Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 260551
 
Thông tin Văn Hóa - Chiếu bóng
 
​ Thực hiện Kế hoạch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An về việc tổ chức phục vụ hè 2015 cho đối tượng là thanh thiếu niên, nhi đồng trong tỉnh, Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng Long An đã lập kế hoạch phối hợp với Ban Chỉ đạo hè các địa phương trong tỉnh tổ chức cho các đối tượng nêu trên được xem phim miễn phí vào các ngày thứ Năm ... 
 
​ Thực hiện Kế hoạch của Ban Tổ chức các ngày lễ lớn của tỉnh, căn cứ Quyết định số 2546/QĐ-BVHTTDL ngày 30/7/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và công văn số 564/ĐA-PHP ngày 11/8/2015 của Cục Điện ảnh về việc tổ chức đợt phim kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung tâm Phát hành phim và Chiếu ... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Điện Biên Phủ - Hội nghị Giơnevơ - Văn kiện đảngĐiện Biên Phủ - Hội nghị Giơnevơ - Văn kiện đảng

    Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi một trang vàng vào biên niên sử của Việt Nam trong thế kỷ XX như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn; đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

    Tiếp sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu” năm 1954, nhân dân Việt Nam tiếp tục giành được thắng lợi vẻ vang trong nền ngoại giao cách mạng non trẻ của nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đó là Hiệp định Giơnevơ, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của 3 quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia được ký kết vào ngày 20/7/1954 sau 75 ngày đêm đàm phán gay go, quyết liệt. Đây là thắng lợi của cách mạng Đông Dương nói chung, của Việt Nam nói riêng có ý nghĩa tầm vóc thời đại.

    Hội nghị Giơnevơ là hội nghị quốc tế cấp ngoại trưởng, với sự tham gia của các nước lớn như: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước hữu quan. Phái đoàn Việt Nam do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu, chính thức được mời họp từ ngày 08/5/1954. Lần đầu tiên nền ngoại giao cách mạng Việt Nam bước lên vũ đài quốc tế, tham gia vào một hội nghị đa phương. Hội nghị Giơnevơ đi đôi với trận thắng Điện Biên Phủ đã nêu cao vai trò của nước ta trên trường quốc tế.

    Hiệp định Giơnevơ 1954 là một bước tiến quan trọng, khẳng định khát vọng của Việt Nam về một nền hòa bình gắn liền với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đây là cột mốc lịch sử quan trọng trong cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ của nhân dân ta để giành độc lập tự do.

    Thắng lợi tại Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, khát vọng và yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây là thắng lợi của đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến, đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Thắng lợi ở Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi trong cuộc đấu tranh ngoại giao bằng việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, bằng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bằng nội lực của dân tộc và sự khôn khéo tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới, tạo nên một cơ sở pháp lý cho những cuộc đấu tranh sau này đặc biệt là trong cuộc đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Pari về Việt Nam; là bài học kinh nghiệm mang tính thời sự nóng hổi cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế hiện nay.

    Nhân kỷ niệm 60 năm, ngày Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết (20/7/1954-20/7/2014); Thư viện tỉnh Long An trân trọng giới thiệu đến bạn đọc quyển sách “Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơnevơ – Văn kiện Đảng” của Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp với Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2014; sách dày 651 tr, khổ 16x24cm.

    Nội dung sách gồm ba phần:

    Phần thứ nhất: Trước tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Chiến dịch Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ; gồm các bài viết, bài nói, lời kêu gọi, thư, điện. mệnh lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Chiến dịch Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ.

    Phần thứ hai: Văn kiện của Đảng về kháng chiến và Chiến dịch Điện Biên Phủ, gồm các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Quân ủy và của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chỉ đạo Chiến dịch Điện Biên Phủ từ chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 cho đến ngày toàn thắng.

    Phần thứ ba: Văn kiện của Đảng về Hội nghị Giơnevơ; gồm các báo cáo, phát biểu, kiến nghị, tuyên bố, điện trao đổi, mệnh lệnh, lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và của Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Giơnevơ.

    Phụ lục: Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ, ngày 21/7/1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương, với sự tham gia của đại biểu Cao Miên, Quốc gia Việt Nam, Mỹ, Pháp, Lào, Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Anh và Liên Xô. Phụ bản kèm theo Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam.

    Hiệp định Giơnevơ 1954 có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc là một trong những quốc gia tham dự Hội nghị, Trung Quốc cũng ký kết Hiệp định cam kết tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, điều đó có nghĩa Trung Quốc cũng thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thời gian qua, việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong vòng 75 ngày, cho thấy Trung Quốc đã vi phạm Hiệp định Giơnevơ 1954, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế, tạo cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng và hòa bình an ninh bị đe dọa.

    Trong bối cảnh hiện tại đối với vấn đề Biển Đông, nội dung quyển sách “Điện Biên Phủ, Giơnevơ – Văn kiện Đảng” giúp chúng ta khơi dậy niềm tự hào sâu sắc, tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, không ngừng nâng cao hình ảnh và vị thế của một dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, kiên quyết và kiên trì thực hiện mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng biện pháp hòa bình trên thực địa, bằng chính trị, ngoại giao, bằng thông tin và tuyên truyền để yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, không đưa giàn khoan và các phương tiện khác trở lại vùng biển của Việt Nam.

    60 năm đã qua đi, “Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự  ở Việt Nam” đã đi vào lịch sử, tình hình quốc tế và khu vực đã có nhiều thay đổi, nhưng Hiệp định Giơnevơ, vẫn luôn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

    Sách hiện có tại Thư viện tỉnh Long An; số 26, Trương Công Xưởng, Phường 1, Tp. Tân An, tỉnh Long An.

    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

                                                                                    Bài và ảnh: Trương Thị Lâm

Thư viện Long An

28/07/2014 11:09 SAĐã ban hànhApproved
HỘI THI “RUNG CHUÔNG VÀNG KIẾN THỨC LỊCH SỬ” NĂM 2019 HỘI THI “RUNG CHUÔNG VÀNG KIẾN THỨC LỊCH SỬ” NĂM 2019

Ngày 22/8/2019, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Bến Lức phối hợp với Huyện đoàn, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi "Rung chuông vàng kiến thức lịch sử" năm 2019 cho 100 thí sinh đến từ các trường trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện.

ngay 23-8-2019 ben luc Hoi thi Rung chuong vang tim hieu kien thuc lich su nam 2019 -1.JPG

Tham gia hội thi, các thí sinh trải qua 2 lượt thi, mỗi lượt trả lời 10 câu hỏi, thời gian mỗi câu trả lời là 20 giây với các nội dung: Lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; lịch sử quê hương Bến Lức, các anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng dân tộc, địa danh, khu di tích lịch sử trên địa bàn huyện; các tấm gương anh hùng trong độ tuổi thiêu niên, nhi đồng và cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh,… Với hình thức thi độc lập, loại trực tiếp, các thí sinh tham gia trả lời câu hỏi vào bảng cá nhân với mức độ khó tăng dần. Ngoài ra, các em còn được tham gia phần thi cứu trợ thí sinh, khán giả được thử tài qua phần câu hỏi giao lưu.

Kết thúc hội thi, Ban Tổ chức trao 9 giải thưởng cho các cá nhân xuất sắc nhất đến từ các Trường THCS Nguyễn Trung Trực, Trường THCS-THPT Lương Hòa, Trường THCS Lương Bình và Trường THCS Gò Đen.

ngay 22-8-2019 ben luc Hoi thi Rung chuong vang tim hieu kien thuc lich su nam 2019 - 3.JPG

Hội thi nhằm phát hiện và bồi dưỡng, động viên kịp thời những học sinh có năng khiếu và đạt thành tích cao trong học tập; tạo điều kiện để các em thể hiện khả năng vận dụng, tư duy sáng tạo về những vấn đề, kiến thức trong chương trình và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Qua đó, tạo sân chơi trí tuệ, giải trí cho học sinh, đồng thời tạo điều kiện để học sinh được giao lưu, học tập, nâng cao kiến thức, hiểu biết cho bản thân, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện./.

Việt Hằng  - Thanh Tâm

26/08/2019 11:00 SAĐã ban hànhApproved
Tổ chức Lễ phát động xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa giai đoạn 2017-2019Tổ chức Lễ phát động xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa giai đoạn 2017-2019

Thuận Bình là một xã biên giới phía Bắc huyện Thạnh Hóa, thời gian qua, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (TDĐKXDĐSVH) luôn được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm phát động thực hiện, đã đưa phong trào trở thành cuộc vận động phát triển thực sự đi vào đời sống, được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Diện mạo nông thôn ngày càng được đổi mới theo hướng văn minh, hiện đại. Công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống được tăng cường góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Hộ được công nhận gia đình văn hóa ngày càng tăng, các ấp văn hóa được duy trì và giữ vững; hoạt động giáo dục, y tế, môi trường được cải thiện nâng cao chất lượng. Người dân trong xã nêu cao ý thức về quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia phong trào xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, xã Thuận Bình vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như: Cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng nhưng chưa đồng bộ, các tuyến giao thông và một số trục đường chính chưa được cứng hóa; đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với bình quân chung của tỉnh; các thiết chế văn hóa, thể thao chưa nhiều, trang thiết bị cần thiết chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức các hoạt động sinh hoạt, vui chơi, giải trí cho người dân; tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp.

Le phat dong xay dung xa van hoa Thuan Binh giai doan 2017-2019.jpg

Ban Điều hành xây dựng xã văn hóa ra mắt trong buổi lễ phát động

Với sự nỗ lực, quyết tâm Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Thuận Bình tổ chức phát động xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa giai đoạn 2017-2019. Đến tham dự buổi lễ, Ông Huỳnh Kim Tùng, Phó Chủ tịch UBND huyện, Trưởng ban Chỉ đạo phong trào TDĐKXDĐSVH huyện Thạnh Hóa đã biểu dương tinh thần vượt khó, dám nghĩ, dám làm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã. Đồng thời, để xây dựng xã Thuận Bình đạt chuẩn văn hóa theo lộ trình, ông Tùng đề nghị Ban Chỉ đạo xã cần tập trung quan tâm một số nội dung trọng tâm sau:

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực tham gia thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH, làm cho cán bộ và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng mục đích, nội dung, ý nghĩa thiết thực của phong trào, đặc biệt nắm vững các tiêu chí bình xét công nhận các danh hiệu văn hóa như: Gia đình văn hóa, ấp văn hóa, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa, xã đạt chuẩn văn hóa,… Qua đó phát huy tính tích cực của xã hội, ý thức tự nguyện, tự giác và tinh thần tự chủ trong thực hiện phong trào.

2. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền; sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các ngành đoàn thể trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, trong đó tập trung xây dựng xã đạt các tiêu chí về xây dựng xã văn hóa.

3. Thường xuyên rà soát các tiêu chí, đối chiếu với Quyết định 3182/QĐ-UBND và Công văn 2919/CV-UBND ngày 01/8/2016 của UBND tỉnh về ban hành Quy chế công nhận danh hiệu phong trào TDĐKXDĐSVH và hướng dẫn thang điểm thi đua - khen thưởng phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn tỉnh Long An giai đoạn 2016-2020. Trong đó cần duy trì giữ vững các tiêu chí đã thực hiện tốt, tập trung đối với các tiêu chí chưa đạt, nhất là tiêu chí về đường giao thông, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh, việc đầu tư xây dự trụ sở ấp văn hóa.

4. Kiểm tra về việc giữ gìn cảnh quan môi trường, kênh rạch, khu dân cư tạo môi trường xanh, sạch, đẹp, thông thoáng.

5. Giữ gìn an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra tai, tệ nạn xã hội trên địa bàn, nhất là tệ nạn mại dâm, ma túy, cờ bạc, đá gà, trộm cắp.

6. Hàng năm, cần sơ kết đánh giá đúng thực chất các nội dung tiêu chí phong trào từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu triển khai thực hiện và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn./.

Trương Thị Cúc (Phòng VH và TT Thạnh Hóa)

06/09/2017 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Lễ khánh thành Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ (1946-1949) Lễ khánh thành Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ (1946-1949)

Nhân dịp cả nước chào mừng kỷ niệm 72 năm ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2017) và Quốc khánh Nước CHXHCN (02/9/1945 - 02/9/2017), ngày 19/8/2017, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Long An đã long trọng tổ chức Lễ khánh thành Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ (1946-1949), tại xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.

Đến dự lễ có đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; đồng chí Phạm Văn Rạnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng chí Trần Văn Cần, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; cùng các đồng chí nguyên là lãnh đạo tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố; các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhân dân trên địa bàn huyện Tân Thạnh.

Dong chi Tran Van Can Chu tich UBND tinh phat bieu tai  le khanh thanh khu di tich Can cu Xu uy va UBHCKC Nam bo.jpg

Đồng chí Trần Văn Cần, Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại buổi lễ

Quang canh le khanh thanh khu di tich Can cu Xu uy va UBHCKC Nam bo.jpg

Quang cảnh Lễ khánh thành Khu di tích

Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ (1946-1949) được xem là một trong những công trình trọng điểm về văn hóa - lịch sử của Long An. Di tích được xây dựng từ năm 2013, trên diện tích khoảng 3 hecta, gồm 25 hạng mục công trình; trong đó có 19 hạng mục đã hoàn thành, tiêu biểu là gian nhà trưng bày quá trình hoạt động phong trào kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ và 6 ngôi nhà phục dựng… với tổng kinh phí hơn 129 tỷ đồng.

Nghi thuc cat bang khanh thanh khu di tich Can cu Xu uy va UBHCKC Nam bo.jpg

Nghi thức cắt băng khánh thành Khu di tích

Dong chi Truong Tan Sang trong cay luu niem tai  le khanh thanh khu di tich Can cu Xu uy va UBHCKC Nam bo.jpg

Đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch nước trồng cây
lưu niệm tại Khu di tích

Trong kháng chiến, Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ tọa lạc trên đôi bờ kinh Dương Văn Dương, kinh Năm Ngàn thuộc các xã Tân Hòa, Tân Ninh, Nhơn Ninh, Nhơn Hòa Lập, Hậu Thạnh Đông, Hậu Thạnh Tây thuộc huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. Đây là khu vực trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười và là vị trí mang ý nghĩa chiến lược quân sự vô cùng quan trọng. Sau Cách mạng Tháng Tám, Đồng Tháp Mười đã trở thành căn cứ kháng chiến chống thực dân Pháp trên toàn Nam Bộ.

Dong chi Truong Tan Sang viet so luu niem tai  le khanh thanh khu di tich Can cu Xu uy va UBHCKC Nam bo.jpg

Đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch nước viết sổ lưu niệm
sau khi tham quan nhà trưng bày tại Khu di tích

Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ là một trong ba căn cứ kháng chiến quan trọng ở Nam Bộ. Vùng đất nơi đây đã trở thành biểu tượng trong công cuộc toàn dân kháng chiến, là chỗ dựa chính trị, tinh thần cho sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc. Cũng như là một điểm son chói lọi trong trang sử vàng của lịch sử cách mạng dân tộc, là một minh chứng cho tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta.

Mot goc khu di tich Can cu Xu uy va UBHCKC Nam bo ngay khanh thanh.jpg

Một góc Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính -
Kháng chiến Nam Bộ (1946-1949)

Với những giá trị, ý nghĩa lịch sử, chính trị to lớn như vậy, ngày 03/8/2007, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ban hành Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT xếp hạng di tích cấp quốc gia cho Di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ (1946-1949).

AZID Giàu (Ban QLDTLS-VH)


06/09/2017 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Khánh thành Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ, xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh. Kỳ 2: Những dấu son trên đất bưng biềnKhánh thành Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ, xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh. Kỳ 2: Những dấu son trên đất bưng biền

Đã có rất nhiều sự kiện lịch sử diễn ra trên vùng đất này trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi chỉ xin lược lại vài sự kiện trong những năm "cả Nam bộ đều có mặt ở Đồng Tháp Mười" (1946-1949), qua đó, góp phần làm nên nét đặc trưng lịch sử: Văn hóa kháng chiến bưng biền.

Từ tiếng súng "Cà nông Minh Mạng" đến trận Mộc Hóa đi vào điện ảnh, thơ, nhạc

Tiền sảnh Bảo tàng Long An có đặt một khẩu thần công nhưng ít người biết nó có một hành trình gắn liền với lịch sử vùng đất Đồng Tháp Mười, do Chi đội 14 Vệ quốc đoàn tìm được ở Đốc Vàng (Đồng Tháp) - vùng căn cứ xưa của nghĩa quân Thiên hộ Dương - Đốc binh Kiều, nên các chiến sĩ gọi là "Cà nông Minh Mạng".

Đầu năm 1946, quân Pháp theo sông Vàm Cỏ Tây tiến đánh Mộc Hóa. Đồng chí Trần Văn Trà chỉ đạo Chi đội 14 tổ chức đánh địch tại Vàm rạch Cả Nổ (nay thuộc xã Tân Thành, huyện Mộc Hóa). Khoảng 4 giờ sáng, ngày 16/5/1946, đoàn tàu Pháp khoảng 12 chiếc từ Tân An kéo lên Mộc Hóa lọt vào trận địa, khi dừng lại nhổ sào chướng ngại vật để mở đường, khẩu thần công được lệnh làm nhiệm vụ khai hỏa. Phát duy nhất trúng mục tiêu làm móp tàu, ta đồng loạt nhả đạn. Địch nổ súng loạn xạ, thoát khỏi trận địa về hướng Mộc Hóa. Ta rút lui về kinh Dương Văn Dương an toàn.

Đồng chí Lương - pháo thủ (bộ đội Chi đội 14) hy sinh do bị súng thần công giật trúng người, người dân chôn cất tại chỗ, năm 1978, được quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Mộc Hóa. Khẩu thần công được nhấn chìm tại Vàm Cả Nổ ngay sau trận đánh, sau đó được vớt lên, đưa về binh công xưởng ở xã Tân Hòa (thuộc huyện Tân Thạnh ngày nay) vào cuối năm 1946, rồi chôn giấu sau đình chiến (1954).

Năm 1959, có người chỉ điểm, chính quyền Ngô Đình Diệm đào súng lên, đưa về quận lỵ Kiến Bình, rồi tỉnh lỵ Kiến Tường, đặt tại công viên chỗ đền thờ Đốc binh Kiều, xây bệ hướng nòng súng ra bờ sông Vàm Cỏ Tây. Đầu năm 1978, Ty Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch) tiếp nhận súng, đưa về đặt ở trụ sở UBND tỉnh, sau đó giao Phòng Bảo tồn bảo tàng - Thư viện tỉnh và cuối cùng là Bảo tàng tỉnh lưu giữ cho đến nay.

Sử dụng súng thần công trong thời hiện đại chống xâm lược có lẽ chỉ có ở Đồng Tháp Mười - Long An. Đó là phát súng mở màn 9 năm kháng chiến chống Pháp trên vùng Đồng Tháp Mười anh dũng - và có lẽ cũng là tiếng súng cuối cùng của những khẩu thần công lịch sử.

Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang

.....................................................................

Trận Tháp Mười, trận Mộc Hóa vang tiếng đồn với trận La Bang

(Tiểu đoàn 307, Nguyễn Hữu Trí, phỏng thơ Nguyễn Bính)

Dù rất đỗi quen thuộc nhưng bài hát Tiểu đoàn 307 mỗi khi vang lên luôn lay động lòng người bởi tính tráng ca như một hồi kèn xung trận với những chiến công lẫy lừng Tháp Mười, Mộc Hóa,... Do vị trí trung tâm vùng Đồng Tháp Mười, địch xây đồn Mộc Hóa để án ngữ vùng biên giới Việt Nam - Campuchia, uy hiếp căn cứ Đồng Tháp Mười từ phía Bắc, ngăn chặn hành lang của ta giữa Khu 8 với Khu 7 và Khu 9.

Trước tình hình trên, được sự chấp thuận của Bộ Tư lệnh Khu 8, sau thời gian chuẩn bị, từ ngày 16 đến 18/8/1948, Trung đoàn 120 phối hợp Tiểu đoàn chủ lực 307 và quân, dân địa phương đánh đồn Mộc Hóa theo chiến thuật công đồn (Mộc Hóa) - đả viện (từ lộ Rồ, Campuchia đi xuống và chặn đánh tàu địch từ Tân An theo sông Vàm Cỏ Tây đi lên). Kết quả, ta đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn địch, bắt sống một số tên, trong đó có đồn trưởng Mộc Hóa Louis Bertrand, thu hàng trăm súng các loại.

(Ảnh kỳ 2) Bắt sống đồn trưởng Louis Bertrand  trong trận Mộc Hóa, 1948.jpg

Bắt sống đồn trưởng Louis Bertrand trong trận Mộc Hóa, năm 1948

Trận Mộc Hóa là chiến công đầu tiên mở đầu truyền thống của Tiểu đoàn 307 anh hùng, làm nức lòng quân, dân Khu 8, được cả nước ngợi khen, cổ vũ, đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc ta như là một trong những chiến công tiêu biểu nhất trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và còn là sự kiện khai sinh nền điện ảnh cách mạng bởi những thước phim được quay trực tiếp tại chiến trường và dựng thành bộ phim Trận Mộc Hóa để chúng ta hôm nay được xem những hình ảnh chân thật về trận đánh hào hùng này.

Khu vực Gò Bắc Chiêng diễn ra trận Mộc Hóa nay thuộc thị xã Kiến Tường, được UBND tỉnh Long An xếp hạng Di tích lịch sử tại Quyết định số 1308/QĐ-UB, ngày 29/7/1994.

