phạm Tiến còn cùng với Trương Định xây dựng hệ thống chính quyền kháng chiến từ cấp phủ đến cấp huyện ở Gia Định. Trong báo cáo gởi Cơ mật viện triều Nguyễn ngày 28 tháng 9 năm Tự Đức thứ 16 (1863), Phạm Tiến có viết:” Chúng tôi cùng với Trương Định bàn với nhau, trao cho viên Cử nhân Bùi Tấn và Cù Khắc Kiệm trông coi công việc của huyện Tân Thạnh, Cử nhân Lý Duy Phiên, Hà Mậu Đức, Tú tài Nguyễn Văn Trung chuyên biện công việc của 2 phủ huyện Tân An và Cửu An, Tú tài Huỳnh Văn Đạt và Bùi Văn Lý chuyên biện công việc huyện Tân Long, Tri huyện Đặng Văn Duy chuyên biện công việc phủ huyện Tây Ninh và Quang Hóa, Bát phẩm Lê Quang Bính, Cử nhân Nguyễn Tánh Thiện chuyên biện công việc huyện Tân Hòa, Thân sĩ Hồ Huân Nghiệp, Tú tài Mai Phương Mỹ và Nguyễn Duy Thận chuyên biện công việc phủ huyện Tân Bình, Bình Dương và giao thông với Biên Hòa, Định Tường. Còn các võ viên, cử nhân, tú tài, hương mục binh dân khác cùng một số người Tàu thì chia đặt từng toán để đi đắp lũy, kể từ nửa trên huyện Phước Lộc cùng các hạt Bình Dương, Bình Long, Tân Long đều do chính tôi quản đốc, còn từ nửa dưới huyện Phước Lộc và huyện Cửu An, Tân Thạnh, Tân Hòa thì do Trương Định thống quản. Ai nấy chiếu theo địa hạt mà phòng tiễu, gặp lúc hữu sự thì thông báo cho nhau để cùng tiếp ứng, lúc vô sự thì bảo vệ hương thôn”. Qua tờ tâu, ta có thể thấy rằng Phạm Tiến chính là người lãnh đạo quan trọng nhất của phong trào vũ trang kháng Pháp lúc bấy giờ ở khu vực từ vùng thượng Cần Đước trở lên đến Hóc Môn, Bà Điểm.

        Sau khi Trương Định hy sinh (1864), Phạm Tiến vẫn tiếp tục công cuộc kháng Pháp và thường qua lại chiến đấu ở các huyện Phước Lộc, Tân Long của tỉnh Gia Định. Năm 1867, thực dân Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Triều đình đã triệu một số thủ lĩnh nghĩa quân, trong đó có Phạm Tiến về kinh. Theo lệnh này, Phạm Tiến về yết kiến vua Tự Đức và được bổ nhiệm làm Án sát sứ Nam Định và Hộ vũ sứ Ninh Bình. Vào cuối đời, Phạm Tiến về sống tại làng Nam Trung, một ngôi làng do những người Nam Kỳ sống ở Huế thành lập. Phạm Tiến mất năm 1897, dưới triều vua Thành Thái, hưởng thọ 70 tuổi.

                                                                                              Nguyễn Văn Thiện

14/11/2011 1:19 SAĐã ban hànhApproved
THÀNH PHỐ TÂN AN: TRIỂN KHAI VĂN BẢN PHÁP LUẬT MỚI BAN HÀNH TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA NĂM 2019 THÀNH PHỐ TÂN AN: TRIỂN KHAI VĂN BẢN PHÁP LUẬT MỚI BAN HÀNH TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA NĂM 2019

Vừa qua, Phòng Văn hóa và Thông tin phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị thành phố Tân An tổ chức Hội nghị triển khai văn bản pháp luật mới ban hành trên lĩnh vực văn hóa năm 2019. Đến dự hội nghị có bà Huỳnh Thị Bạch Lan, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Tân An; ông Nguyễn Văn Tâm, Phó Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, báo cáo viên tại hội nghị.

24-10-2019 trien khai van ban phap luat moi ban hanh tren linh vưc VH 2.jpg

Tại hội nghị, các đại biểu đã được nghe triển khai các văn bản quy phạm pháp luật mới trong lĩnh vực văn hóa của Trung ương và địa phương ban hành như: các Nghị định của Chính phủ quy định về hoạt động triển lãm, kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường; Quyết định về việc ban hành quy định quản lý hoạt động nhạc sống trên địa bàn tỉnh Long An; Chỉ thị về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh Long An; hướng dẫn xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính.

24-10-2019 trien khai van ban phap luat moi ban hanh tren linh vưc VH.jpg

Hội nghị tập huấn nhằm trao đổi, tiếp thu, giải đáp những vướng mắc trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước trên các lĩnh vực văn hóa ở các địa phương; giúp cán bộ, công chức cập nhật kịp thời những văn bản mới ban hành, hiểu đúng, đủ văn bản để có cơ sở triển khai đúng quy định. Đồng thời, giúp cán bộ quản lý ngành các cấp gặp gỡ, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm trong kỹ năng xử lý tình huống thực tế./.

Phòng VH và TT thành phố Tân An

25/10/2019 6:00 CHĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​