Nơi diễn ra Đại hội đại biểu Xứ Đảng bộ Nam Bộ lần đầu tiên

Giữa năm 1946, cơ sở bào chế thuốc ra đời ở xã Nhơn Hòa Lập gồm 10 người, vận dụng kiến thức chuyên môn của mình để pha chế thuốc, vận động y, dược sĩ trong ngành cung cấp nguyên liệu bào chế thuốc phục vụ các cơ quan kháng chiến.

Tháng 9/1947, Phòng Bào chế tham dự triển lãm ở Thiên Hộ (thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay) được đánh giá cao. Khi bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng vào chiến khu phụ trách Sở Y tế Nam bộ, Phòng Bào chế phát triển mạnh, phục vụ hiệu quả cuộc kháng chiến. Cũng trong năm 1946, Ban Tuyên truyền Nam bộ (tiền thân của Sở Tuyên truyền Nam bộ) được thành lập do đồng chí Phạm Thiều lãnh đạo. Tháng 10/1946, Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ được thành lập, do đồng chí Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch, đồng chí Phạm Ngọc Thuần giữ chức Phó Chủ tịch.

"Đây! Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến"...!

Những năm 1947-1948, máy thu thanh ở Sài Gòn bỗng dưng bán chạy hơn bởi mọi người kháo nhau rằng, có một đài phát thanh kháng chiến tên là "Tiếng nói Nam bộ" và còn bàn tán xôn xao: "Có đài là có chánh phủ trong bưng", "dựng nổi một cái đài phát thanh như thế, bên kháng chiến phải giỏi lắm, phải mạnh lắm mới làm được...". Ít ai ngờ rằng, đài phát thanh "Tiếng nói Nam bộ" trong những ngày đầu tiên ấy có thể đặt gọn trong một cái rương nhỏ, trên một cái lán bên dưới một đám tràm.

Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bước sang năm thứ 2 trong bối cảnh quân Pháp tăng cường bình định Nam Bộ, việc củng cố niềm tin kháng chiến nhất định thắng lợi trong mọi tầng lớp nhân dân trở thành nhiệm vụ chính trị bức thiết lúc bấy giờ. Sau những nỗ lực vượt qua thử thách trong điều kiện tưởng chừng như không thể, đúng 19 giờ, ngày 01/12/1947, tại một địa điểm ở xã Nhơn Hòa Lập, huyện Mộc Hóa (nay thuộc xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh), Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến chính thức phát sóng buổi đầu tiên.

Sau bản nhạc hiệu là bài Tiến quân ca, Giáo sư Phạm Thiều - Ủy viên Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ, Giám đốc Sở Thông tin Nam bộ trực tiếp phát đi lời hiệu triệu của Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ đến đồng bào tiếng nói cách mạng và kháng chiến chống quân xâm lược Pháp của nhân dân Nam bộ. Tiếp theo là giai điệu hùng tráng của bài Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi, rồi bài nhạc đệm Lên đàng của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước phát xen kẽ giữa các bài bình luận, xã luận, tin trong nước, tin về vùng giải phóng, tin về cuộc đấu tranh của nhân dân vùng bị địch tạm chiếm,...

Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến ra đời đập tan luận điệu tuyên truyền bình định Nam bộ của thực dân Pháp, góp phần tuyên truyền đường lối cách mạng, động viên, cổ vũ tinh thần yêu nước hướng về kháng chiến và củng cố niềm tin thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống Pháp của nhân dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Năm 1948, đài chuyển về U Minh, thuộc Khu 9, sau đó trở lại Tháp Mười năm 1949, rồi cũng trong năm này về lại U Minh lần 2 để hoàn thành sứ mệnh cách mạng khi phát thanh buổi cuối cùng tại thị xã Cà Mau, đúng vào ngày 01/12/1954, sau Hiệp định Giơnevơ.

Ngày 16/10/1947, đồng chí Trần Văn Trà ký quyết định thành lập Tổ Nhiếp ảnh Vệ quốc đoàn Khu 8 tại xã Nhơn Ninh với những cán bộ đầu tiên: Khương Mễ, Mai Lộc, Lê Hưng,..., khai sinh nền điện ảnh cách mạng. Tuy máy móc phim nhựa còn thiếu thốn, khó khăn, anh em theo sát trận địa quay được những thước phim tư liệu quý giá. Sau khi hoàn thành việc dựng phim, đêm 24/12/1948, tại Câu lạc bộ Quân nhân Khu 8 bên bờ kinh Dương Văn Dương, nay thuộc xã Nhơn Hòa Lập, hàng trăm đồng bào ở chiến khu Đồng Tháp Mười lần đầu tiên được xem bộ phim, ghe xuồng chen kín một quãng dài trên dòng kinh Dương Văn Dương. Địa điểm này cũng là nơi tổ chức lễ thụ phong hàm Trung tướng của đồng chí Nguyễn Bình (1948). Tờ báo Tiếng Nói của Xứ ủy cũng ra đời tại xã Nhơn Hòa Lập, góp phần tuyên truyền kháng chiến.

Cuối tháng 7/1948(1), tại địa điểm trên bờ kênh Năm Ngàn, nay thuộc xã Nhơn Ninh, huyện Tân Thạnh (hiện nay là trường Nhơn Ninh A, ấp Tân Chánh B, xã Nhơn Ninh), Đại hội đại biểu Xứ Đảng bộ Nam Bộ lần thứ nhất được triệu tập, do đồng chí Lê Duẩn (được ủy nhiệm thay mặt Ban thường vụ Trung ương Đảng) chủ trì. Đại hội đã bầu Xứ ủy chính thức và trực tiếp bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư Xứ ủy(2). Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đại hội chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ cụ thể của các địa phương Nam Bộ trong giai đoạn chống chiến lược bình định của địch những năm 1948-1950, đồng thời chính thức kết thúc thời kỳ hoạt động lâm thời của Xứ ủy, kéo dài từ cuối 1945./.

Nguyễn Tấn Quốc
(còn tiếp)

(1) Hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về thời gian diễn ra Đại hội này, chúng tôi ghi theo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Long An (1930-2000), Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2005.

(2) Các đồng chí: Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Đức Thuận làm Phó Bí thư; Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Ung Văn Khiêm, Hoàng Dư Khương làm Ủy viên Thường vụ; Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Văn Linh, Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Vịnh, Phan Trọng Tuệ, Lê Minh Định làm Xứ ủy viên.

Kỳ cuối: Từ lịch sử đến công trình văn hóa


01/09/2017 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Bảo tàng Long An tham gia triển lãm chuyên đề “Gốm Óc Eo Nam Bộ lần thứ I” tại An GiangBảo tàng Long An tham gia triển lãm chuyên đề “Gốm Óc Eo Nam Bộ lần thứ I” tại An Giang

Được sự cho phép của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An tại Quyết định số 3452/QĐ-UBND ngày 21/9/2017, Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch (Bảo tàng Long An) tham gia Triển lãm chuyên đề "Gốm Óc Eo Nam Bộ lần thứ I năm 2017" tại An Giang.

Triển lãm khai mạc ngày 29/9//2017 tại Ban Quản lý di tích văn hóa Óc Eo, với sự tham gia của các Bảo tàng, Ban Quản lý di tích của 16 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam (Bảo tàng lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Long An, Bảo tàng Cần Thơ, Bảo tàng Bến Tre, Bảo tàng Tây Ninh, Bảo tàng Đồng Nai, Khu di tích Cát Tiên…), gần 1000 hiện vật gốm các loại. Triển lãm chia làm bốn chuyên đề chính là gốm kiến trúc, gốm sản xuất, gốm tôn giáo và gốm dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

 29-9-2017 Cắt băng khai mại triển lãm gốm Óc Eo.jpg

Cắt băng khai mạc triển lãm gốm Óc Eo

Chuyên đề gốm kiến trúc trưng bày những hiện vật kiến trúc đền tháp ở Óc Eo với đủ kiểu, đủ loại gạch ngói, phù điêu.

Chuyên đề gốm sản xuất nói đến những hiện vật gốm có chức năng dùng trong hoạt động sản xuất của cư dân cổ Phù Nam, những hiện vật này còn thể hiện một cách rõ nét nhất nghề dệt vải, chế tác đồ gốm và nghề kim khí. Một số hiện vật tiêu biểu trong chuyên đề này là khuôn đúc, nồi nấu kim loại, bàn mài, bàn xoa, dọi xe sợi, chì lưới…

29-9-2017 Gốm sản xuất (Dọi xe sợi - Bảo tàng Long An).jpg

Gốm sản xuất (Dọi xe sợi - Bảo tàng Long An)

Chuyên đề gốm tôn giáo tuy có số lượng ít nhưng rất độc đáo với các loại bình, bát bồng, các điêu khắc Phật giáo (tượng phật), các điêu khắc Hidu giáo (Linga, Yoni, bò thần Nandi).

29-9-2017 Gốm Tôn giáo (Yoni - Bảo tàng Long An).jpg

Gốm Tôn giáo (Yoni - Bảo tàng Long An)

Chuyên đề cuối cùng là chuyên đề gốm sinh hoạt chiếm số lượng lớn, phong phú và đa dạng về loại hình đồ đun nấu (nồi, ấm…); đồ đựng thức ăn (chén, bát, đĩa, âu…); đồ dùng sinh hoạt (đèn, chân đèn); đồ dựng (bình, vò, hủ, thố…). Ngoài ra, còn có các đồ trang sức như khuyên tai, hạt chuỗi; đồ chơi trẻ em  như bi gốm, gốm ghè.

29-9-2017 Gốm sinh hoạt (Hủ - Bảo tàng Long An).jpg

Gốm sinh hoạt (Hủ - Bảo tàng Long An)

Gốm không chỉ phản ánh vẻ đẹp, mỹ cảm của một cộng đồng, một thời đại mà nó còn phản ánh sự phát triển, phân tầng xã hội, mối giao lưu của chính cộng đồng ấy trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Gốm vừa là sản phẩm hữu dụng trong văn hóa trong một thời đại cụ thể, vừa mang một hơi thở, một thông điệp của một thời đại đã qua, giúp cho hậu thế có thể hiểu được mọi mặt của đời sống xã hội trong quá khứ./.

Thu Vân (Bảo tàng Long An)

09/10/2017 11:00 SAĐã ban hànhApproved
TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020 TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020

Chiều ngày 03/11/2020, Ban Tổ chức cuộc thi đọc sách tìm hiểu "Đức Huệ quê hương tôi" tổ chức trao giải cho 10 cá nhân đạt giải nhất, nhì, ba và khuyến khích; 3 tập thể đạt giải nhất, nhì, ba do có số lượng bài tham gia nhiều và đạt chất lượng nhất tại cuộc thi. Thí sinh Tô Ngọc Thuận đến từ Công đoàn cơ sở (CĐCS) Khối Đảng đã xuất sắc đạt giải nhất cuộc thi.

4-11-2020 Thi sinh To Ngoc Thuan - CDCS dat giau nhat.JPG

Thí sinh Tô Ngọc Thuận, CĐCS Khối Đảng đạt giải nhất (áo dài vàng)

Đây là cuộc thi do Liên đoàn Lao động huyện Đức Huệ phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện tổ chức dành cho tất cả cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện. Qua gần 2 tháng phát động, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được 103 bài dự thi của các công đoàn viên thuộc 27 CĐCS trên địa bàn huyện. Mỗi bài dự thi phải trả lời đầy đủ 10 câu hỏi trắc nghiệm và viết tự luận bằng văn xuôi không quá 2.000 từ. Phần viết tự luận, thí sinh được phép viết tay hoặc đánh máy, trình bày rõ ràng, sạch đẹp, có tranh ảnh, minh họa và những tài liệu dẫn chứng liên quan đến bài thi. Ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện, Trưởng ban Tổ chức cuộc thi cho biết: Theo nhận xét của Ban Tổ chức cuộc thi thì đa số các bài dự thi đều có sự nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin liên quan đến nội dung thi và thể hiện được sự cảm nhận của bản thân về khó khăn của huyện Đức Huệ ngày xưa và sự chuyển mình, phát triển của huyện nhà ngày hôm nay và trong tương lai.

Mục đích của cuộc thi nhằm xây dựng và phát triển phong trào đọc sách trên địa bàn huyện, hướng tới xây dựng một xã hội học tập, một nét đẹp trong đời sống xã hội để tôn vinh giá trị của sách cũng như khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập… Điều quan trọng nhất là thông qua cuộc thi giúp cho cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện nghiên cứu, tìm hiểu sự phát triển của huyện nhà trong thời gian qua, đồng thời thể hiện sự quyết tâm đóng góp sức mình vào công cuộc đổi mới, phát triển của huyện nhà, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Đức Huệ lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025./.

Tiến Anh

04/11/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
XẾP SÁCH NGHỆ THUẬT (Nhân Ngày Sách Việt Nam 21 tháng 4 năm 2017)  XẾP SÁCH NGHỆ THUẬT (Nhân Ngày Sách Việt Nam 21 tháng 4 năm 2017) 

Trong mỗi chúng ta, ai cũng biết "sách là chìa khóa thành công" bởi vì sách khơi nguồn trí tuệ. Với tầm quan trọng ấy, ngày 24/02/2014 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 284/QĐ-TTg về Ngày Sách Việt Nam, nhằm khẳng định vai trò, tầm quan trọng và tôn vinh giá trị của sách. Xây dựng và phát triển phong trào đọc sách, hướng tới xây dựng một xã hội học tập, đây là một nét đẹp trong đời sống xã hội.

XepSachNgheThuat 1.jpg

Xếp sách nghệ thuật tại Thư viện tỉnh

Năm nay, thực hiện Kế hoạch số 53/KH-UBND, ngày 07/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An về việc tổ chức Ngày Sách Việt Nam trên địa bàn tỉnh năm 2017, Thư viện tỉnh Long An đã tham gia tổ chức các hoạt động chào mừng và tuyên truyền Ngày Sách Việt Nam từ ngày 20 đến 25 tháng 4 năm 2017 với chủ đề "Sách với cuộc sống". Các hoạt động Thư viện đã tham gia như: Trưng bày, giới thiệu sách chủ đề nói về Đảng, Bác Hồ, về Hoàng Sa, Trường Sa, sách thiếu nhi và xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các pa-nô tuyên truyền Ngày 21/4, thực hiện các mô hình xếp sách nghệ thuật, tổ chức các hoạt động tương tác cùng sách, các trò chơi có thưởng như đọc sách giải ô chữ, đọc sách trả lời câu hỏi,v.v..

XepSachNgheThuat 2.jpg

Mô hình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

  Trong các hoạt động ấy, ấn tượng nhất là xếp sách nghệ thuật, bởi vì trong cuộc sống có biết bao hình ảnh, biểu tượng đã được sáng tạo như con tàu, bông hoa, lá cờ, bản đồ Việt Nam,… Cứ như vậy, nghệ thuật xếp sách đã được cổ vũ và khen ngợi. Đặc biệt có các mô hình như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khuê Văn Các (Quốc Tử Giám), Chùa Một Cột, Chợ Bến Thành, Bến Nhà Rồng, Đền thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực…Tại tất cả các buổi triển lãm, giao lưu gặp gỡ, các nhân viên Thư viện tỉnh luôn thể hiện các tác phẩm của mình thông qua những cuốn sách, đó là những đứa con tinh thần, những sản phẩm trí tuệ, cứ như thế, nghệ thuật xếp sách ngày càng phát triển.

XepSachNgheThuat 3.jpg

Mô hình Cột móc Đảo Trường Sa

Như chúng ta biết, sách là loại sản phẩm đặc biệt, sách là tri thức cho hôm nay và cho ngày mai. Không có lý gì không phát triển môn nghệ thuật đặc biệt này, là dùng chính những cuốn sách để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo. Vì vậy nhân dịp này, chúng tôi là những người làm công tác lưu trữ và tuyên truyền sách - báo muốn gởi đến mọi người một lời chia sẻ là bạn hãy phát động và kêu gọi tất cả các đối tác, bạn bè, Công ty Sách và Dịch vụ văn hóa, Công ty Sách và Thiết bị trường học, các Nhà sách…cùng tham gia phong trào XẾP SÁCH NGHỆ THUẬT. Chúng tôi đang chờ đợi mọi ý tưởng, cách xếp, kết quả xếp sách nghệ thuật thành công. Thư viện Long An sẽ rất vui và thật sự hạnh phúc khi có nhiều hình ảnh mới lạ, hấp dẫn được các bạn, những người yêu thích sách tạo ra. Đây là một sân chơi mới giúp chúng ta quý trọng sách báo, nâng cao năng khiếu thẩm mỹ và sự khéo léo trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp, công tác, lao động vất vả để kiếm sống… thông qua các chủ đề: Nhà trường, gia đình, di tích lịch sử, văn hóa, tình yêu quê hương đất nước…Có nhiều tác phẩm nghệ thuật đặc sắc được thể hiện như xếp chữ Việt Nam, bản đồ Tổ quốc, biểu tượng hoa sen và các công trình kiến trúc nghệ thuật… chúng ta đã dùng những cuốn sách bìa cứng làm trụ, sắp đặt khéo léo để vừa mô phỏng được dáng hình vừa tạo sự vững chãi của ngọn hải đăng. Kết hợp cùng với cách xếp so le và xếp xoắn tạo vẻ mềm mại, gần gũi mà không thô cứng, sừng sững của ngọn hải đăng. 

XepSachNgheThuat 4.jpg

Mô hình Đền tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

XepSachNgheThuat 5.jpg

Mô hình Bến Nhà Rồng (bên phải)

Chúng tôi hy vọng rằng, mọi người chúng ta nên cùng nhau làm một cái gì đó mang tính nghệ thuật cho cuộc sống của mỗi người thêm tươi đẹp, thêm sắc màu, đồng thời giúp ích cho cộng đồng và xã hội. húng ta nên tạo cho mình niềm đam mê đọc sách, bởi vì "đọc muôn quyển sách, đi muôn ngàn dặm", nếu được như thế thì hạnh phúc luôn luôn đến với chúng ta mãi mãi./.

                                                                                    VIỆT HÙNG

                                                                            Thư viện tỉnh Long An

04/05/2017 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Cần Giuộc tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận Cây di sản Việt Nam Cần Giuộc tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận Cây di sản Việt Nam

Ngày 21/4/2018, Huyện ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN huyện Cần Giuộc tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận Cây di sản Việt Nam – 10 cây me Chùa Rạch Núi, xã Đông Thạnh. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An Hoàng Văn Liên, nguyên lãnh đạo huyện Cần Giuộc qua các thời kỳ, Đảng ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân xã Đông Thạnh cùng tăng ni, phật tử Chùa Rạch Núi đến dự.

Chùa Rạch Núi, nay là Tổ đình Linh Sơn, tọa lạc tại Ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc. Theo Hòa thượng Thích Huệ Bạch - vị sư trụ trì chùa - ngôi cổ tự này ra đời vào năm 1867, tính đến nay đã hơn 150 năm. Đây là nơi nuôi giấu cán bộ trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ, được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp Bằng công nhận Di tích Văn hóa - Lịch sử và Di tích Khảo cổ học, chứa đựng nhiều thông tin quan trọng về một nền văn hóa cổ của lưu vực sông Đồng Nai - Vàm Cỏ. Bao quanh chùa là vô số loại cây như xoài, khế, nhãn, tre già và hàng chục cây me trên dưới 100 năm tuổi, chiều cao từ 18m đến 20m, phủ bóng râm mát quanh năm. Những bóng me cổ thụ tạo cho chùa dáng vẻ uy nghi, trầm mặc và linh thiêng. Năm 2017, huyện Cần Giuộc phối hợp với Hội Sinh vật cảnh tỉnh lập hồ sơ đề nghị và được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam quyết định tặng Bằng công nhận Cây Di sản Việt Nam cho cụm me 10 cây khu vực chùa Rạch Núi.

23-4-2018 TRAO QD CONG NHAN cay di san.jpg

23-4-2018 CAT BANG cay di san.jpg

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cùng lãnh đạo tỉnh, huyện
trao bằng công nhận và thực hiện nghi thức cắt băng khánh thành bia cây di sản

Phát biểu tại buổi lễ, Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc Nguyễn Văn Thiệp cho rằng, việc được công nhận Cây di sản cho 10 cây me của Chùa Rạch Núi là tài sản quý báu không chỉ của xã Đông Thạnh mà còn là của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cần Giuộc. Do đó, cấp ủy, chính quyền địa phương phải ra sức giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử của Di tích Chùa Rạch Núi nói chung và Cây di sản nói riêng. Quan tâm chăm sóc, giữ gìn vệ sinh môi trường, tạo vẻ đẹp cho khuôn viên Chùa, hướng dẫn tăng ni, phật tử, nhân dân trong vùng và khách thập phương tham gia hoạt động tín ngưỡng đúng quy định… từng bước xây dựng Chùa trở thành cơ sở thờ tự văn hóa, là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng gắn với du lịch tâm linh, xứng đáng là một trong 02 di tích cấp quốc gia của huyện./.   

Quốc Nam

27/04/2018 3:00 CHĐã ban hànhApproved
NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC TRONG THỰC HIỆN PHONG TRÀO “TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA”NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC TRONG THỰC HIỆN PHONG TRÀO “TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA”

Trong những năm qua, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" có nhiều tác động tích cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội, các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn thị xã Kiến Tường đã thi đua phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng thiết chế văn hóa và chú trọng đến việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương. Trong phong trào thi đua phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo đã xuất hiện ngày càng nhiều gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh... Nhiều ấp, khu phố đã thực sự khởi sắc, tạo tiền đề quan trọng cho việc đẩy nhanh lộ trình xây dựng nông thôn mới. Việc xây dựng nếp sống văn hóa mới được triển khai rộng trên địa bàn thị xã, đặc biệt là thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Nhiều công trình ra đời từ sự đóng góp tiền của, công sức của nhân dân, góp phần làm cho bức tranh nông thôn ở các xã ngày càng khởi sắc.

PTTDDKXDDSVH 01KT.jpg

Ngày Hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2016 tổ chức tại Phường 3

Xác định gia đình là tế bào, là thiết chế xã hội bền vững để giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, toàn thị xã đã tập trung đẩy mạnh phong trào xây dựng "Gia đình văn hoá". Từ đó, các chuẩn mực đạo đức về gia đình truyền thống được gìn giữ, tình làng nghĩa xóm trên các khu dân cư được củng cố, phát huy góp phần bảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương. Không ít gia đình đã tự nguyện hiến đất, đóng góp tiền, công sức xây dựng đường làng, ngõ xóm khang trang, sạch đẹp, tỷ lệ bê tông hóa đường nông thôn, kiên cố hóa kênh mương nội đồng tăng lên, ... và tích cực tham gia vào việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương.  Năm 2016, toàn thị xã có 10.978/11.306  hộ được công nhận là gia đình văn hóa, chiếm tỷ lệ 97,1% (tăng 0,03% so với năm 2015). Hầu hết các gia đình đã đóng góp tích cực vào công tác khuyến học, khuyến tài của dòng họ, địa phương, từ đó gắn kết giữa giáo dục gia đình với giáo dục ở nhà trường, xã hội.

Phong trào xây dựng ấp, khu phố văn hóa xã, phường văn hóa trên địa bàn được các cấp quan tâm thực hiện. Hiện nay trên địa bàn thị xã có 38/38 ấp, khu phố văn hóa (đạt 100%), có 6/8 xã, phường được công nhận danh hiệu xã, phường văn hóa (Phường 1, Phường 2, xã Thạnh Hưng, xã Bình Tân, xã Tuyên Thạnh và Bình Hiệp), có 2/5 xã đạt danh hiệu "Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới" (Bình Hiệp và Thạnh Hưng). Trong năm 2016, đơn vị Phường 1 và Phường 2 được Ủy ban nhân dân tỉnh phúc tra và ra Quyết định công nhận đạt danh hiệu "Phường đạt chuẩn văn minh đô thị". Đó là kết quả tổng hợp của nhiều phong trào mà cụ thể, chính nhờ sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ngành, đoàn thể và sự tham gia hưởng ứng đông đảo các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự chuyển biến tích cực và rõ nét trên địa bàn dân cư góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng dân cư, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thị xã.

Đặc biệt là lãnh đạo tỉnh, thị xã đã đầu tư kinh phí xây dựng nhiều công trình phục vụ nhân dân như: Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng đồng cấp xã, Nhà Văn hóa - Khu Thể thao ấp, khu phố, trường chuẩn quốc gia, cơ sở hạ tầng giao thông,… Đến nay, thị xã có 08 Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng đồng. Trong đó có 07 Trung tâm Văn hóa  - Thể thao được xây dựng kiên cố, có Hội trường từ 150 đến 200 chỗ ngồi đạt chuẩn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các Trung tâm thường xuyên tổ chức hoạt động và đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, hội họp của nhân dân tại các ấp, khu phố, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, nhằm thực hiện đạt các tiêu chí xã văn hóa. Phong trào xây dựng mô hình xã văn hóa gắn với xây dựng xã nông thôn mới góp phần làm chuyển biến tích cực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là vùng nông thôn được nâng lên; văn hóa, giáo dục, y tế có bước phát triển, an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn; cảnh quan môi trường được cải thiện, tình trạng vứt rác không đúng nơi quy định dần được khắc phục, người dân thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, tình làng nghĩa xóm ngày càng gắn bó hơn.

PTTDDKXDDSVH 02KT.jpg

Tuyên Thạnh được công nhận là xã Văn hóa vào năm 2015

Hưởng ứng cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" gắn với thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", phong trào thể dục thể thao quần chúng ở thị xã Kiến Tường đã có bước phát triển và tiến bộ rõ rệt. Nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của các đối tượng nhân dân từ thiếu niên, nhi đồng đến lớp người cao tuổi ngày càng tăng. Nhiều hình thức tập luyện được các đối tượng nhân dân thực hiện như: Đi bộ, chạy bộ, đá cầu, thể dục dưỡng sinh, bơi lội... Trên địa bàn thị xã hiện có 46 câu lạc bộ văn nghệ, 71 câu lạc bộ thể thao cấp xã, phường, 2.886/11.174 hộ gia đình thể thao, đạt tỷ lệ  25,83% (năm 2015: 25,51%), 13.597/45.764 người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, đạt tỉ lệ 29,71% (năm 2015: 29,3 %).

Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" thực sự trở thành động lực thi đua của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên tất cả các lĩnh vực, Ban Chỉ đạo phong trào từ thị xã đến cơ sở đã tập trung xây dựng kế hoạch và triển khai các nội dung của phong trào một cách cụ thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, đơn vị. Hầu hết các xã, phường đều củng cố Ban Chỉ đạo, ban hành quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm cho từng thành viên, tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng phong trào từng năm và định hướng đến năm 2020. Công tác triển khai thực hiện phong trào luôn có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ban, ngành, thành viên Ban Chỉ đạo từ thị xã đến cơ sở.

Bên cạnh đó, các ban ngành, đoàn thể thị xã cũng đã có những đóng góp hết sức hiệu quả. Đặc biệt, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị xã với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" thực hiện có hiệu quả các mô hình như "Dân vận khéo" gắn với xây dựng nông thôn mới, vận động nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn, cánh đồng  lớn, mô hình khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường. Mô hình hũ gạo tình thương, "Câu lạc bộ Phụ nữ 5 không, 3 sạch", "Câu lạc bộ Phụ nữ không sinh con thứ 3", "Con đường không rác", "Góp xi măng xây nhà tạm" của Hội Phụ nữ. Hội Nông dân phát động phong trào nông dân thi đua sản suất kinh doanh giỏi với các mô hình nuôi cá, nhân giống lúa, trồng màu giúp nhau giảm nghèo, làm giàu chính đáng, mô hình xây dựng quỹ hỗ trợ hội viên thoát nghèo, giúp ngày công lao động, vật liệu xây dựng, tín chấp vay vốn phát triển sản xuất. Mô hình tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp của Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh với phong trào giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, Hội Người cao tuổi với mô hình gây quỹ phụng dưỡng ông, bà, cha mẹ, các mô hình "Tiếng kẻng vùng biên", "Ánh sáng văn minh, an ninh xóm ấp", "Gia đình không có người sang casinô đánh bạc, đá gà", "Hộ gia đình nói không với ma túy", "Phòng, chống tội phạm trộm cắp, cướp, giật tài sản", "Camera giám sát an ninh trật tự", "Cổng phòng, chống tội phạm"... từ phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc" đã nêu cao tính tự quản của nhân dân, tham gia giữ gìn đường biên, cột mốc và an ninh trật tự xóm ấp biên giới. Qua đó, xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu trong việc học tập và làm theo gương Bác, tham gia tích cực các hoạt động vì an sinh xã hội, đóng góp ý kiến, tham gia thực hiện và giám sát các công việc của đảng, chính quyền, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng khu dân cư an toàn, xây dựng ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp.

Đài Truyền thanh thị xã thường xuyên tuyên truyền về công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và phổ biến, giáo dục pháp luật. Duy trì chuyên mục "Pháp luật và đời sống" để tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, những gương điển hình người tốt, việc tốt.

Thành quả của việc triển khai đồng bộ phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đã tạo được sức lan tỏa, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn thị xã. Kết quả đó không chỉ đánh dấu sự chuyển biến tích cực về ý thức cộng đồng mà còn tạo sự "Gắn kết" các gia đình, dòng họ, tôn giáo trong cộng đồng, tạo động lực thúc đẩy người dân thi đua lao động, sản xuất và đó cũng là tiền đề vững chắc để các địa phương tiếp tục gặt hái những thành tựu mới tươi đẹp hơn trong thời gian tới.

                                                                                 Bài, ảnh: THANH TRAO

                                             Phòng VH và TT thị xã Kiến Tường.

25/04/2017 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Tân An - Chợ Lớn trong cuộc Khởi nghĩa Nam KỳTân An - Chợ Lớn trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ

Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã đi vào lịch sử như là một trong những điểm son chói lọi nhất của dân tộc trên con đường cởi ách nô lệ. Ngày 14-4-1948, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940, đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc” (Điều 1 Sắc lệnh 163-SL ngày 14-4-1948 của Chủ tịch Chính phủ), như một sự khẳng định tinh thần bất diệt của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ở vị trí sát cạnh trung tâm Sài Gòn, Long An (lúc bấy giờ là hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn) trở thành một trong những địa bàn sôi động nhất mà những địa danh lịch sử ngày nay đã trở thành di tích lịch sử-văn hóa như nhắc nhở thế hệ hôm nay không được quên khúc bi tráng đầy tinh thần quật cường này trong lịch sử dân tộc.

 Xà beng, phi tiêu, một trong số  những vũ khí của lực lượng khởi  nghĩa ở Trung Quận chuẩn bị cho  việc “đi thành”.

 Cây súng, quân khởi nghĩa do đồng chí Lê  Văn Tưởng (sau này là trung tướng Quân đội  nhân dân Việt Nam ) chỉ huy lấy được của tên thực dân Rylski ở đồn điền mía Roly, ấp  Xuân Khánh, làng Hòa Khánh (quận Đức  Hòa), ngày 26/11/1940.

Trước tình hình chuyển biến nhanh chóng của thế giới và Đông Dương sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939), Trung ương Đảng (đóng ở Sài Gòn) kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Sau nhiều lần hội nghị, nhiều tranh luận, đến tháng 3-1940, chủ trương khởi nghĩa vũ trang của Xứ ủy, do đồng chí Võ Văn Tần làm bí thư đề ra dần dần hình thành với “Đề cương khởi nghĩa Nam kỳ” được phổ biến đến các tỉnh ủy và cơ sở. Thực dân Pháp phát hiện được tài liệu của Xứ ủy, đã ra tay đàn áp dữ dội. Nhiều đồng chí của Trung ương và Xứ ủy như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến… bị bắt. Tình hình lại chuyển biến mới, Pháp đầu hàng phát xít Đức, địch ở Đông Dương hoang mang, Pháp điều quân lên biên giới Tây Nam để vãn hồi tình hình quân Xiêm do Nhựt giật dây tiến đến biên giới Lào và Campuchia; lính trại Ô Ma (có cơ sở Đảng làm binh vận) phản kháng, không chịu đi làm bia đỡ đạn, muốn nổi dậy khởi nghĩa. Tất cả diễn biến trên đã đưa đến cuộc hội nghị ở Tân Hương, Mỹ Tho (21 đến 27-7-1940) với sự có mặt của 24 đại biểu của 21/24 tỉnh thành, quyết định khẩn trương chuẩn bị mọi mặt về tổ chức, xây dựng và phát triển lực lượng, lập Mặt trận phản đế, mua sắm vũ khí, vận độntg binh lính, sắp xếp lực lượng… để chuẩn bị khởi nghĩa; đồng thời cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra miền Trung, miền Bắc hợp đồng cùng phối hợp hành động. Nhật tràn vào Lạng Sơn, đồng thời đổ quân vào Hải Phòng (9-1940), Pháp bạc nhược đầu hàng, cả nước xôn xao; khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ (27-9-1940). Ở Nam Kỳ, Xứ ủy sốt ruột chờ đợi tin đồng chí Phan Đăng Lưu, ngày 20-11-1940, Thường vụ Xứ ủy họp khẩn cấp hạ lệnh các địa phương nổi dậy vào lúc 0 giờ đêm 22 rạng 23-11-1940, hiệu lệnh: “đèn Sài Gòn tắt” hoặc có “tiếng súng nổ”. Khi đồng chí Phan Đăng Lưu bắt liên lạc được với Xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ, trên đường vào Nam truyền đạt chủ trương hoãn khởi nghĩa do thời cơ chưa chín mùi, nhưng về đến Sài Gòn vào chiều 22-11-1940 thì bị địch bắt và lệnh khởi nghĩa đã truyền đi khắp các tỉnh.

 

 Cầu Bà Thơm, làng Hiệp Thạnh, nơi lực lượng khởi nghĩa quận Châu Thành đốt phá đêm 22 rạng 23/11/1940.

 Hai tỉnh Tân An-Chợ Lớn lúc bấy giờ có 7 quận (Cần Đước, Cần Giuộc,  Đức Hòa, Trung Quận (Chợ Lớn), Châu Thành, Thủ Thừa, Mộc Hóa (Tân An), 22 tổng, 128 làng. Cho đến trước thời điểm khởi nghĩa, riêng tỉnh Chợ Lớn có 37 chi bộ với khoảng 160 đảng viên, tỉnh Tân An cũng khoảng chừng ấy. Là địa bàn sát cạnh Sài Gòn, Tân An-Chợ Lớn, nhất là “Vành đai đỏ” Chợ Lớn trở nên rất nhạy cảm trước những diễn biến trong nước và thế giới, vì vậy mà không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở đây trong những ngày giữa tháng 11-1940 luôn sôi sục. Từ khi tiếp thu tinh thần chỉ đạo của hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (7-1940), việc chuẩn bị khởi nghĩa ở Tân An-Chợ Lớn được xúc tiến mạnh mẽ với các hoạt động tuyên truyền, tổ chức, chuẩn bị võ trang, binh vận, quyên tiền mua sắm vũ khí… Nhiều nơi, các lò rèn chuyển sang rèn đúc vũ khí. Đặc biệt, ở Đức Hòa, làng Hựu Thạnh trở thành “khu tạo tác” chuyên chế tạo súng thủ công, bom tay, in truyền đơn, may cờ, khẩu hiệu…Đến đầu tháng 11-1940, các ban chỉ đạo khởi nghĩa cấp quận của hai tỉnh lần lượt ra đời. Một số nơi, do đặc thù, có ban chỉ đạo cấp tổng như Cần Đước. Tổng Long Hưng Hạ ở Trung Quận, ngoài ban chỉ đạo ấp quận còn có sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng ủy và một số Xứ ủy viên và do có phong trào mạnh, 5/7 làng thành lập Ủy ban bạo động. 94/128 làng của hai tỉnh xây dựng được kế hoạch cướp chính quyền. Theo kế hoạch hành động, ngoài nhiệm vụ cướp chính quyền tại chỗ, một bộ phận của quận Thủ Thừa còn tiếp ứng cho Sài Gòn, quận Châu Thành kiêm cả nhiệm vụ đánh chiếm tỉnh lỵ Tân An. Các quận của tỉnh Chợ Lớn phải tổ chức lực lượng tiếp ứng cho Sài Gòn. Cánh Trung Quận có lực lượng Cần Đước sáp nhập tham gia phá Khám Lớn Sài Gòn. Cánh Cần Giuộc phối hợp với Bình Xuyên tiến công các cơ sở địch ở phía Nam Sài Gòn. Cánh Đức Hòa tiếp ứng cuộc nổi dậy của binh lính thành Ô Ma.

Tất cả đã sẵn sàng chờ giờ khởi nghĩa. Địch đánh hơi và dựa vào chỉ điểm, khủng bố dữ dội, ngày 22-11-1940 đã giăng bẫy trong thành phố Sài Gòn đón bắt các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, ra lệnh giới nghiêm, báo động khắp nơi, huy động cả hải, lục quân trợ lực cho cảnh sát, mật thám sẵn sàng chống khởi nghĩa, dù vậy, vẫn bị bất ngờ.

 Một số đồng chí của Tân An-Chợ Lớn từ thời Nam Kỳ khởi nghĩa. Thứ tự từ trái sang phải: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Văn Chính (Chín Cần), Trương Văn Bang, Huỳnh Thị Thinh, Trần Văn Giàu, Lê Hồng Vũ, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Thị Nguyệt.

Đến giờ khởi nghĩa, đèn Sài Gòn vẫn sáng, vẫn không có tiếng súng nổ, lực lượng “đi thành” được lệnh rút về chờ lệnh mới.Tuy nhiên, cuộc nổi dậy vẫn nổ ra mạnh mẽ ở khắp nơi trong hai tỉnh ngay trong đêm 22 rạng ngày 23-11-1940 và những ngày sau đó.Với nhiều mức độ khác nhau và khí thế chưa từng có, lực lượng khởi nghĩa ở các làng đã đánh đồn, tiến chiếm nhà việc, nhà hội, nổi trống mõ, tù và, đốt sổ bộ, tài liệu, đốt trụ sở, xuống đường tuần hành, mít tinh, hô hào khởi nghĩa, trừng trị tay sai ác ôn, cảnh cáo, giáo dục tề, kềm chế lính, tước súng tề, treo cờ đỏ, rải truyền đơn, ngã cây, phá đường, phá cầu, tạo chướng ngại vật, cắt dây thép, nổi lửa…, làm cho làng lính địa phương hoảng sợ lẩn trốn.Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, toàn Tân An-Chợ Lớn có 94 làng /128 làng thực hiện kế hoạch cướp chính quyền và tham gia tham gia hưởng ứng khởi nghĩa với nhiều hình thức khác, tiến đánh 12 đồn bót, chiếm và đốt phá 37 nhà việc, ngăn lộ phá cầu ở 21 địa điểm, thu 52 súng, trừng trị 49 tên ác ôn, tay sai... Nhiều vụ trừng trị ác ôn ở Đức Hòa, Cần Giuộc, Trung Quận, Mộc Hóa, diệt đồn ở Thủ Thừa, treo cờ ở Cần Giuộc… đã gây tiếng vang lớn. Từ cuộc khởi nghĩa, đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất, dũng cảm kiên cường, hy sinh oanh liệt trước pháp trường, như các đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Văn Nhâm, Lê Văn Lao, Võ Văn Siêng (con đồng chí Võ Văn Tần), Nguyễn Văn Dường, Lê Công Phép…

Địch khủng bố dã man sau khởi nghĩa, đã đốt hàng trăm ngôi nhà, đưa quân ruồng bố, càn quét, bắn giết hàng trăm cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào, lập đài xử bắn các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa ở Đức Hòa, Cần Giuộc…Dù bị dìm trong bể máu, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Tân An-Chợ Lớn đã làm kẻ thù khiếp sợ. Lần đầu tiên kể từ khi quân xâm lược đặt chân lên mảnh đất này, cùng với các tỉnh ở Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa ở hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn đã làm rung chuyển từng mảng lớn chính quyền địch ở cơ sở mà thực dân Pháp và tay sai đã thống trị hơn nửa thế kỷ qua.“Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương”.

       Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

24/02/2012 2:27 SAĐã ban hànhApproved
TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANTÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

THÀNH PHỐ TÂN AN

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

(Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An)

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Thượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đương thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận Công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 Di tích Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 534/QĐ/BT ngày 11/05/1993.

HUYỆN CẦN GIUỘC

CHÙA TÔN THẠNH (Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc)

Chùa Tôn Thạnh tọa lạc tại xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808.

Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người "dân ấp dân lân", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: "Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ".

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh "rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng" như xưa. Tuy nhiên, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng. Trong khuôn viên chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Năm 2003, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến và vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền.

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Chùa Tôn Thạnh là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/11/1997 .

RẠCH NÚI

(p Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc)

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400 ± 100 năm cách ngày nay, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ, bao gồm nhiều loại hình công cụ lao động bằng đá, xương, sừng và đồ gốm nhưng không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ: Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khác với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó, di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu (Nguyễn Văn Mỹ - quan đại thần triều Nguyễn).

Di tích Rạch Núi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Quyết định số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/06/1999.

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

CHÙA PHƯỚC LÂM

(Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước)

Chùa Phước Lâm – xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An - được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu "bánh ít", có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc hoàng, Thị giả, Thập điện, Thiện ác, Hộ pháp, Kim cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía Đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật.

Chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001.

NHÀ TRĂM CỘT

(Ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước)

Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, tại ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Nhà có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: phần phía trước được bày trí theo kiểu ngoại khách - nội tự (ngoài tiếp khách, trong thờ tự), phần phía sau dùng để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa của vùng đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/09/1997.

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

(Ấp 1, xã Long Hòa, huyện Cần Đước)

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 13 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 3 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm, Thuận Thành và Phước Hậu.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía Nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy (1966-1967).

Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460 QĐ/VH ngày 28/06/1996.

HUYỆN CHÂU THÀNH

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

(Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành)

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, 3 gian, 2 chái. Nhà có dạng hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân "thiên tỉnh" (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 03/08/2007.

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

(Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành)

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông sinh ngày 28/5 năm Đinh Hợi tức ngày 21/07/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/08/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông - nhà trí thức yêu nước,  người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

Khu lưu niệm Nguyễn Thông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 04/2001-QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001.

DI TÍCH ĐÌNH TÂN XUÂN

(Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành)

Đình Tân Xuân là di tích lịch sử văn hóa, một trong những ngôi đình cổ trên đất Long An. Đây là nơi ghi dấu tín ngưỡng thờ thần trong quá trình di dân lập ấp, đồng thời gắn liền sự kiện lịch sử, sự hy sinh oanh liệt của nhà yêu nước Đỗ Tường Tự, người thủ lĩnh cuối cùng của phong trào nông dân khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tân An.

Hàng năm, vào ngày 15-16/1 âm lịch tại đình diễn ra Lễ hội làm chay rất đặc sắc, quy tụ hàng ngàn người dân tham dự. Lễ hội làm chay có đặc trưng độc đáo là liên kết, tổng hòa nhiều thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng dân gian trên địa bàn như: đình Dương Xuân Hội, chùa Ông (Linh Võ tự), Âm Nhơn miếu (miễu cô hồn), Linh Phước tự, thánh thất Phương Quế Ngọc Đài. Lễ hội quy tụ hầu hết nhân dân các giới và các tôn giáo tham gia hành lễ. Về phần lễ, có những nghi thức cổ truyền đã có từ hơn một thế kỷ qua như: Thỉnh Tiêu Diện đại sĩ từ Linh Phước tự về chùa Ông; thỉnh Phật, thỉnh thầy từ Linh Phước tự về Đình Dương Xuân; cúng tế, đề phan liệt sĩ; cúng cô hồn ở Miếu Âm Nhơn; lễ chiêu u (rước cô hồn ) từ các nơi trong huyện về giàn ông Tiêu; nghi lễ đánh động, thỉnh thầy, thỉnh kinh; nghi lễ phóng đăng, phóng sinh; nghi lễ đốt nến, thả bèo, nghi lễ Chạy kim đàn và xô giàn, tiễn khách. Về phần hội, có những trò chơi dân gian cho nhân dân vui chơi như: Bịt mắt đập nồi, nhảy bao bố, kéo co, thả-bắt vịt…

Di tích đình Tân Xuân được xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 4109/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Lễ hội làm chay cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4205/QĐ-BVHTT ngày 19/12/2014.

HUYỆN THỦ THỪA

ĐÌNH VĨNH PHONG

(Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa)

Đình Vĩnh Phong tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

Đình Vĩnh Phong được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1811/1998/QĐ-BVHTT  ngày 31/08/1998.

HUYỆN BẾN LỨC

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

(Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức)

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn, bởi vì đây là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm: Ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông. Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn tọa lạc tại ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930-1945). Đồng thời đây là nơi ghi dấu một số hoạt động của các nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

HUYỆN TÂN TRỤ

VÀM NHỰT TẢO

(Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ)

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L'Espérance của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: "Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang". Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: "Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, UBND tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28/6/1996.

HUYỆN ĐỨC HUỆ

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

(Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ)

Các địa điểm thuộc căn cứ Bình Thành còn được gọi là di tích Bình Thành hay Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An, tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An.

Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói rằng, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

Di tích căn cứ Bình Thành đã được Bộ Văn hóa – Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BT ngày 04/12/1998.

HUYỆN ĐỨC HÒA

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

(Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa)

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5.000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/06/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng  7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 04/06/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn, thể hiện lòng tin của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

Ngã Tư Đức Hòa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH-QĐ, ngày 05/09/1989.

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN

 CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

(Ấp Giống Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa)

Nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ là nơi  đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật để thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn vào ngày 06/03/1930.

Chi bộ ra Nghị quyết: "Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy". Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng 3 tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

Khu nhà ông Bộ Thỏ tại ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL  ngày 31/10/2013.

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

(Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa)

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước hay còn gọi khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng Đông Bắc thành phố Tân An, cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách Tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía Đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn Đông Nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570-VH/QĐ  ngày 05/09/1989.

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

(Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa)

Di tích An Sơn  được hai nhà khảo cổ người Pháp là L. Malleret và P. Levy phát hiện từ năm 1838 và trải qua 3 lần khai quật lớn vào các năm 1978, 1997, 2004 do các nhà khảo cổ trong và ngoài nước thực hiện. Các cuộc khai quật này đã phát hiện nhiều di tích, di vật đa dạng, phong phú có thể tái hiện sinh động phương thức sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ nơi đây.

Đây là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hoá dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, là một đối tượng quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học ở Long An và Đông Nam Bộ.

Di tích An Sơn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 324/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011.

HUYỆN TÂN THẠNH

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ (1946 – 1949)

(Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh)

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

Di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ (1946-1949) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT ngày 03/08/2007.

HUYỆN VĨNH HƯNG

GÒ Ô CHÙA

(Ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng)

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc- 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3 m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến 2.000 năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1.000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

Gò Ô Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp dạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

                              Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền, PHÒNG NGHIỆP VỤ

                                         BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH LONG AN

01/07/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG CHẤN CHỈNH Ô NHIỄM TIẾNG ỒN TỪ DÀN NHẠC SỐNG, KARAOKE DI ĐỘNGTHỊ XÃ KIẾN TƯỜNG CHẤN CHỈNH Ô NHIỄM TIẾNG ỒN TỪ DÀN NHẠC SỐNG, KARAOKE DI ĐỘNG

Ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ...Môi trường được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.

Karaoke KienTuong 2017 1.png

Ảnh: Nguồn Internet

Nói đến ô nhiễm môi trường nhiều người nghĩ ngay đến các bãi rác lộ thiên, tình trạng rác thải vương vãi trên đường, rác trôi trên sông, rác trên các bờ kênh, xác súc vật chết, ao tù, nước đọng, khói, bụi... mà ít ai nghĩ rằng tiếng ồn cũng là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nhưng lại ít được quan tâm như các loại ô nhiễm khác. Ô nhiễm tiếng ồn rất có hại cho sức khỏe. Khi phải chịu đựng tiếng ồn liên tục, cơ thể người không tránh khỏi tình trạng bị căng thẳng. Căng thẳng kéo dài dễ dẫn đến những chứng bệnh thần kinh như trầm cảm hay lo lắng vô cớ, tăng thêm nguy cơ các bệnh về tim mạch và hệ tuần hoàn.Nếu sống trong môi trường bị ô nhiễm tiếng ồn, giấc ngủ của chúng ta sẽ không được sâu và dài, mà chập chờn nên khi thức dậy, khả năng tập trung của cơ thể sẽ bị giảm, dễ bị kích động và mất dần khả năng tự kiềm chế.Tiếng ồn còn có thể là một trong những nguyên nhân làm tăng hiện tượng bạo lực trong giao tiếp. Nguyên nhân gây nên tiếng ồn rất đa dạng: Các âm thanh phát ra từ hoạt động giao thông, các nhà máy, xí nghiệp, công trình xây dựng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và cả tiếng ồn trong sinh hoạt của người dân.

Thời gian gần đây phát sinh hoạt động nhạc sống, karaoke di động - một hình thức giải trí mới được nhiều người ưa chuộng và đang trở thành trào lưu. Với nhiều người, nhạc sống, karaoke di động là loại hình giải trí mới xuất hiện nhưng đáp ứng đúng nhu cầu vui chơi, ca hát của mọi người một cách nhanh, rẻ và tiện lợi. Tuy nhiên, có số ít người, do không biết giới hạn đã mở âm lượng quá lớn khiến việc vui chơi, sinh hoạt, giải trí của cá nhân, gia đình trở thành "nỗi ám ảnh" của láng giềng. Một đám cưới sử dụng từ 6 đến 8 thùng loa công suất lớn, đám giỗ, thôi nôi, đầy tháng, sinh nhật, liên hoan, đám ma...thì từ 2 thùng loa, 4 thùng loa, tùy điều kiện kinh tế mà tổ chức với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Gần đây lại có thêm loa không dây công suất lớn vừa rẻ tiền, vừa tiện dụng nên được nhiều người yêu thích sử dụng. Một số người mở âm thanh quá lớn gây ồn ào cả khu phố. Dù là lao động trí thức hay lao động chân tay đều cần có thời gian nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động, người già cần không gian yên tĩnh để tịnh dưỡng, các em học sinh không thể tập trung học bài khi có tiếng ồn, chưa kể những người bị ốm đau, bệnh tật không thể chịu nổi tiếng ồn cứ phát liên tục nhất là vào các giờ nghỉ trưa. Nhiều người thông cảm, hàng xóm lâu lâu mới tổ chức tiệc hoặc sinh hoạt vui chơi giải trí trong gia đình, tuy nhiên những người tổ chức cần ý thức, tôn trọng mọi người xung quanh, đừng vì việc của cá nhân, gia đình mình mà ảnh hưởng đến thời gian nghỉ ngơi, học tập của nhiều người, cùng nhau thực hiện tốt nếp sống văn minh, gia đình văn hóa.

NHacSongKaraoke 2017 02.jpg

Ảnh: Nguồn Internet

Để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước, kịp thời chấn chỉnh tình hình trên, UBND thị xã Kiến Tường ban hành công văn chỉ đạo tăng cường công tác quản lý hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng trên địa bàn thị xã, triển khai Quyết định số 5015/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 của UBND tỉnh về Quy định quản lý hoạt động "nhạc sống" trên địa bàn tỉnh Long An, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị liên quan như: Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Đài Truyền thanh, Công an thị xã, UBND các xã, phường và đề nghị Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã và lãnh đạo các đoàn thể thị xã có kế hoạch chỉ đạo trong hệ thống tăng cường phối hợp với các ngành chức năng và UBND các xã, phường thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh".

Sau 6 tháng triển khai thực hiện Quyết định số 5015/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 của UBND tỉnh, một số hoạt động của các xe bán kẹo kéo kèm theo ca nhạc, hoạt động cho thuê dàn "nhạc sống, karaoke di động" phục vụ đám tiệc, liên hoan của cá nhân, tập thể, các hộ gia đình gây tiếng ồn lớn ảnh hưởng đến công tác, học tập và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn thị xã Kiến Tường đã giảm đáng kể. Các cá nhân kinh doanh dịch vụ "nhạc sống", người tổ chức hoạt động "nhạc sống", Ban Vận động ấp, khu phố, UBND xã, phường đã thực hiện tốt trách nhiệm theo Quy định quản lý hoạt động "nhạc sống" . 49/49 cá nhân kinh doanh dịch vụ "nhạc sống" tại các xã, phường đã tiến hành đăng ký kinh doanh. Đa số những người tổ chức hoạt động "nhạc sống"  thực hiện nếp sống văn minh trong các cuộc hội nghị, liên hoan của tổ chức, cơ quan, đơn vị, các đám tiệc tại hộ gia đình, cửa hàng, cửa hiệu và nơi công cộng khác như tổ chức hoạt động "nhạc sống" không gây ồn ào, mất trật tự, làm ảnh hưởng đến công tác, học tập, sinh hoạt và sức khỏe của mọi người xung quanh.

NHacSongKaraoke 2017 03.jpg

Ảnh: Nguồn Internet

Ban Vận động ấp, khu phố nhất là đối với trưởng ấp, trưởng khu phố thường xuyên theo dõi, tiếp nhận thông tin để có hình thức vận động, tuyên truyền, thuyết phục tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở địa phương thực hiện tốt nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội nhất là việc tổ chức hoạt động "nhạc sống" tại các đám tiệc, sinh hoạt vui chơi giải trí.

UBND xã, phường tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền bằng nhiều hình thức để nâng cao nhận thức pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, để mọi tổ chức, cá nhân tự giác thực hiện đúng quy định của pháp luật trong hoạt động "nhạc sống", gắn với phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".

Hiện nay, đa số cá nhân kinh doanh dịch vụ "nhạc sống" tại các xã, phường, người tổ chức hoạt động "nhạc sống" thực hiện đúng quy định là không gây tiếng động lớn, ồn ào huyên náo tại khu dân cư, nơi công cộng trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng hôm sau. Tuy nhiên, khi tổ chức trong thời gian quy định thì lại mở âm thanh công suất lớn suốt ngày, gây tiếng ồn lớn ảnh hưởng công tác, học tập, sinh hoạt và sức khỏe của mọi người xung quanh,ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, trật tự, an toàn xã hội, gây bức xúc trong nhân dân.

Yêu thích ca hát và muốn được hát là nhu cầu giải trí lành mạnh, chính đáng và cần thiết trong đời sống tinh thần của người dân. Nhưng hát như thế nào vừa hay, vừa đủ nghe, đúng giờ giấc quy định và không ảnh hưởng đến người xung quanh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống lại phụ thuộc nhiều vào ý thức người dân.Đảng bộ, UBND các xã, phường, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã và các cơ quan, ban ngành đoàn thể cùng phối hợp tiếp tục tuyên truyền, vận động trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân tự giác, nghiêm túc thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội, trong các đám tiệc của hộ gia đình ở khu dân cư để việc hát nhạc sống của người dân đi vào nề nếp, để người dân hiểu, nâng cao nhận thức và trở thành những chủ thể giám sát lẫn nhau trong sinh hoạt văn hóa của cá nhân và cộng đồng.Khi phát hiện hát quá giờ, quá lớn thì Tổ dân phố, Công an, chính quyền địa phương nhắc nhở để mọi người thông suốt và khắc phục, cùng nhau thực hiện tốt Quy định quản lý hoạt động "nhạc sống"để loại hình văn hóa này đáp ứng nhu cầu sinh hoạt vui chơi, giải trí của người dân nhưng lại không gây ô nhiễm tiếng ồn, góp phần bảo vệ môi trường, "Sống hài hòa với thiên nhiên" và chan hòa giữa tình làng, nghĩa xóm./.

Bài: Cẩm Hằng

Phòng VH và TT thị xã Kiến Tường.

20/06/2017 4:00 CHĐã ban hànhApproved
KHU LƯU NIỆM TRUYỀN THỐNG TIỂU ĐOÀN 261 - GIRON, NƠI THẮM ĐƯỢM TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CUBA KHU LƯU NIỆM TRUYỀN THỐNG TIỂU ĐOÀN 261 - GIRON, NƠI THẮM ĐƯỢM TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CUBA

Ngày 16/6/2020, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định số 2008/QĐ-UBND xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron, xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

25-8-2020 Bằng xếp hạng di tích “Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron”.jpg

Bằng xếp hạng di tích Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron

Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron là nơi minh chứng cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã thực hiện ở Việt Nam. Đây cũng là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của quân và dân Thạnh Hóa nói riêng, tỉnh Long An nói chung, xứng đáng với danh hiệu tám chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" mà Long An đã được phong tặng. Đặc biệt, đây còn là nơi lưu niệm mối quan hệ hữu nghị đoàn kết, gắn bó khắng khít giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như xây dựng đất nước và cho đến hôm nay.

Ngược dòng lịch sử, sau chiến thắng Đồng Khởi năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời đã phản ánh thắng lợi của phong trào. Quân giải phóng chính thức là bộ phận trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường. Quân khu 8 lúc đó gồm 7 tỉnh: Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang cũng tiến hành thành lập các đơn vị chủ lực của mình nhằm đáp ứng kịp thời với tình hình mới. Liền sau đó, vào ngày 02/01/1961 tại khu vực Trấp Tre, Kiến Tường (nay thuộc xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa), đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân khu 8 đã được thành lập, đó là Tiểu đoàn 261.

Tiểu đoàn 261 ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và toàn Đảng bộ khu 8, cho thấy được ý chí quyết tâm làm chủ tình hình, xây dựng lực lượng vững mạnh, cùng các tỉnh trong quân khu và toàn miền Nam tiến hành chống "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - Diệm. Biên chế ban đầu của tiểu đoàn gồm hai đại đội (I, II) và một trung đội trợ chiến là bộ đội địa phương và du kích của các tỉnh thuộc Quân khu 8. Quân số ban đầu của tiểu đoàn chỉ khoảng 300 đồng chí, theo biên chế thì còn thiếu nhiều nhưng tinh thần chiến đấu và khí thế rất mạnh mẽ.

Với khẩu hiệu "Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm", Tiểu đoàn 261 đã cùng với bộ đội địa phương tham gia nhiều trận đánh ở các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre và Đồng Tháp, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần cùng khu 8 và cả nước giành thắng lợi hoàn toàn. Trong đó, tiêu biểu là chiến thắng lịch sử Ấp Bắc vào ngày 02/01/1963, không những gây tiếng vang trong nước mà còn chấn động cả thế giới. Trận Ấp Bắc bước đầu báo hiệu "chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, phượng hoàng bay, phượng hoàng vồ mồi…" của Mỹ - Nguỵ bị phá sản sau một năm tung hoành trên bầu trời của khu 8 nói chung và Nam Bộ nói riêng. Chiến thắng Ấp Bắc đã mở ra một trang mới, một hướng đi mới cho lực lượng vũ trang trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta. Sau trận Ấp Bắc, tháng 4/1963, Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát động phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" trên toàn miền Nam.

25-8-2020 Bia lưu niệm tại khu di tích.jpg

Bia lưu niệm tại khu di tích với khẩu hiệu"Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm"
của Tiểu đoàn 261 - Giron

Trước đó, vào ngày 19/4/1961, tại bãi biển Giron của nước Cuba, quân và dân Cuba đã đánh tan cuộc đổ bộ của hơn một ngàn tên giặc Mỹ xâm lược. Để tỏ lòng đoàn kết với nhân dân Việt Nam và khâm phục tài nghệ của Tiểu đoàn 261 đã đánh thắng chiến thuật "trực thăng vận, thiết xa vận" của Mỹ - Ngụy trong trận Ấp Bắc, vào ngày 02/01/1964, Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba do Chủ tịch Nhà nước Cuba – Fidel Castro gởi tặng tiểu đoàn lá cờ có dòng chữ "Giron" và khẩu súng ngắn Col 12 ly mà quân đội Cuba đã lấy được trên bãi biển Giron ngày đánh tan quân xâm lược Mỹ; đồng thời, lấy tên Ấp Bắc đặt cho một địa phương và cho xây dựng Tượng đài Chiến thắng Ấp Bắc ngay trên đất nước Cuba. Bởi vì, Cuba xem chiến thắng Ấp Bắc có giá trị và tầm quan trọng như chiến thắng Giron của nhân dân Cuba. Kể từ đó, Tiểu đoàn 261 chính thức có tên Tiểu đoàn 261 - Giron, tên gọi thắm tình hữu nghị Việt Nam - Cuba, trở thành biểu tượng chiến thắng của cả hai dân tộc trước kẻ thù chung. Hai hiện vật này đã từng được trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng vũ trang Quân khu 9. Sau khi vinh dự được mang tên mới, Tiểu đoàn 261 - Giron đã ghi vào lịch sử chống Mỹ trên vùng đất khu 8 xưa rất nhiều chiến công huy hoàng, lừng lẫy. Đó cũng là lý do tại sao Tiểu đoàn 261 - Giron đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều quân công, chiến công các hạng: Quân công hạng 3, Huân chương Chiến công và đặc biệt là ba lần được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

25-8-2020 Bà Indira Lopez Arguelles.jpg

Bà Indira Lopez Arguelles - đại diện Tổng Lãnh sự Cuba tại Thành phố Hồ Chí Minh
 phát biểu trong Lễ công bố quyết định và đón nhận bằng xếp hạng
di tích Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron

Hiện nay, được sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp, Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron đã được xây dựng xong phần thô của hạng mục nhà bia cùng một số công trình phụ và đang tiếp tục xây dựng hạng mục nhà trưng bày và các hạng mục khác nhằm làm cho nơi đây hứa hẹn là một điểm đến hấp dẫn, một địa chỉ đỏ của tỉnh trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, khu lưu niệm còn là nơi thắt chặt quan hệ ngoại giao, tình đoàn kết, gắn bó của hai nước Việt Nam - Cuba./.

Hồng Nhung

28/08/2020 2:00 CHĐã ban hànhApproved
Tục cúng Việc lề và cúng Việc lề ở Long AnTục cúng Việc lề và cúng Việc lề ở Long An
Ngày 7/3/2011, Sở VH,TT và DL tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể “Tục cúng Việc lề ở Long An”. Đây là đề tài nghiên cứu theo chương trình văn hóa quốc gia “bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật vật thể ”của Bộ VH-TT (nay là Bộ VH,TT và DL). Xin giới thiệu đôi nét về phong tục này ở Long An.

        Ngày 7/3/2011, Sở VH,TT và DL tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể “Tục cúng Việc lề ở Long An”. Đây là đề tài nghiên cứu theo chương trình văn hóa quốc gia “bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật vật thể ”của Bộ VH-TT (nay là Bộ VH,TT và DL). Xin giới thiệu đôi nét về phong tục này ở Long An.

 

        Theo PGS.TS PhanThị Yến Tuyết,  cúng Việc lề (còn gọi là cúng Vật lề, cúng Lề…) là “nghi thức cúng truyền thống theo việc đã thành lề thói, thành lệ, được hình thành trong quá trình khai phá, khẩn hoang vùng đất Nam bộ của người Việt.Tín ngưỡng này không có ở miền Bắc và không rõ ràng ở miền Trung” (Tạp chí Dân tộc học số 1-1999, Tín ngưỡng cúng Việc lề- một tâm thức về cội nguồn của cư dân Việt khẩn hoang tại Nam bộ). Long An có lịch sử khẩn hoang sớm, vì vậy tục này khá phổ biến; một thống kê chưa đầy đủ cho biết hiện có trên 500 gia đình duy trì rất nghiêm túc, trong đó nhiều dòng họ còn giữ được nghi thức đặc thù thể hiện tinh thần của tín ngưỡng này.

        Về nguồn gốc, tục cúng Việc lề xuất phát từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nhưng do hoàn cảnh trong những ngày đầu khẩn khoang gian khó ở Nam bộ nên trong nghi thức cúng có nét đặc thù là phản ánh dấu ấn thời khai hoang, qua đó ghi nhớ công ơn tổ tiên và nhận diện dòng họ. Cúng Việc lề đan xen nhiều nội dung rất phức tạp, nhưng tựu trung gồm: trước là cúng Việc lề, sau đó là cúng cầu an, cúng đất và cúng thí thực. Trong đó, riêng mâm cúng Việc lề không bày trên bàn mà thường bày dưới đất. Đây chính là yếu tố khác biệt của cúng Việc lề với một đám giỗ kỵ thông thường. Đặc điểm cơ bản nhất của tín ngưỡng này là tính chất riêng tư của từng dòng họ được thể hiện qua ngày cúng và vật cúng mà chỉ có người trong họ mới biết.

        Ngày cúng tuỳ theo lệ của dòng họ. Đó có thể là ngày giỗ hội, ngày mất của vị thủy tổ, ngày cúng đất, ngày cúng cầu an dòng họ (1)... Cá biệt có dòng họ chọn ngày cúng theo nghề hoặc đặc điểm lịch sử dòng họ mình (2). Thời điểm, thường là cận đến sau tết Nguyên Đán vào các dịp Tảo mộ ( ngày 25-12 nên gọi là giỗ chạp) (3), rước ông bà (30-12) (4), kiếu ông bà (mồng 3, 4, 5 tháng Giêng), Hạ nêu (mồng 7 tháng Giêng), Thanh Minh (tháng 3 Âm lịch) (5)… Vùng Đồng Tháp Mười lại thường chọn thời điểm nước nổi, là lúc sản vật dồi dào (6). Nhìn chung, đó là lúc nông nhàn, với người làm nghề nông, cũng là lúc có điều kiện về kinh tế để tổ chức.

        Trong nghi thức cúng, người ta cố tái hiện lại cuộc sống nhọc nhằn, cơ cực của tổ tiên thời xưa đi khẩn hoang, như bày thức cúng trên đệm bàng hoặc chiếu trải dưới đất ngoài sân, dùng đĩa thô, chén sành, hoặc hái lá sen, lá môn làm dĩa, lấy gáo dừa, bẹ chuối làm chén, bẻ cọng tre làm đũa...Thức cúng đều là những món ăn mộc mạc, đơn sơ, phản ánh hoàn cảnh sống thiếu thốn lúc bấy giờ, như cá lóc nướng trui, cháo ám, cá chỉ cạo nhớt, để nguyên vảy, không chặt bỏ kỳ, vi, đuôi (vì không có dao); rau mọc dại ven sông như rau ráng, ô rô, cóc kèn..., mắm sống, cốm nổ rang ...v.v.

Cháo ám đựng muỗng vùa, tiên tổ khai đường hậu thế

Rơm đồng thui cá lóc, cháu con cảm đức tiền nhân.

(Câu đối treo trong ngày cúng Việc lề của họ Đỗ ở xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành)

                

                   Buổi ăn cộng cảm trong đám cúng Việc lề họ Nguyễn ở xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa

        

        Ở Long An, ngoài cá lóc nướng trui và cháo ám là hai món không thể thiếu, nhiều họ có món đặc thù của riêng mình. Họ Trần ở xã Bình Tịnh, huyện Tân Trụ bắt buộc phải có 100 cái bánh tét, 100 cái bánh ít, mỗi cái nhỏ bằng ngón chân cái, một chén nổ (nếp để nguyên vỏ đốt cho nổ bung ra thành cốm).  Họ Lê ở phường Khánh Hậu, thành phố Tân An cúng miếng đường tán, bánh tráng. Họ Phạm ở thành phố Tân An cúng đĩa gỏi cuốn, 5 mũi tên, một đĩa tam sên (trứng, tép, cua). Họ Võ ở thị trấn Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa bắt buộc phải có gỏi da tượng (nay thế bằng da heo), một miếng da heo được cắt hình voi để nguyên trên mâm, tương truyền xưa trước khi về Đồng Tháp Mười chuyên săn bắn.Trước đây, trong mâm cúng của họ Võ còn có miếng thuốc phiện để nhắc nhở và răn dạy con cháu tránh xa tệ nạn này bởi trong họ có một người bị nghiện. Họ Lê ở xã Thanh Phú, huyện Bến Lức ngoài rau luộc, thủ vĩ lợn, tam sên… còn có đĩa thịt sống (để cúng chúa sơn lâm, do trước đây trong họ có người bị hổ vồ) và hình nộm bằng rơm với 5 tàu lá dừa, 5 mũi tên hình thành thế trận Ngũ Hành để diệt trừ yêu tà quấy phá dòng họ. Họ Nguyễn ở xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa cúng gạo, muối, 10 hột vịt, tam sên và con rắn nướng. Họ Huỳnh ở xã Bình Tâm, thành phố Tân An ngoài gạo, muối... còn có tô nước lạnh (hàm ý để ông bà rửa mặt) và tấm gương có phủ vải đỏ (hàm ý “nhiễu điều phủ lấy giá gương”). Họ Đỗ ở xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành, ngoài cháo cá ám nấu còn nguyên hạt gạo lức, xôi, bánh ít, trầu, cau, thuốc... bắt buộc phải có 1 con cá lóc, 3 con tôm nướng để trên đĩa ô rô, cóc kèn và lá môn. Họ Lê ở Đức Tân, huyện Tân Trụ cúng một mâm cốm chuồi (gạo nếp rang ngào đường) rải lên trên ô rô, cóc kèn, dao phay, thớt, gáo múc nước.

        Một đặc điểm nữa là cúng Việc lề chỉ giới hạn trong nội bộ dòng họ, không có người ngoài. Ngày nay do điều kiện giao lưu, ít nhiều có thay đổi nhưng tinh thần ấy vẫn giữ. Đến ngày ấy, con cháu tự nhớ  mà tề  tựu về, không mời, ai có gì mang nấy. Sau khi chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết, chủ tế với khăn đóng áo dài tề chỉnh, rót rượu, nước, đốt nhang khấn vái, đại ý là nhớ công đức của tổ tiên đã chịu nhiều gian khổ, hiểm nguy đến vùng đất mới sinh cơ lập nghiệp cho con cháu muôn đời, rồi theo thứ bậc trong gia tộc, mỗi người lạy bốn lạy... Khi nhang tàn, chủ tế đốt giấy tiền vàng bạc, rải gạo muối và kết thúc bằng nghi thức thả bè chuối, tức xếp lên chiếc thuyền được làm bằng bẹ chuối các lễ vật đã cúng tổ tiên và chúa Ngu Man Nương (chủ đất) mỗi thứ một ít (tượng trưng cho lương thực) để tiễn đưa tổ tiên về cõi âm. Thuyền được đưa ra ngả ba sông rạch để “hạ thủy”. Nghi thức này mang ý nghĩa Nam tiến và Bắc hồi, gợi nhớ cảnh vượt biển vào Nam lập nghiệp và quay thuyền về thăm quê hương bản quán ở miền ngoài. Nhiều nơi, lúc thả bè người ta không quên kèm theo một câu chúc “Ông bà đi mạnh giỏi”. Sau cùng là bữa ăn cộng cảm của dòng họ với những câu chuyện buồn vui được truyền lại từ thời cha ông mình đi khai phá. Nhiều dòng họ vẫn còn giữ những tập quán đẹp như họ Nguyễn ở Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, vật cúng không thể thiếu là rắn nướng được đem ra chia sẻ cho người một ít. Họ Đỗ ở Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành, trước khi vào tiệc, món cháo cá ám và cá nướng trui được kiến cho người lớn tuổi, sau đó đến những người khác trong họ.

                

                 Vật cúng được bày dưới đất trong đám cúng Việc lề họ Võ, thị trấn Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa

       

         Về ý nghĩa, cúng Việc lề thể hiện những tình cảm thiêng liêng về nơi chôn nhau cắt rốn, về họ hàng của người Việt khẩn hoang trên bước đường khai mở vùng đất mới. Do đặc điểm lịch sử, người Việt khẩn hoang ở Nam bộ vì nhiều lý do khác nhau, đa phần không ghi gia phả như tổ tiên ở miền Bắc, miền Trung vì sợ tiết lộ thân phận. Kết quả khảo sát, nghiên cứu cho thấy đa phần lưu dân đến khẩn hoang ở Long An là từ miền Ngũ Quảng vốn rất chặt chẽ, kỹ lưỡng về gia phả dòng tộc, nhưng khi vô Nam lại không mấy ai ghi gia phả. Các gia đình ở Long An và Nam Bộ nói chung hiếm có lệ ghi gia phả. Chỉ những gia đình khá giả, quyền thế sau này lập tông chi chủ yếu để phân chia ruộng đất, ghi sơ sài ngày cúng giỗ ông bà, chỉ bắt đầu từ thế hệ những người vô Nam. Phần lớn người khẩn hoang là tội phạm bị lưu đày, những bị án thường phạm bị tập nã, những người nổi loạn bị thất bại nên trốn tránh triều đình, phải thay tên đổi họ. Cái tội bị “tru di tam tộc” treo lơ lửng trên đầu nên không dám ghi gia phả vì như thế hóa ra là “lạy ông con ở bụi này”, không chỉ khổ thân mà còn liên lụy đến dòng họ.Vì vậy, cúng Việc lề với các quy ước riêng về ngày cúng, cách cúng, vật cúng là thứ mật hiệu riêng để cháu con đang xiêu tán mỗi người một phương có thể nhận diện nhau trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Ngày nay người ta không còn phải nhận diện nhau qua những “ký hiệu riêng” trong tục cúng Việc lề nữa nhưng giá trị nhân văn sâu sắc về đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của tín ngưỡng này là không hề thay đổi.

Hai trăm năm trước tổ tiên dày công khai phá

Cả vạn đời sau cháu con gắng sức vun bồi.

*****

Tụ nghĩa chiêu binh, Bình Trị địa linh bia đá tạc

Vong thân vị quốc, Đỗ gia nhân kiệt sử vàng ghi.

            .......

(Câu đối treo trong ngày cúng Việc lề của họ Đỗ ở xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành)

        Ngoài thể hiện lòng biết ơn đối với tiền nhân khai phá mở cõi, tính giáo dục về lòng yêu nước, tự hào dòng họ, dân tộc trong tục cúng Việc lề ở Long An thể hiện rất rõ qua văn tế, câu đối... trong nghi thức cúng, nhất là những dòng họ có nhiều đóng góp vào sự nghiệp chống giặc cứu nước như họ Nguyễn ở xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, họ Đỗ, xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành... (7). Xét ở mọi góc độ: văn hóa, lịch sử và nhân sinh, cúng Việc lề có vị trí xứng đáng trong việc bảo tồn để góp phần giáo dục truyền thống. Nó giáo dục trực tiếp ngay trong từng con người, gia đình, dòng họ, trực quan và rất cụ thể.

        Tuy nhiên, điều kiện xã hội thay đổi hiện nay ít nhiều đã kéo theo những lệch lạc. Nhiều nơi, người ta bày ra những nghi thức khác lạ, cầu kỳ mà quên rằng tinh thần cơ bản nhất của tín ngưỡng này là những nghi thức đơn giản nhưng riêng biệt của mỗi họ gợi nhớ thời khẩn hoang gian khó của cha ông. Thậm chí, do nhận thức và tác động của cuộc sống vật chất, một số nơi còn bị biến tướng, gây phản cảm. Như một đám cúng ở xã Phước Lâm, huyện Cần Giuộc, năm 2009, để khoe khoang sự giàu có của mình, con cháu gia chủ đã thay thế cổ tục của ông bà bằng những màn ăn uống, hát xướng linh đình suốt nhiều ngày, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt cộng đồng.

        Chính vì vậy, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá vị trí của tục cúng Việc lề trong đời sống xã hội, từ đó tuyên truyền trong nhân dân về ý thức bảo vệ  di sản mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc này; đồng thời mạnh dạn loại bỏ cái tiêu cực, phát huy cái tích cực, để phù hợp với đời sống văn hóa mới đương đại./.

 

                        Nguyễn Tấn Quốc

-----------------------------------

(1) Họ Võ ở thị trấn Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa lấy ngày cúng là ngày mất của người vợ vị thủy tổ trong họ, ông Võ Tự Phụng, ngày 25 tháng Giêng.  Họ Lê ở xã Thanh Phú, huyện Bến Lức lấy ngày giỗ của một vị thủy tổ trong họ từng là Tổng đốc Thủy đạo Trường Sa, quê ở Quảng Nam. Họ Lê ở xã Đức Tân, huyện Tân Trụ lấy ngày cúng đất, 18-3. Họ Nguyễn ở xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa lấy ngày cúng Cầu an ở miếu bà Chúa Xứ của dòng họ, 16-2.

(2) Họ Nguyễn ở xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức làm nghề chài lưới, nên lấy ngày cúng Cầu ngư, 10-3 làm ngày cúng Việc lề. Tuy nhiên ngày nay thế hệ con cháu còn hiểu đó là ngày cụ Nguyễn Trung Trực từ biệt gia đình xuất quân chống Pháp .

(3) Họ Hồ, họ Nguyễn, xã Long Sơn, huyện Cần Đước; họ Phạm, họ Nguyễn, xã Phước Lại, họ Biện Hữu, xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc; họ Nguyễn, họ Đặng, xã Lợi Bình Nhơn, thành phố Tân An; họ Đoàn, xã Mỹ Thạnh, họ Lê, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa …

(4) Họ Nguyễn ở khóm 4, thị trấn Thạnh Hóa.

(5) Họ Phạm, xã Tân Bửu, huyện Bến Lức; họ Huỳnh, xã Phước Vân, huyện Cần Đước; họ Nguyễn, họ Lê, xã Thuận Thành, huyện Cần Giuộc…

(6) Họ Nguyễn ở xã Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Hưng cúng Việc lề vào giữa năm, 5-7.

(7) Trong đoạn văn tế trong đám cúng Việc lề dòng họ Đỗ xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành có đoạn: “... Hơn thế nữa, nhìn đất nước bị ngoại bang dày xéo, lòng chẳng đặng an khí tiết anh hùng  trỗi dậy mới lập đàn bái tướng , chiêu tập anh hùng, gom góp sản vật, bán bớt ruộng đất đứng lên theo Thủ Khoa Huân chống Pháp. Hai ông Đỗ Tường Phong, Đỗ Tường Tự  lấy vùng Bình Cách và hành lang Long Trì-Bình Dương (Mỹ Tho) làm cứ địa kháng chiến. Than ôi! Giáo mác thô sơ không địch nổi với súng Tây hùng mạnh, nên hai ông bị bắt và bị xử tử. Thảm thay! Thảm thay! Vậy bổn phận con cháu phải hết lòng tưởng niệm công đức tổ tiên chúng ta ví như trời cao biển rộng . Than ôi, nghĩ tới ngậm ngùi chua xót...”.

Từ đường của dòng họ Nguyễn ở xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức còn ghi bài thơ, tương truyền của Nguyễn Trung Trực thể hiện khí tiết của ông trước lúc hy sinh:

                                                                                                       Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên

                                                                                                        Yêu gian đảm  khí hữu long tuyền

                                                                                                        Anh hùng nhược ngộ vô dung địa

                                                                                                        Bảo hận thâm cừu bất đới thiên.

                                                                                                                            (Thi sĩ Đông Hồ dịch). 

13/10/2011 8:19 SAĐã ban hànhApproved
Đức Hòa: Về nguồn tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Long An Đức Hòa: Về nguồn tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Long An

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Hòa phối hợp Phòng Giáo dục và Đào tạo, Huyện đoàn tổ chức cho đoàn viên thanh niên Chi đoàn Khối Văn hóa Xã hội và cán bộ văn hóa xã hội của huyện về nguồn, tham quan tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh Long An.

11-10-2018 DUC HOA VE NGUON TIM HIEU CAC DI TICH LICH SU VAN HOA TINH LONG AN 111.JPG

Trong chuyến về nguồn, đoàn đã đến tham quan Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập (xã Tân Lập, huyện Mộc Hóa), Bảo tàng tỉnh Long An và Khu công viên tượng đài Long An trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc. Tại các nơi đến, cán bộ văn hóa xã hội và đoàn viên thanh niên đã được tìm hiểu về lịch sử quê hương Long An kiên cường, bất khuất, những trận đánh mang dấu son lịch sử gắn liền với vùng đất Đức Hòa nói riêng và Long An nói chung. Đồng thời, đoàn còn được tìm hiểu về những đặc trưng cũng như những động vật và thực vật của vùng đất Đồng Tháp Mười mùa nước nổi.

Thông qua hoạt động về nguồn đã góp phần tạo điều kiện giúp đoàn viên thanh niên và cán bộ văn hóa xã hội của huyện tìm hiểu thêm về lịch sử của tỉnh Long An; giao lưu, học tập trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý các di tích lịch sử - văn hóa; rút kinh nghiệm trong hoạt động bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử tại địa phương nói riêng và hoạt động ngành văn hóa của huyện nói chung, từ đó phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, ra sức lao động đóng góp xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp./.

Nhã Phương

18/10/2018 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ của nhân dânNguyễn Đình Chiểu, nhà thơ của nhân dân
Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Trần Văn Giàu khi thổ lộ tình cảm đối với nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã cho rằng:” ... Cụ là văn sĩ đầu tiên ca ngợi lòng yêu nước, chí quật cường của bần nông, một trình độ và tính chất yêu nước quật cường đặc biệt cao quí của những người, dân lân, dân ấp, những người đang cui cút làm ăn, lo toan nghèo khó, bỗng gặp đất nước lúc lâm nguy, vì mến nghĩa mà làm dân chiêu mộ

            Nguyễn Đình Chiểu hiệu là Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1.7.1822) tại Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình nhà nho.

           Ông đậu tú tài ở trường thi Gia Định năm Quí Mão (1843). Trong khi trở ra Huế chuẩn bị kỳ thi thứ hai khoa Kỷ Dậu (1849) thì ông được tin mẹ mất (1.1848) nên phải trở về chịu tang. Vì đau buồn thương khóc mẹ, trên đường về, ông lâm bệnh và bị mù cả đôi mắt.

            Con đường khoa bảng không thành, về Bình Vy (Gia Định) ông dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, sáng tác thơ văn. Từ đây ông có điều kiện gần gũi và gắn bó với dân hơn, hiểu biết về đồng bào mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ Lục Vân Tiên, tác phẩm được phổ biến rộng rãi trong dân. Pháp đánh chiếm thành Gia Định (2.1859), không sống chung với giặc, ông về làng Thanh Ba (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc), dạy học ở chùa Tôn Thạnh. Ở đây, sau sự kiện nghĩa quân ta tập kích đồn Tây Dương ngày 16.12.1861, Nguyễn Đình Chiểu đã viết áng văn bất hủ: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, và sau đó hoàn chỉnh tác phẩm Dương Từ-Hà Mậu. Vận nước càng trở nên lâm nguy, sau hòa ước Nhâm Tuất (6.1862), ba tỉnh miền Đông lọt vào tay Pháp, không chịu sống trong vùng giặc chiếm đóng, ông rời Cần Giuộc về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc Ba Tri, Bến Tre) tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Nghe tin Trương Định hy sinh, ông viết bài Văn tếMười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Thời gian ở đây ông viết thêm Ngư tiều y thuật vấn đáp. Trong cảnh đất nước rơi vào tay giặc, tác phẩm sau cùng của ông mang những niềm tâm sự sâu lắng hơn nhưng tấm lòng kiên trung bất khuất với nước với dân không hề suy xuyển. Nguyễn Đình Chiểu vẫn sống một cuộc đời thanh bạch, trước sau như một khước từ mọi sự mua chuộc của giặc.

Chùa Tôn Thạnh (xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc), nơi cụ Đồ Chiểu sáng tác “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

            Ngày 3.7.1888, Nguyễn Đình Chiểu trút hơi thở sau cùng để lại niềm tiếc thương trong bè bạn xa gần và quần chúng nhân dân. Dân gian truyền rằng cánh đồng An Bình ngày ấy trắng xóa khăn tang.

            Tuy thời gian Nguyễn Đình Chiểu ở Cần Giuộc, Long An ngắn ngủi (1859 -1862), nhưng dấu ấn của ông để lại thật sâu sắc qua bản anh hùng ca của người nông dân: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, tác phẩm đã đưa ông lên vị trí hàng đầu của các tác giả yêu nước nửa sau thế kỷ XIX.

            Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trong khi tuân thủ chặt chẽ lề luật của một bài văn tế thông thường, đã vượt lên thành một tác phẩm văn học độc đáo. Lần đầu tiên trong văn học thành văn Việt Nam xuất hiện hình ảnh người nông dân-chiến sĩ, người cố nông, bần nông-nghĩa sĩ. Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ Việt đầu tiên công khai vẽ lên và ngợi ca hình ảnh người anh hùng Chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm dân chiêu mộ. Nhà phê bình Hoài Thanh đã công nhận là từ trước khi có tác phẩm này, trong văn chương chưa hề có cái nhìn yêu thương và kính phục như vậy đối với người nông dân: Nhớ linh xưa côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó.( Thanh Thảo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc-Ngôi đền thiêng trong văn học, Thanh Niên số 137 ngày 17.5.2005). Nếu không phải là nhà thơ của nhân dân, nếu không sống đến tận cùng tâm cảm niềm đau nỗi khổ của nhân dân thì không bao giờ viết nên một áng văn như thế.

Bia lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu tại chùa Tôn Thạnh, do sở VH-TT Long An (nay là Sở VH,TT và DL) xây dựng năm 1998.

            Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Trần Văn Giàu khi thổ lộ tình cảm đối với nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã cho rằng:” ... Cụ là văn sĩ đầu tiên ca ngợi lòng yêu nước, chí quật cường của bần nông, một trình độ và tính chất yêu nước quật cường đặc biệt cao quí của những người, dân lân, dân ấp, những người đang cui cút làm ăn, lo toan nghèo khó, bỗng gặp đất nước lúc lâm nguy, vì mến nghĩa mà làm dân chiêu mộ. Thật suốt hàng ngàn năm sáng tác cho đến đấy và còn lâu về sau nữa, chưa có một thi nhân nào rung cảm chân thành và sâu sắc với dân cày như thầy Nguyễn Đình Chiểu của chúng ta. Chưa có ai như Nguyễn Đình Chiểu đắp nên tượng lộng lẫy của người nông dân anh hùng cứu nước! Ngay khi ca ngợi anh hùng Trương Định thì Đồ Chiểu không quên chú ý rằng Trương Định sở dĩ anh hùng chẳng những vì “binh pháp trăm trận thuộc làu, võ nghệ mấy ban cũng phải” mà trước hết vì thuận theo lòng nhân dân”Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền;Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại ...”

            Đã có biết bao nhiêu nhà lãnh đạo cách mạng, nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình, nhà sử học với những đánh giá, trước tác của mình cũng như những phát hiện mới về đạo làm người, đạo làm thầy, đạo làm văn chương của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Lần kỷ niệm này chúng ta cùng nhắc và nhớ lại một điều  không được phép quên: ở vào thời điểm khắc nghiệt nhất cho văn học và cho cả lịch sử, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã ca ngợi và đứng về phía những người nông dân – những người làm nên cách mạng./.

                                                                                    Bài, ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

02/12/2011 3:35 SAĐã ban hànhApproved
Người phụ nữ trên tượng đài ở thị trấn Bến LứcNgười phụ nữ trên tượng đài ở thị trấn Bến Lức

  Về Bến Lức, vào chợ (cũ) ta gặp ngay một tương đài người phụ nữ giương cao cờ đỏ búa liềm. Tại đây, ngày 4.6.1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh của nhân dân An Thạnh và các làng xung quanh đã nổ ra trực diện với kẻ thù, chống sưu cao thuế nặng. Và người phụ nữ được thể hiện trên tượng đài ấy là bà Chánh Thâu (Võ Thị Thú), người đi đầu trong cuộc đấu tranh ngày ấy.

Tượng đài người phụ nữ đi đầu trong phong trào đấu tranh chống thuế ở Bến Lức,  năm 1930. 

Sau khi các tổ chức Đảng hợp nhất thành Đảng Cộng sản (3.2.1930), đến khoảng tháng 3.1930, ở Trung Quận ( Bến Lức) đã có một số làng thành lập được chi bộ. Chi bộ các làng ở Trung Quận lúc này tích cực liên hệ với các đồng chí ở Xứ ủy để tổ chức đấu tranh nhằm tham gia phong trào kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1.5. Cuộc đấu tranh ngày 4.6.1930 nằm trong cao trào này. Đồng chí Nguyễn Văn Tuôi lúc bấy giờ là bí thư làng Long Phú (lãnh đạo luôn phong trào ở An Thạnh), trong hồi ký “ Thuở ấy chưa quên” (Theo con đường sáng - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long An, NXB Long An 1991) ghi lại rằng: “Khoảng tháng 4.1930, tôi lại lên Sài Gòn gặp đồng chí Huân (tức Ung Văn Khiêm) để lãnh báo Cờ đỏ và băng, cờ búa liềm đưa về Long Phú, đi bằng xe lửa. Chúng tôi ráo riết bí mật chuẩn bị phương tiện tranh đấu. Anh Cử Luyện ( Nguyễn Xuân Luyện) về phối hợp với đồng chí Tư Hân in truyền đơn ở An Thạnh tại nhà Hương bộ Tảo (Lê Văn Tảo) ... chúng tôi chuẩn bị lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1.5.1930 ...”. Đoạn hồi ký cho thấy cuộc đấu tranh của nhân dân làng An Thạnh dưới sự lãnh đạo của chi bộ Long Phú nằm trong cao trào đấu tranh kỷ niệm 1.5.1930.

Ngày 4.6.1930, hàng ngàn quần chúng nhân dân các làng An Thạnh, Long Phú, Long Hiệp, Thanh Hà kéo đến nhà việc Long Phú ( khu trụ sở UBND thị trấn Bến Lức hiện nay) đấu tranh trực diện với kẻ thù. Đặc biệt, cánh đấu tranh ở làng An Thạnh có đến khoảng 1.000 ngàn người  do bà Chánh Thâu (vợ Hương chánh Huỳnh Văn Thâu) và bà Cao Thị Xuyến (vợ Hương bộ Lê Văn Tảo) dẫn đầu. Mọi người đều mặc đồ đen. Phụ nữ mặc áo dài. Băng rôn cũng màu đen, chữ viết bằng vôi trắng, nội dung: “ bỏ thuế thân”, “ chia đất công điền cho dân cày nghèo”. Đoàn biểu tình mang theo cả trống, đánh liên hồi để tăng khí thế cho cuộc đấu tranh. Xuất phát từ đình An Thạnh, đoàn biểu tình theo lộ Lương Hòa (nay là tỉnh lộ 830) hướng về chợ Bến Lức. Khi đi ngang qua nhà việc An Thạnh, đoàn người dừng lại hô vang các khẩu hiệu đấu tranh. Khí thế của cuộc biểu tình đã làm cho tề làng An Thạnh hoảng sợ lẩn trốn. Đoàn biểu tình kéo qua cầu An Thạnh tiến về nhà việc Long Phú ở chợ Bến Lức.

Tại đây, lực lượng địch lúc này có 2 tiểu đội trang bị súng 24 (loại súng 1 nòng, nạp 1 viên đạn, thường gọi là súng oảnh-cách) do cai tổng Long Hưng Hạ là Trần Văn Cương (Huyện Cương) chỉ huy. Đến nhà việc, đoàn người dừng lại và hô vang khẩu hiệu đòi bỏ thuế thân, chia đất cho dân cày. Bà Chánh Thâu dẫn đầu đoàn người, giương cao cờ đỏ búa liềm, dũng cảm tiến lên phía trước yêu cầu giáp mặt Cai tổng Cương để đưa yêu sách.Trước khí thế của cuộc đấu tranh, địch hoàn toàn tê liệt. Cai tổng Cương đành phải chấp nhận yêu sách và hẹn ngày hôm sau sẽ có quan lớn trên tỉnh xuống ngã ba Thanh Hà giải quyết. Cuộc đấu tranh bước đầu thắng lợi, nhân dân hồ hởi ra về.

Lập tức các đồng chí trong chi bộ Long Phú phân công đi vận động khắp các làng chuẩn bị, ngày hôm sau khi nghe tiếng tù và (đồng chí Phạm Khương thổi) thì tập trung đấu tranh tại ngã ba Thanh Hà. Ở An Thạnh, không khí chuẩn bị cho ngày hôm sau hết sức rạo rực. Bà Chánh Thâu cho thịt 1 con heo và xôi 2 giạ nếp để phục vụ cho lực lượng tham gia biểu tình.Trống đình An Thạnh giục giã suốt đêm ấy, truyền đơn rải khắp làng.

Theo hẹn, sáng ngày 5.6.1930, các cánh đấu tranh ở các làng đồng loạt nổ ra nhưng địch lần này nham hiểm đã toan tính âm mưu đàn áp. Riêng cánh An Thạnh ngày hôm sau có đến gần 2.000 ngưòi. Đoàn kéo đến cống Bần (nay thuộc ấp 1 An Thạnh) thì gặp địch vừa đàn áp ở Long Phú kéo sang. Được lệnh của tên Renault, bọn lính khố xanh đàn áp dữ dội. Chúng xé cờ và bắt đi 30 người, trong đó có bà Chánh Thâu và bà Hương bộ Tảo mà chúng cho là những người cầm đầu. Cuộc đấu tranh tuy bị đàn áp nhưng đã gây tiếng vang lớn. Lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các làng ở Trung Quận đã trực diện với kẻ thù đòi quyền dân sinh cho người dân lao động. Đây là cuộc “tổng diễn tập” đầu tiên chống sưu cao thuế nặng, cũng là cuộc đấu tranh lớn nhất cho đến lúc bấy giờ ở Trung Quận. Cùng với các cuộc đấu tranh ngày 4.6 ở Đức Hòa, ở nhà hội Phước Vân (Cần Đước) ... trong cao trào 1.5.1930, cuộc đấu tranh này đã góp phần trực diện vào ách thống trị của thực dân Pháp trong những ngày đầu Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng ở Chợ Lớn.

Và cũng trong những ngày đầu đấu tranh ấy, vai trò của phụ nữ thực sự nổi bật mà tiêu biểu là bà Chánh Thâu và bà Hưong bộ Tảo.Ông bà Hương Chánh Thâu và Hương bộ Tảo, ngoài là tề làng nhưng trong là cơ sở cách mạng và về sau đã hướng con cháu đi theo cách mạng. Sau vụ việc trên, hai ông bị đài đi Côn Đảo vì tội làm “quốc sự” và chết luôn ngoài ấy. Riêng bà Chánh Thâu, năm 1995, Đảng và Nhà nước phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Về Bến Lức, nhìn tượng đài người phụ nữ giương cao cờ đỏ búa liềm ta như vẫn còn thấy hào khí cách mạng của cha ông năm nào. Địa điểm lịch sử ấy đã được UBND tỉnh Long An công nhận di tích lịch sử văn hóa (Quyết định số 119/QĐ.UB ngày 27.1.1994).

                                                                               Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

16/03/2012 7:47 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC GÒ DUỐI ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP TỈNH DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC GÒ DUỐI ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP TỈNH

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định xếp hạng di tích khảo cổ học cấp tỉnh đối với Di tích khảo cổ học Gò Duối. Di tích khảo cổ học Gò Duối thuộc ấp Trung Trực, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, cách tỉnh lộ 831C khoảng 500m về hướng Tây, có diện tích khoảng 4.727,3 mét vuông, nằm trên gò cao khoảng 2 mét so với mặt ruộng xung quanh, được Bảo tàng – Thư viện tỉnh Long An phát hiện vào ngày 18/01/1996 từ thông tin của những người dân đào vàng.

26-4-2019 hinh 1.jpg

Tính đến nay, Di tích khảo cổ học Gò Duối đã trải qua nhiều đợt khảo sát và một đợt khai quật vào tháng 10/2013 với diện tích hố khai quật 20 mét vuông, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 2 vết tích bếp lửa, 3 mộ táng và hiện vật thu được gồm: 03 hiện vật sắt, 21 hiện vật đồng, 02 hiện vật đồ trang sức bằng thủy tinh, 05 hiện vật đá, 06 mảnh gạch, 08 đồ gốm nguyên (dọi se sợi, bi và bát chân cao), 1.816 mảnh chạc gốm và 1.235 mảnh gốm vỡ (mảnh miệng, thân, đế của nồi, bình, bát bồng, vò…). Chất liệu gốm được chia làm ba nhóm, đó là gốm xương nâu đỏ, gốm xương đen và gốm xương vàng.

Theo các nhà khảo cổ học, di tích có niên đại bắt đầu khoảng 2.500 năm BP (cách ngày nay) và niên đại kết thúc khoảng cận kề trước sau công nguyên thuộc hậu kỳ kim khí. Di tích là nơi sinh sống lâu dài của cộng đồng cư dân cổ với những hoạt động kinh tế - văn hóa phong phú, tiêu biểu là tín ngưỡng tục chôn cất người chết. Đây là loại di chỉ cư trú, mộ táng có tầng văn hóa dày, phát triển liên tục và tương đối ổn định.

26-4-2019 hinh 2.jpg

Với những giá trị di tích, hiện vật quan trọng được phát hiện qua quá trình khai quật, Di tích khảo cổ học Gò Duối được UBND tỉnh Long An xếp hạng là di tích khảo cổ học cấp tỉnh, góp phân nâng tổng số di tích khảo cổ học cấp tỉnh của huyện Vĩnh Hưng lên hai di tích, sau di tích khảo cổ học Lò Gạch./.

 Phú Hùng

02/05/2019 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Sông Bảo Định xưa và naySông Bảo Định xưa và nay

Mỗi khi nhắc đến Long An, dù gần hay xa, du khách thường nghĩ ngay đến một Long An trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc, nhớ đến  dòng Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đi vào thơ ca, nhạc họa. Nhưng ít người biết đến một dòng sông có lịch sử lâu đời, được vua Gia Long đặt tên và cũng là con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới - chiếc xáng múc. Đó  là  sông Bảo Định.

Sông Bảo Định tục gọi là kênh Vũng Gù, là thủy lộ nối liền rạch Vũng Gù (Tân An) với rạch Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang. Kênh do Nguyễn Cửu Vân - danh tướng, triều thần đời chúa Nguyễn Phúc Chu (nhà Hậu Lê) - chỉ huy đào năm 1705 nhằm mục đích giao thông và phòng vệ. Sau một thời gian dài, con kênh dần bị bồi lấp, thuyền lớn phải đợi nước đầy mới đi được. Vì vậy, ngày 28 tháng giêng (âm lịch) năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long đã sai quan trấn thủ Định Tường là Bửu Thiện hầu Nguyễn Văn Phong lo việc nạo vét và nới rộng dòng chảy con kênh này.

Theo sử liệu, ngoài Nguyễn Văn Phong còn sự trợ giúp của Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý và vài viên quan khác nữa đã huy động 9.679 dân tráng trong trấn, chia làm ba tốp, thay nhau nạo vét. Dân phu làm thì được cấp cho mỗi người một quan tiền và một vuông gạo để chi dùng trong một tháng

Công trình cải tạo con kênh được tiến hành trong khoảng hơn ba tháng, khởi công ngày 23 tháng 2 năm 1819 và kết thúc ngày 28 tháng 5 năm 1819. Bảo Định trở thành con kênh đào đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long, được vua Gia Long đặt tên là Bảo Định hà (sông Bảo Định) và cho phép Huỳnh Công Lý được dựng bia ghi công ở bên bờ kênh gần chợ Thang Trông. Năm Ất Tỵ (1835), vua Minh Mạng cho đổi tên lại là Trí Tường giang (sông Trí Tường), có tạc bia đá dựng nơi bờ sông thôn Phú Kiết. Đời vua Thiệu Trị, không rõ năm nào, lại đổi tên thành sông An Định.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, sông Bảo Định trở thành nơi ghi dấu sự kiện lịch sử “Bảo Định hà lưu huyết”. Cuối tháng 3/1861, quân Pháp từ Vũng Gù theo kinh Bảo Định đánh chiếm thành Định Tường. Nguyễn Trung Trực - người hoạt động trong đạo quân đồn điền của Trương Định ngay từ buổi đầu tiên, lúc bấy giờ giữ chức Quyền Sung Quản Binh Đạo, hoạt động kháng Pháp tại địa bàn Phủ Tân An - đã chỉ huy nghĩa quân chặn đường hành quân của giặc Pháp, diệt tên chỉ huy là trung tá Bourdais và 30 lính. Paulin Vial, trong tác phẩm Historie de la Cochichine đã viết: “ Chưa có cuộc hành quân nào ở Nam Kỳ mà mệt nhọc và bị nhiều người chết chóc bằng cuộc hành quân này...”

Đến năm 1867, quân Pháp đã dùng máy xáng để mở rộng kênh này và cho đổi tên là Arroyo de la Poste (kênh Bưu Điện). Bảo Định trở thành con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới là chiếc xáng múc. Toàn bộ con sông dài 22km, nối liền sông Vàm Cỏ Tây khu vực thành phố Tân An với sông Mỹ Tho, riêng đoạn nằm trên địa phận Long An dài 7km.

Kể từ khi hoàn thành, sông Bảo Định luôn giữ một vai trò quan trọng về các mặt: quân sự, thủy lợi, giao thông và cung cấp một phần nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng.

Hơn 3 thế kỷ đã trôi qua, sông Bảo Định đã có nhiều thay đổi. Đoạn nối liền sông Vàm Cỏ Tây - khu vực thành phố Tân An - không còn cảnh trên bến dưới thuyền mà thay vào đó, hai bên bờ sông phố xá đông đúc, dân cư sinh hoạt, buôn bán tấp nập. Dọc theo bờ sông là các công trình văn hóa, công viên, khu vui chơi giải trí, khu hành chánh …và di tích lịch sử Nhà Tổng Thận – trụ sở công khai đầu tiên của Tỉnh ủy Tân An sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Với người dân Tân An, tự bao giờ sông Bảo Định đã gắn bó như một phần máu thịt. Và tin rằng không chỉ người dân Long An truyền tai nhau những câu chuyện gắn liền với kênh Vũng Gù - Bảo Định hà - Trí Tường giang – sông An Định – kênh Bưu Điện…, mà còn rất nhiều người biết và muốn biết về một dòng sông được ghi chép nhiều trong sách sử bởi những điều đặc biệt của nó - sông Bảo Định./.

   

Cầu dây Tân An bắt qua sông Bảo Định 

Một góc sông Bảo Định

Di tích lịch sử Nhà Tổng Thận nằm bên dòng Bảo Định

Bảo Định hà lưu huyết (trong Chống Xâm Lăng của Trần Văn Giàu)

   

Cầu Phú Kiết bắt qua dòng Bảo Định tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Chợ Phú Kiết (khu vực chợ Thang Trông xưa)- xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Công trường xây dựng cống Tân An trên sông Bảo Định

Cống Tân An trên sông Bảo Định khi hoàn thành

Bài và ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

27/06/2012 2:55 SAĐã ban hànhApproved
Những chiếc rìu đá thời tiền sử vừa phát hiện ở Long AnNhững chiếc rìu đá thời tiền sử vừa phát hiện ở Long An
Thực hiện chương trình điều tra, thám sát khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Long An năm 2010, Bảo tàng Long An đã ghi nhận thêm 3 địa điểm phát hiện công cụ bằng đá trên 3 vùng sinh thái đặc trưng ở Long An. Phát hiện này đã được tác giả báo cáo tại Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 46 tại Hà Nội (29-30/9/2011).

Thực hiện chương trình điều tra, thám sát khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Long An năm 2010, Bảo tàng Long An đã ghi nhận thêm 3 địa điểm phát hiện công cụ bằng đá trên 3 vùng sinh thái đặc trưng ở Long An. Phát hiện này đã được tác giả báo cáo tại Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 46 tại Hà Nội (29-30/9/2011).

1. Phát hiện:

Tại Đức Huệ, ông Trần Văn Hiệp - Trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện đã thu hồi và chuyển giao cho Bảo tàng một chiếc rìu đá. Hiện vật đã được phát hiện tại Gò Miếu Ông thuộc ấp 6, xã Mỹ Thạnh Đông huyện Đức Huệ. Đây là một chiếc rìu vai xuôi, thân hình thang, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, lưỡi thẳng, nhưng phần rìa lưỡi đã vỡ mất. Rìu được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic) màu xám xanh, bề mặt bị patin hóa, có màu xám nhạt. Rìu có chiều dài 9 cm; chuôi dài 3,7 cm; rộng 3,5 cm; bề dày 1,7cm.

 Rìu vai xuôi, phát hiện ở Gò Miếu Ông (Mỹ Thạnh Đông, Đức Huệ, Long An).

Trên vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Long An, Nguyễn Tấn Quốc - cán bộ Bảo tàng đã khảo sát địa bàn và thu hồi 2 hiện vật bằng đá do ông Phạm Văn Xem, người địa phương. Hiện vật đã được phát hiện tại khu vực Đìa Vàng - gần Kênh 61, thuộc xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa. Hiện vật thứ nhất là một chiếc rìu vai xuôi, thân hình thang dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật hơi lồi ở hai cạnh dài, lưỡi cong lồi. Rìu được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic) màu xám đen (quan sát được qua một vết vỡ trên lưỡi), bề mặt bị patin hóa mạnh, tạo nên lớp áo màu xám trắng. Rìu có chiều dài 13 cm; chuôi dài 2,1 cm; rộng 5,8 cm; bề dày 2,1 cm. Hiện vật thứ hai là một chiếc rìu không có vai, thân hình thang dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật hơi lồi ở hai cạnh dài, lưỡi cong lồi, có một số vết vỡ nơi rìa cạnh. Rìu được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic) màu xám đen, bề mặt bị patin hóa mạnh, tạo nên lớp áo màu xám. Rìu có chiều dài 18 cm; chiều rộng 6 cm; bề dày 1,2 cm.

 Hai chiếc rìu phát hiện ở Đìa Vàng (Tân Hiệp, Thạnh Hóa, Long An).

Tại huyện Cần Giuộc, Văn Ngọc Bích - cán bộ Bảo tàng đã khảo sát địa bàn và thu hồi một chiếc cuốc đá cùng với một số mảnh gốm có kích thước lớn và rất dày trong khu vực Rạch Tràm, thuộc ấp Phước Lý, xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc. Đây là một chiếc cuốc có vai, thân hình thang dài, mặt cắt hình chữ nhật, lưỡi vát một bên, được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic), bề mặt bị patin hóa rất mạnh, toàn bộ hiện vật có màu trắng ngà, lẫn màu nâu nhạt do nhuộm chất oxyd sắt trong lòng đất. Cuốc có chiều dài 22 cm; rộng 5 cm; bề dày 2,3 cm.

 Cuốc đá phát hiện tại Rạch Tràm (Phước Lý, Cần Giuộc, Long An).

2. Nhận thức:

Trên địa bàn tỉnh Long An chỉ có trầm tích phù sa, nằm rất xa những đồi núi đá miền Đông Nam Bộ. Do vậy, cư dân cổ ở đây, khi cần đến những công cụ đá để sử dụng, họ phải đi xa, khai thác nguyên liệu thô để về chế tác hoặc trao đổi sản vật  từ các địa bàn khác. Sự khan hiếm nguyên liệu đá có thể đã tạo nên ảnh hưởng đến cách chế tác và sự tận dụng công cụ bằng đá ở địa phương. Ở vùng xa hơn về phía đông và phía bắc như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh có nhiều lộ điểm đá và một số công xưởng chế tác công cụ đá được phát hiện và nghiên cứu, dẫn đến nhận định rằng có thể một số đồ đá ở Long An có xuất xứ từ những địa bàn trên.

Chiếc rìu vai xuôi phát hiện ở Gò Miếu Ông (Mỹ Thạnh Đông, Đức Huệ) có hình dạng và chất liệu gần gũi với rìu vai xuôi (giai đoạn An Sơn II) phát hiện ở di tích An Sơn (1) Hòa) và chắc hẵn có mối quan hệ rất gần với di chỉ Rạch Heo (Mỹ Thạnh Đông, Đức Huệ, là một di chỉ tiền sử đã được khảo sát năm 1996).

Hai chiếc rìu phát hiện ở Đìa Vàng (Tân Hiệp, Thạnh Hóa) có hình dạng và kích thước gần gũi với rìu đá Lộc Giang(2) (Đức Hòa), thể hiện qua rìa lưỡi cong lồi (hình móng tay) và thường được gọi là bôn hình móng.

Chiếc cuốc đá phát hiện tại Rạch Tràm (Phước Lý, Cần Giuộc) là một hiện vật có hình dạng và kích thước khá đặc biệt so với những công cụ đá từng được phát hiện trước đây ở Long An, kể cả so với bộ sưu tập rìu đá phát hiện ở Cần Giuộc(3) (khai quật năm 1978 và 2002), nhưng rất giống với cuốc đá ở lưu vực sông Đồng Nai.

Như chúng ta đều biết rằng môi trường tự nhiên của Long An khá đa dạng, hoạt động sinh tồn của cư dân cổ ở đây chắc hẵn cũng khác nhau và như vậy, đồ dùng hằng ngày của họ cũng phải có nhiều biến thể để phù hợp với hoạt động trên môi trường riêng của từng cộng đồng. Những hiện vật trên đây đã góp phần cho việc bổ sung danh mục địa điểm có công cụ đá thời tiền - sơ sử trên đất Long An, làm cơ sở cho công tác nghiên cứu khảo cổ học thời tiền - sơ sử ở địa phương trong mối quan hệ với miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới./.

                                                                                 Bài và ảnh: Vương Thu Hồng

Tư liệu dẫn

1. Vương Thu Hồng (2005), Hệ thống niên đại C14 các di tích Tiền- Sơ sử ở tỉnh Long An, Báo cáo tại Hội thảo khoa học trẻ- Đại học KHXH&NV Tp.HCM (tháng 12/2005).

2. Nishimura Masanari (2002), “Chronology of the Neolithic Age in the Southern Vietnam”. Journal of Southeast Asia Archaeology , No.2, pp. 25-57.


(1) Theo tư liệu từ  cuộc khai quật An Sơn (lần thứ II), năm 1997, Tầng văn hóa ở hố H1 dày 4 mét, baogồm 3 lớp  văn hóa diễn biến trực tiếp lên nhau và được chia làm 4 giai đoạn (căn cứ vào diễn biến hình thể của đồ gốm), với các chỉ số niên đại C14 từ sớm đến muộn như sau: 

* Giai đoạn đầu tiên (An Sơn I): lớp L3-5, sâu nhất, có 4 niên đại C14 là: 3.990 ± 190 BP (TKa- 11541); 3.840 ± 40 BP (TKa- 11256); 3.780 ± 120 BP (TKa- 11817) và 3.690 ± 80 BP (TKa- 11816).

* Giai đoạn thứ hai (An Sơn II): lớp L3-4 đến lớp L3-1, có 4 niên đại C14 là: 3.820 ± 70 BP (L3-4: ANU- 10880); 3.310 ± 110 BP (L3-3: TKa- 11823); 3.310 ± 90 BP (L3-2: TKa- 11824) và 3.390 ± 80 (L3-1: TKa- 11822).

* Giai đoạn thứ ba (An Sơn III): lớp L2-21b tới lớp L2-7, có 5 niên đại C14 là: 3.320 ± 130 BP (L2-21b: TKa- 11821); 3.370 ± 80 BP (L2-17: ANU- 10880); 3.310 ± 90 BP (L2-17: TKa- 11820); 3.200 ± 90 BP (L2-14: TKa- 11818) và 3.190 ± 110 BP (L2-12: TKa- 11819).

* Giai đoạn thứ tư (An Sơn IV): lớp L2-7 đến lớp L1-1, không có số liệu niên đại (Nishimura Masanari, 2002: 25-57).

(2) Theo tư liệu từ cuộc khai quật Lộc Giang (1993), đây là một di tích lớn với 2 thời kỳ văn hóa rõ rệt mà tầng văn hóa bên dưới (giai đoạn đầu) thể hiện một di chỉ cư trú và mộ táng thời tiền sử, có các lớp than tro dày, có nhiều màu (đen, vàng , cam, đỏ, trắng) và phần trên đỉnh gò là phế tích kiến trúc bằng gạch nung thuộc giai đoạn văn hóa Óc Eo. Niên đại C14 giám định bởi 2 mẫu than gỗ thu từ đợt khai quật năm 1993 gồm có:

- Mẫu LG93-T-01-H1L14 lấy ở độ sâu 2,25m, nơi tiếp xúc giữa tầng văn hóa sớm nhất với tầng sinh thổ là 3.950 ± 75 năm cách ngày nay.

- Mẫu LG93-T-02-H2L5 ở độ sâu 0,80m nơi tiếp xúc giữa tầng văn hóa tiền sử với tầng đất có sự xáo trộn giữa gốm tiền sử với gốm Óc Eo ở bên trên, có niên đại 1.490 ± 50 năm cách ngày nay.

(3) Theo tư liệu từ cuộc khai quật Rạch Núi lần thứ II (2003), niên đại C14, có 3 chỉ số được phân tích từ các mẫu than gỗ, thu thập trong các lớp văn hóa trong hố khai quật H1 (2003):

- Mẫu thứ nhất: ký hiệu NHK-177/1 lấy ở độ sâu 1,30 m, niên đại là 2.560 ± 130 năm cách ngày nay.

- Mẫu thứ hai: ký hiệu NHK-177/2 lấy ở độ sâu 2,35 m, niên đại là 3.330 ± 100 năm cách ngày nay.

- Mẫu thứ ba: ký hiệu NHK-177/3 lấy ở độ sâu 4,70 m, niên đại là 3.634 ± 85 năm cách ngày nay. 

17/11/2011 8:40 SAĐã ban hànhApproved
TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)

    Đầu năm 1859, sau khi vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, thực dân Pháp bỏ dở cuộc tấn công Đà Nẵng để kéo quân vào đánh chiếm Nam Kỳ. Ngày 19/2/1861, thành Gia Định thất thủ, triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương làm Thống đốc quân vụ đại thần vào Nam xây dựng đại đồn Chí Hòa để ngăn chặn quân Pháp, không cho chúng đánh ra lục tỉnh Nam Kỳ. Ngày 24/2/1861, Pháp tăng cường lực lượng phá vỡ đại đồn Chí Hòa rồi tiến quân đánh chiếm Mỹ Tho, Tân An, Cần Giuộc, Gò Công, Rạch Kiến. Để bảo vệ tấc đất ngọn rau mà cha ông đã dày công khai phá, nhân dân phủ Tân An đã dựng cờ kháng chiến dưới sự lãnh đạo của các thân hào, nhân sĩ địa phương như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phạm Tuấn Phát…Ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu L’Espérance tại Vàm Nhựt Tảo, mở đầu cho những trận công kích vào giặc Pháp ở Nam Kỳ. Đêm rằm tháng mười một năm Tân dậu (16/12/1861), nghĩa quân đồng loạt tấn công vào các đồn giặc ở Cần Giuộc, Gò Công và Tân An. Tại Cần Giuộc, nghĩa quân đã đánh úp đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình, đốt nhà thờ, giết viên tri huyện người Pháp và một số lính Mã-tà, Ma-ní. Giặc Pháp phải huy động tàu chiến đến sông Cần Giuộc bắn đại bác dữ dội lên đồn mới đẩy lui được nghĩa quân. Trong trận này, 15 nghĩa quân đã hy sinh, trong đó phần nhiều là người làng Mỹ Lộc (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc). Thi hài của các nghĩa sĩ này được chôn cất tại khu lau sậy sầm uất gần chợ Trường Bình (nay là khu vực Hồ nước Cần Giuộc). Nhân dân còn xây một miếu nhỏ để làm nơi thờ phượng các nghĩa sĩ trận vong nhưng nói tránh đi là Miếu Cô hồn để thực dân Pháp khỏi dòm ngó. Về sau, giặc Pháp biết được nên bắt dân phá miếu, đào mồ mã, nạo vét thành hồ nước.

    Xúc động trước tấm lòng dũng cảm và sự hy sinh oanh liệt của những người nghĩa sĩ nông dân, Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên áng văn bất hủ”Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Với lời lẽ vô cùng bi tráng, thống thiết, kiệt tác văn chương này đã làm rung động mãnh liệt tâm hồn, tình cảm của nhân dân cả nước. Bằng ngòi bút tài hoa với những hình tượng văn học độc đáo, mỹ lệ của Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên, người nông dân chân lấm tay bùn, rất mực bình thường, chỉ biết ‘cui cút làm ăn” bổng trở thành những anh hùng cứu nước. Đây chính là tượng đài lịch sử mà ông đã dựng lên để tôn vinh tinh thần yêu nước quên mình của những người “dân ấp, dân lân” cho sự sống còn của dân tộc và Tổ quốc. Những nghĩa sĩ này, thời bình là người nông dân, chưa bao giờ biết tới cảnh chiến tranh, máu lửa. Nhưng tiếng súng giặc đã vang rền trên bầu trời Gia Định, gót giày đinh của giặc đang giày xéo mồ mả cha ông nên họ phải đứng lên kháng chiến để bảo vệ ngọn rau, tấc đất mà bao thế hệ đi trước đã dày công khai phá. Những người “dân ấp, dân lân” này chỉ với một manh áo vải, một ngọn tầm vông đã dám đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh, có trong tay nhiều tàu to, súng lớn. Họ chiến đấu với một tinh thần dũng cảm mà muôn đời sau phải cúi đầu kính ngưỡng:

Chi nhọc quan quản đánh trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc như không.

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã-tà, Ma-ní hồn kinh.

Bọn hè trước, lũ ó sau, nào sợ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”.

Là những người trọng nghĩa, luôn nhớ câu “Kiến nghĩa bất vi” của thánh hiền, họ sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chiến đấu tới cùng vì chân lý “Chết vinh hơn sống nhục”:

Thà chết mà đặng câu địch khái, theo cùng tổ phụ cũng vinh.

Hơn sống mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Tinh thần ấy, khí tiết ấy của những người nghĩa sĩ nông dân còn mãi với thời gian, dù trận công đồn Tây Dương đã “một trận khói tan” nhưng vẫn “ngàn thu tiết rỡ”. Có thể nói rằng, cùng với ánh trăng rằm tháng 11 năm xưa, tấm lòng son của người nghĩa sĩ nông dân mãi mãi sáng soi trong tâm hồn của biết bao thế hệ tiếp nối. Cũng từ đó, hình tượng của những nghĩa sĩ nông dân này đã trở thành một tượng đài sừng sững trong lòng của mỗi người dân nước Việt.

Kế tục truyền thống chống ngoại xâm của những người nghĩa sĩ nông dân ấy, nhân dân Long An đã viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, thà chết vinh hơn sống nhục của cha ông năm xưa đến hôm nay được làm sáng tỏ thêm bởi  chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của thời đại Hồ Chí Minh và được người Long An phát huy cao độ thành truyền thống “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”. Với ý nghĩa ấy,  trận công đồn Tây dương đêm rằm tháng 11 năm Tân dậu cùng với tinh thần và khí phách của người Nghĩa sĩ Cần Giuộc xứng đáng được  thệ hệ hôm nay và mai sau, kế thừa, phát huy hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

14/12/2011 7:30 SAĐã ban hànhApproved
THÀNH PHỐ TÂN AN SƠ KẾT 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI THÀNH PHỐ TÂN AN SƠ KẾT 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI

 Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 41-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) trên địa bàn thành phố Tân An, nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt. Công tác tuyên truyền triển khai Chỉ thị luôn được quan tâm thực hiện từ thành phố đến xã, phường với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng địa phương; công tác vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự, phòng, chống cháy nổ trong lễ hội được thực hiện nghiêm túc; các di tích thường xuyên được đoàn viên, thanh niên, học sinh và nhân dân chăm sóc, bảo quản; công tác trùng tu, sửa chữa các di tích được quan tâm, trong đó đã sửa chữa Di tích Nhà Tổng Thận từ nguồn ngân sách nhà nước gần 1 tỷ đồng và đang trình hồ sơ đề nghị nâng cấp 2 cổng Lăng Nguyễn Huỳnh Đức. Ngoài ra, công tác xã hội hóa cũng được quan tâm thực hiện như vận động xã hội hóa tráng sân trước cổng, xây bồn hoa, gắn 2 camera an ninh Di tích Nhà Tổng Thận và xây dựng cổng Di tích Nhà Vuông với kinh phí 168 triệu đồng.

27-7-2020 hinh so ket 5 nam.jpg

Đoàn viên thanh niên tham gia dọn dẹp vệ sinh tại Di tích Nhà Tổng Thận

Trên địa bàn thành phố hiện nay có 7 di tích, trong đó có 1 di tích cấp quốc gia (Lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức), 6 di tích cấp tỉnh (Nhà Tổng Thận, Nhà thuốc Minh Xuân Đường, Đình Khánh Hậu, Đình Xuân Sanh, Nhà Vuông, Miếu Quan Thánh Đế) và các hoạt động tín ngưỡng (22 đình, 11 miếu) với trên 30 lễ hội khác nhau. Thông qua các hoạt động lễ hội nhằm giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn", tôn vinh người có công với dân, với nước, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế trong hoạt động lễ hội như: Ở một vài nơi vẫn còn tình trạng thắp hương nghi ngút, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của một số người tham gia lễ hội chưa tốt còn xả rác bừa bãi,… trong lễ hội.

Thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý và tổ chức lễ hội; thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh trong hoạt động lễ hội; vận động nhân dân tham gia lễ hội có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích; tăng cường công tác kiểm tra, rà soát địa bàn, kịp thời chấn chỉnh những vi phạm pháp luật về hoạt động lễ hội; phát huy vai trò của lễ hội trong việc bảo tồn và giữ gìn lễ hội truyền thống của địa phương, dân tộc đối với việc hội nhập và phát triển văn hóa của địa phương./.

Minh Liễu

27/07/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
BÀ MẸ CHẶN XE TĂNG ĐỊCHBÀ MẸ CHẶN XE TĂNG ĐỊCH

        Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với những thành tích và đóng góp lớn lao cho công cuộc giải phóng đất nước, quân và dân Long An đã được Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tuyên dương danh hiệu "Trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc" (tháng 9/1967). Đây không chỉ là một danh hiệu mà đã trở thành truyền thống của một vùng đất. Và ở nơi mà mỗi người dân là một chiến sĩ này thì những người mẹ lại càng có vai trò đặc biệt. Chị Tư Cào, người dân thường gọi là bà mụ Cào ở ấp An Hiệp, xã An Ninh (nay là xã An Ninh Tây), huyện Đức Hòa là một người như thế. Chị có tên khai sinh là Võ Thị Cào, sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân, có chồng là chiến sĩ của Chi đội 15 trong kháng chiến chống Pháp. Đây là một người phụ nữ rất kiên cường, dũng cảm và mưu trí trong đấu tranh với kẻ thù.

         Về tình hình chiến sự, Long An vào cuối năm 1965 phong trào phá ấp chiến lược, đập tan đồn bót địch đạt được kết quả rất tốt: Giải phóng được 47 xã (huyện Đức Huệ được giải phóng hoàn toàn), đánh quỵ Sư đoàn 25, giải phóng cơ bản tỉnh Long An. Như vậy chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" dùng người Việt đánh người Việt đã hoàn toàn thất bại, Mỹ Diệm đã chuyển sang chiến lược mới là "Chiến tranh cục bộ". Năm 1966 quân Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường Long An, chúng tăng cường khủng bố, đàn áp và càn quét vào các khu dân cư… Ngay lập tức Tỉnh ủy đã phát động phát động phong trào toàn dân đánh Mỹ bằng vũ khí thô sơ, phong trào thi đua chiến đấu để giành danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ.

       Ở xã An Ninh huyện Đức Hòa - quê hương của chị Tư Cào - trong những đợt càn quét, bọn Mỹ, Ngụy cho xe tăng, xe bọc thép dàn hàng ngang càn nát đồng lúa, ruộng đậu của người dân. Căm thù trước những hành động tàn ác của giặc Mỹ, chị đã xông ra cản đầu xe tăng địch. Bằng những động tác linh hoạt, lý lẽ xác đáng chị đã buộc đoàn xe tăng của địch phải dừng lại và đi theo hướng khác không có hoa màu. Lần khác, chị đã vận động nhiều chị em phụ nữ cùng xông ra cản đầu xe tăng địch và chỉ hướng cho chúng đi theo lối ta đã gài mìn sẵn. Kết quả là đoàn xe đã sa vào bãi mìn của ta. Sau lần chặn xe tăng địch chị Tư Cào được cách mạng tổ chức một buổi lễ trao tặng bằng khen, trong bài phát biểu tuyên dương thành tích của chị có câu:

"Bà Cào lại có trí cao

Đuổi xe Mỹ lại đằng sau ăn mìn"

        Cảm kích trước tinh thần dũng cảm, khí phách kiên cường của người phụ nữ này, năm 1966 họa sĩ Lê Lam đã vẽ nên hình tượng người phụ nữ cản đầu xe tăng địch rất sống động. Bức tranh có tên "Dừng lại", miêu tả một người phụ nữ trong trang phục áo bà ba, tóc búi cao, đứng giữa đồng ruộng với khí phách hiên ngang, dang hai tay ngăn cản đoàn xe tăng địch. Trên bầu trời những chiếc máy bay địch đang quần thảo. Quả là một người phụ nữ kiên cường, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Bức tranh ký họa trên đã được in ra hàng ngàn bản để phục vụ công tác tuyên truyền tại chiến trường Long An trong hai năm 1967-1968. Năm 1969, bức tranh đã được gởi ra miền Bắc, gây được sự xúc động lớn vì bức tranh đã khái quát điển hình khí phách anh hùng của dân tộc Việt Nam. Bức tranh đã được in màu hàng triệu bản với nhiều kích thước khác nhau, được gởi đi khắp nơi trong nước và trên thế giới.

ChanXeTangLeLam.jpg

Mẹ Cào trong bức tranh Dừng lại của họa sỹ Lê Lam

         Sau năm 1975, bà mẹ chặn đầu xe tăng địch năm xưa công tác trong Ban Chấp hành Phụ nữ xã An Ninh, vài năm sau thì bệnh và nghỉ hưu. Bà mất năm 1998, thọ 76 tuổi.

         Bà mụ Cào - mẹ Cào là một trong hàng triệu người phụ nữ Việt Nam sẵn sàng hy sinh thân mình vì quê hương, đất nước, là hình mẫu của người phụ nữ "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang"./.

Bài: HỒ PHAN MỘNG TUYỀN

Ảnh: Văn Ngọc Bích

09/06/2016 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Đám lá Tối TrờiDi tích lịch sử Đám lá Tối Trời

Đám lá Tối Trời là khu vực sình lầy, sông rạch chằng chịt, mọc đầy dừa nước và các loài cây hoang dại, tọa lạc ven bờ Vàm Cỏ Tây thuộc ấp Thuận Lợi, xã Nhựt Ninh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Từ thị trấn Tân Trụ, du khách theo đường tỉnh 833 đến ngã ba Nhựt Ninh, tiếp tục rẽ vào lộ Bình Thuận khoảng 2km thì đến di tích .

Trước đây, đám lá có dạng như 1 cái túi lớn, được sông Vàm Cỏ bao bọc ở 3 mặt đông, tây và nam. Từ  sông lớn, có hơn 10 con rạch đổ vào trung tâm đám lá. Trước năm 1945, nơi đây chỉ là 1 doi lá rộng khoảng 6 ha thuộc quyền sở hữu của ông Phan Văn Mun, thường được gọi là Doi ông Mun hay là Đám lá lớn.  Sau Cách mạng Tháng Tám-1945, khu vực này được chọn làm căn cứ cách mạng của xã Nhựt Ninh. Để tạo địa hình cho căn cứ, cách mạng đã vận động nhân dân ngưng đốn lá, trồng cây gây rừng. Qua thời gian, diện tích địa hình đã phát triển lên hơn 50ha với nhiều loại cây hoang dại như: ô rô, cóc kèn, bần, mắm, vẹt...mà nhiều nhất là dừa nước. Nằm ở khu vực giáp ranh giữa 3 huyện Cần Đước, Châu Thành, Tân Trụ, có địa hình thuận lợi nên nơi đây nhanh chóng phát triển thành một lõm căn cứ quan trọng trong hệ thống liên hoàn các căn cứ du kích của tỉnh Long An. Ngày 16-8-1948, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn, dùng xe bọc thép và tàu chiến bao vây căn cứ với ý đồ tiêu diệt lực lượng cách mạng đang trú đóng nơi đây. Tuy nhiên, cuộc hành quân của chúng đã thất bại vì gặp phải địa hình phức tạp, dưới thì sinh lầy, trên thì âm u, rậm rạp, khó tìm được lối ra nếu không thông thạo. Vì thế, chúng gọi nơi đây là Đám lá Tối Trời và cũng từ lúc này, tên Đám lá Tối Trời trở thành một địa danh nổi tiếng gắn liền với lịch sử kháng chiến chống xâm lược của đất và người Long An.

Trong suốt 30 năm (1945-1975), Đám lá Tối Trời là căn cứ quan trọng trong hệ thống liên hoàn các căn cứ kháng chiến của tỉnh Long An. Từ cuối năm 1954, tỉnh ủy Long An đã về lập cơ sở ở Đám lá Tối Trời. Các huyện lân cận cũng lấy nơi đây làm hậu cứ. Công binh xưởng, trạm quân y, các lớp bồi dưỡng, huấn luyện về quân sự, chính trị cũng được tổ chức tại Đám lá Tối Trời để phục vụ cho công cuộc kháng chiến. Trong từng giai đoạn lịch sử, nơi đây là căn cứ của nhiều lực lượng, từ cấp miền đến cấp huyện, xã. Có lúc, bộ phận quân y của R, các cơ quan lãnh đạo của Phân khu 3 và nhiều đơn vị vũ trang của tỉnh đã về đóng tại Đám lá Tối Trời. Trong cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa tết Mậu Thân-1968, Đám lá Tối Trời là cơ sở quân y lớn, chữa trị cho hơn 300 thương binh từ tiền tuyến chuyển về mà vẫn đảm bảo an toàn.

Đám lá Tối Trời thực sự là cái gai trong mắt địch. Vì thế, chúng đã sử dụng các phương tiện chiến tranh hiện đại, mở những đợt càn quét quy mô vào Đám lá Tối Trời hòng hủy diệt căn cứ của ta, nhưng lần nào chúng cũng thất bại thảm hại. Điển hình là trong trận chống càn ngày 22-1-1966, bộ đội và du kích đã tiêu diệt 200 tên địch, trong đó có 4 cố vấn Mỹ, 1 đại úy ngụy, bắn chìm 1 tàu chiến, thu nhiều vũ khí chiến lợi phẩm.

Từ năm 1965, cứ 15 phút, bọn địch lại nã pháo vào Đám lá Tối Trời. Tàu chiến của chúng mỗi khi xuôi ngược trên  hệ thống sông Vàm Cỏ, ngang qua Đám lá Tối Trời đều không quên trút đạn vào đây. Cho đến năm 1975, Đám lá Tối Trời đã hứng chịu hàng ngàn tấn bom đạn của kẻ thù. Đặc biệt, từ sau tết Mậu Thân, địch đã điên cuồng rải chất độc hóa học, phun xăng dầu đốt cháy cây cối, hòng hủy diệt địa hình Đám lá Tối Trời. Trong giai đoạn khó khăn này, lực lượng ta phải tạm rút về Châu Thành. Đến năm 1970, ta tiếp tục trở lại xây dựng căn cứ, tiếp tục chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn (30-4-1975).

Để căn cứ tồn tại suốt 30 năm trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, nhiều đồng bào, chiếm sĩ cách mạng đã chiến đấu và hy sinh anh dũng, để lại cho đời những tấm gương chói lọi. Nhân dân vùng căn cứ một lòng một dạ sắt son với Đảng, quyết tâm ủng hộ cách mạng đến cùng. Ông Võ Văn Vọng dù bị hàng chục vết thương, chỉ còn 1 chân, 1 tay nhưng vẫn quyết bám trụ, chiến đấu ở căn cứ. Năm 1969, địch bắt được ông và hứa sẽ bảo toàn tính mạng nếu ông chịu rời bỏ Đám lá Tối Trời. Ông nói rằng:”Tụi bây bắn tao đi chứ tao đã thề chết sống ở mảnh đất này” rồi hy sinh oanh liệt. Nhân dân nơi đây đánh giặc và bảo vệ căn cứ theo cách riêng của mình. Những câu chuyện tưởng chừng như là giai thoại về dùng ong vò vẽ diệt Mỹ, về một chị phụ nữ dùng binh vận đẩy lui cả môt trận càn đều là người thật, việc thật. Nhân dân đã dùng trí thông minh, lòng dũng cảm để qua mắt địch, tiếp tế lương thực, thuốc men, vũ khí...giúp lực lượng cách mạng hoàn thành nhiệm vụ kháng chiến. Nhiều cô bác bị đốt nhà hàng chục lần, bị bắt giam, tra tấn như cơm bữa như vẫn không nao núng, vẫn quyết tâm bám trụ căn cứ. Vì thế, Đám lá Tối trời đã trở thành căn cứ của lòng dân, nên dù địch có dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn hòng hủy diệt nhưng căn cứ vẫn tồn tại như là một điểm son trong trang sử chống xâm lược của quân và dân tỉnh Long An. Với những giá trị tiêu biểu ấy,  Đám lá Tối Trời đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử tại Quyết định số 1105/UB-QĐ, ngày 18-6-1993.
                                                                                               Nguyễn Văn Thiện

26/06/2012 1:50 SAĐã ban hànhApproved
THƯ VIỆN HUYỆN BẾN LỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ BẠN ĐỌC THƯ VIỆN HUYỆN BẾN LỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ BẠN ĐỌC

Sách là nguồn tri thức vô tận, nhờ có sách mà con người ngày càng tiếp cận với thế giới hiện đại. Thông qua việc đọc sách, báo, tạp chí giúp mỗi người không ngừng nâng cao kiến thức. Tuy nhiên, sự phát triển của ti-vi, các thiết bị di động và internet trong những năm gần đây đã làm việc đọc sách, báo, tạp chí dần bị sao nhãng. Để thu hút bạn đọc, thời gian gần đây, Thư viện huyện Bến Lức đã có những cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ, các hoạt động dần được củng cố và đi vào nền nếp, cơ sở vật chất được đầu tư trang bị ngày càng hiện đại, số lượng đầu sách không ngừng tăng lên, cơ bản đáp ứng nhu cầu của bạn đọc.

ngay 2-9-2020, ben luc Thu vien doi moi, nang cao chat luong phuc vu (hinh 3).JPG

Là bạn đọc thân thiết với thư viện, em Nguyễn Huỳnh Như Khoa (học sinh trường THPT Nguyễn Hữu Thọ) thường đến Thư viện huyện để đọc sách. Những quyển sách Khoa chọn đọc là sách viết về các nghệ danh, truyện tranh, sách dạy kỹ năng sống… Em Nguyễn Huỳnh Như Khoa cho biết: "Hè này, từ 8 đến 10 giờ sáng mỗi ngày, em thường đến Thư viện huyện Bến Lức để đọc sách. Ở đây có nhiều sách hay, bổ ích… Khi đến đây, em cảm thấy rất thoải mái, mát mẻ, việc mượn sách nhanh chóng, thuận tiện. Các cô thủ thư rất nhiệt tình, dễ mến".

Nhằm làm phong phú các đầu sách, hàng năm, Thư viện huyện bổ sung mới trên 200 bản sách phục vụ bạn đọc. Hiện, Thư viện huyện có trên 12.100 bản sách ở các lĩnh vực: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kinh tế - xã hội; các loại báo, tạp chí, truyện tranh thiếu nhi… Trang bị đầy đủ hệ thống máy vi tính, internet miễn phí giúp bạn đọc có thể tra cứu sách, đọc báo dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện trên môi trường mạng. Đối tượng bạn đọc đến thư viện khá đa dạng từ học sinh, thiếu nhi, cán bộ, công chức cho đến người làm việc tự do. Lượng bạn đọc trung bình từ 30 - 40 lượt/ngày. Đặc biệt, vào những ngày trước khi diễn ra kỳ thi tuyển sinh lớp 10 và kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia, các bạn học sinh đến học nhóm rất đông, có ngày lượng bạn đọc lên đến hơn 100 lượt người đến học tập, đọc sách và tra cứu tài liệu. Thư viện cũng đổi mới các thủ tục cấp, đổi thẻ, đảm bảo tiện lợi, nhanh chóng, đơn giản, trên tinh thần tạo mọi điều kiện cho độc giả. Hiện nay, ngoài Thư viện huyện, trên địa bàn huyện Bến Lức có 10/14 xã xây dựng và ra mắt thư viện hoàn chỉnh, mỗi thư viện đảm bảo có số lượng trên 1.500 bản sách các loại; có phòng đọc, có cán bộ phụ trách. Các thư viện mở cửa phục vụ cho người dân và học sinh vào các ngày trong tuần, để tạo điều kiện đáp ứng yêu cầu văn hóa đọc của người dân địa phương, góp phần nâng cao trình độ dân trí, tiếp cận khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao mức sống tinh thần cho người dân, nhất là trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

ngay 2-9-2020, ben luc Thu vien doi moi, nang cao chat luong phuc vu (hinh 4).JPG

Chị Hồ Thị Ánh Trúc, cán bộ Thư viện huyện Bến Lức cho biết: "Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục đổi mới hoạt động, phục vụ tốt hơn để thu hút bạn đọc; xây dựng môi trường đọc thân thiện, gần gũi. Đồng thời, thường xuyên cải tiến, bổ sung nhiều đầu sách, tài liệu để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nghiên cứu, cập nhật thông tin nhanh chóng, kịp thời của bạn đọc. Qua đó, đáp ứng nhu cầu học tập, giải trí của người dân; nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ bạn đọc, góp phần xây dựng, duy trì và phát triển văn hóa đọc trong nhân dân".

Với những nỗ lực của Thư viện huyện Bến Lức trong việc phục vụ bạn đọc đã tạo môi trường lành mạnh và bổ ích, kích thích nhu cầu đọc, tìm hiểu sách, báo của nhân dân, giúp họ được tiếp cận nhiều cuốn sách hay, có thêm kiến thức, mở mang tri thức, từng bước hình thành thói quen đọc sách. Đặc biệt, thông qua việc đọc sách giúp các em học sinh có những giây phút thư giãn sau những giờ học căng thẳng, đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí lành mạnh và nuôi dưỡng văn hóa đọc cho các em./.

Việt Hằng

10/09/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự) Chùa Nổi (Cổ Sơn Tự)

Cổ Sơn Tự được người dân gần xa biết đến qua tên gọi Chùa Nổi, tọa lạc ở ấp Cả Bản, xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Hằng năm, vào các ngày Tết, ngày rằm hay ngày lễ Phật Đản thu hút rất nhiều lượt khách tham quan du lịch, hành hương và đến để mở lòng làm từ thiện.

Được biết, Chùa Nổi được xây dựng cách đây gần 200 năm. Theo lời kể huyền bí, hấp dẫn của người dân nơi đây, cứ mỗi năm, đến mùa lũ, dù nước dâng cao đến đâu thì Chùa Nổi vẫn chưa bao giờ bị ngập. Chính vì vậy, từ lâu, Chùa Nổi là nơi chở che cho người dân trong vùng khi nước lũ tràn về. Không chỉ thế, Chùa Nổi còn là nơi nuôi dưỡng, che giấu cán bộ hoạt động cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cũng như phục vụ chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1978.

28-3-2018 Cổng Chùa Nổi uy nghi.jpg

Cổng Chùa Nổi uy nghi

28-3-2018 Đá di tích Gò Chùa Nổi.jpg

Đá di tích Gò Chùa Nổi

28-3-2018 Nơi thờ Phật uy nghi, trang nghiêm.jpg

Nơi thờ Phật uy nghi, trang nghiêm

28-3-2018 Cầu dây văng bắc qua Chùa Nổi- Cồ Sơn Tự.jpg

Cầu dây văng bắc qua Chùa Nổi - Cồ Sơn Tự

28-3-2018 Nhiều khách thập phương mở lòng hảnh lễ.jpg

Nhiều khách thập phương mở lòng hảnh lễ

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đến nay, Chùa Nổi được kiến tạo lại hoàn toàn nhưng vẫn giữ kiểu dáng truyền thống, trang nghiêm, cổ kính với cấu trúc gồm 03 phần: Chánh điện, hậu tổ, hậu đường. Vào những ngày rằm lớn như rằm tháng giêng, tháng 7, tháng chạp, du khách thập phương về chùa hành hương rất đông, có khi lên đến 5.000-7.000 lượt người.

Đ.T (Phòng VH và TT Vĩnh Hưng)

04/04/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
PHỤ NỮ XÃ TÂN LẬP TÍCH CỰC THAM GIA DUY TRÌ VÀ NÂNG CHẤT XÃ ĐẠT CHUẨN VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI PHỤ NỮ XÃ TÂN LẬP TÍCH CỰC THAM GIA DUY TRÌ VÀ NÂNG CHẤT XÃ ĐẠT CHUẨN VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI

Cùng với việc thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua, thời gian qua, Hội Phụ nữ xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh đã tích cực tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn văn hóa (VH) và xây dựng xã nông thôn mới (NTM). Những kết quả đạt được của phụ nữ xã Tân Lập đã góp phần quan trọng cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM.

Bà Phan Thị Mai, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Tân Lập cho biết: Bên cạnh việc thực hiện các phong trào thi đua và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức Hội, thời gian qua, phụ nữ xã đã tích cực, chủ động tham gia cùng với địa phương duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

14-10-2019 Mô hình phân loại rác tại nguồn của Hội phụ nữ xã Tân Lập.jpg

Mô hình phân loại rác tại nguồn của Hội phụ nữ xã Tân Lập

Để làm tốt nhiệm vụ này, Hội Phụ nữ xã đã đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao trình độ mọi mặt cho hội viên. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình hành động của tổ chức Hội, thu hút 100% cán bộ, trên 90% hội viên tham gia. Hội Phụ nữ xã phối hợp các ban, ngành, đoàn thể tổ chức phổ biến các văn bản pháp luật cho cán bộ, hội viên, nhất là những bộ luật có liên quan đến phụ nữ, trẻ em như: Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân gia đình; phối hợp tuyên truyền phòng chống các tệ nạn ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em, giáo dục phổ biến Luật An toàn giao thông đường bộ... thu hút 5.994 lượt cán bộ, hội viên tham gia. Nhờ vậy, nhận thức của chị em hội viên không ngừng được nâng cao.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Hội Phụ nữ xã đã tập trung chỉ đạo gắn việc hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm của xã. Cụ thể là phối hợp với Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo xã tiến hành khảo sát, phân loại hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, tìm nguyên nhân nghèo, từ đó giao chỉ tiêu cho từng chi hội giúp phụ nữ nghèo với các biện pháp phù hợp như: Giúp tín chấp cho vay vốn, giúp đỡ ngày công...; kết quả đã giúp thoát nghèo 23 hộ, trong đó có 11 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn xã đến cuối năm 2019 xuống còn 3,7%.

Thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, phụ nữ xã Tân Lập đã chủ động tham gia thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm của xã với các phong trào "Phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi", "Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình". Trong sản xuất nông nghiệp, chị em đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào quá trình sản xuất. Nhiều chị em đã mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu kinh tế quả cao. Trong những năm qua mô hình "5 không 3 sạch" có 8 tiêu chí, thực hiện hiệu quả theo từng tiêu chí, duy trì tiêu chí 3 sạch "phân loại rác tại nguồn", "tổ phụ nữ không có con em bỏ học và suy dinh dưỡng", phát huy tiêu chí không đói nghèo "nhóm phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế không đói nghèo".

Một trong những việc làm thiết thực nữa của Hội Phụ nữ xã Tân Lập nhằm góp phần thực hiện thành công duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM là vận động chị em hiến đất, tài sản, làm hàng rào, hưởng ứng phong trào ánh sáng an ninh... với tổng trị giá quy đổi thành tiền gần 1 tỷ đồng và 5.141 ngày công. Những tấm gương của các chị đã có sức lan tỏa mạnh mẽ trong việc vận động toàn dân tham gia duy trì và nâng chất xã đạt chuẩn VH và xây dựng xã NTM./.

Nguyễn Thị Kim Ngân

14/10/2019 5:00 CHĐã ban hànhApproved
VỀ NHỰT TẢO, NHỚ ĐẾN NGƯỜI ANH HÙNGVỀ NHỰT TẢO, NHỚ ĐẾN NGƯỜI ANH HÙNG

Có một vị anh hùng dân chài từng làm nên chiến công oanh liệt trên Vàm Nhựt Tảo mà đến hôm nay, người dân nơi đây vẫn ghi nhớ công ơn. Đó là Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực – người đốt cháy  tàu Espérance của thực dân Pháp, để lại dấu son lịch sử lúc bấy giờ.

Cụ Nguyễn.JPG

Tượng Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

Nơi ghi dấu "Hỏa hồng Nhựt Tảo"

"Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần" – Hai câu thơ của danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt đến bây giở người dân Nhựt Tảo vẫn còn nhớ mỗi khi nhắc đến chiến công của vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-02-1861), ông Nguyễn Trung Trực về Tân An. Ngày 23-6-1861, quân Pháp chiếm luôn Gò Công và  cho tiểu hạm Espérance - một tàu gỗ có chỗ được bọc đồng chạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn, được trang bị một đại bác cùng nhiều vũ khí đa năng đến án ngữ nơi vàm Nhựt Tảo. Quyền Quản cơ Nguyễn Trung Trực liền ra lệnh cho Phó Quản binh Huỳnh Khắc Nhượng cùng Nguyễn Văn Quang chuẩn bị kế hoạch tấn công chiếc tiểu hạm này.

Khoảng trưa ngày 10-12-1861, sau khi bố trí xong lực lượng phục kích trên bờ, 5 chiếc ghe chở Nguyễn Trung Trực cùng 59 nghĩa quân giả làm đoàn ghe buôn lúa (hoặc đoàn ghe đám cưới) tiến sát tiểu hạm Espérance. Viên sĩ quan trực tưởng là đoàn ghe ghé xin phép lưu thông, nên nghiêng mình ra cửa sổ tàu thì bất ngờ bị vũ khí của nghĩa quân đâm trúng ngực. Khi ấy, nghĩa quân tay cầm gươm giáo và đuốc, từ các ghe nhảy lên, vừa la hét, vừa đánh xáp lá cà với lính thủy Pháp. Hai bên bờ, các nghĩa quân cũng nhanh chóng đến tiếp chiến. Nguyễn Học, Hồ Quang Chiêu lấy búa sắt phá tàu không vỡ nên đã cho phóng lửa đốt, đánh chìm tàu.

IMG_1245.JPG

 Người dân lập bàn hương án anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong ngày giỗ cụ

Nơi xảy ra trận đánh bên Vàm Nhựt Tảo ngày nay là Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo ghi dấu trận Hỏa hồng Nhựt Tảo. Khu di tích được khánh thành và đưa vào sử dụng từ tháng 10-2010 với kinh phí đầu tư khoảng 50 tỷ đồng. Với diện tích khoảng 6 ha, Khu di tích gồm các hạng mục đền tưởng niệm, nhà trưng bày, nhà bia, cầu cảnh quan và các hạng mục phụ khác.  Trong các hạng mục, Nhà trưng bày là nơi ghi lại cuộc đời của Anh hùng Nguyễn Trung Trực với khách tham quan từ thời niên thiếu đến lúc tham gia kháng chiến chống Pháp dưới quyền Trương Định, hoạt động của ông từ sau trận Nhựt Tảo đến năm 1867 và hoạt động của ông tại Phú Quốc. Đặc biệt, nơi đây còn có mô hình tái hiện trận đánh chìm tàu Espérance của Pháp và vẫn còn một mảnh tàu trưng bày tại Khu di tích.

 Theo Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Phạm Văn Trấn "sắp tới đây, Khu di tích sẽ xây dựng thêm đường vào cổng chính, bãi đậu xe, trùng tu miếu, xây thêm bia sự kiện, bia ghi dấu trận đánh Vàm Nhựt Tảo và bến tàu để phát triển du lịch theo đường sông,  từ ngày đưa vào sử dụng, Khu di tích là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống lịch sử thông qua nhiều hình thức như du khảo về nguồn, lễ giỗ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực để thế hệ hôm nay biết về chiến công, quê hương của vị anh hùng".

Tấm lòng người Nhựt Tảo

Hàng trăm năm trôi qua, vị anh hùng dân chài mang tên Nguyễn Trung Trực vẫn sống trong lòng người Nhựt Tảo. Một số gia đình ở xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ thờ di ảnh ông và thắp hương mỗi ngày như một nét đẹp trong đời sống tâm linh. Đây còn là việc làm thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tỏ lòng thành kính của hậu thế với bậc tiền nhân. Ngoài ra, đến ngày giỗ ông, người dân cũng đến đền tưởng niệm thắp hương. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phạm Văn Trấn thông tin "Năm 2011, khi Sở phối hợp cùng các huyện Bến Lức, Tân Trụ tổ chức lễ giỗ có gần 3.000 người đến dự. Theo thời gian, con số này tăng lên, cụ thể lễ giỗ năm rồi có 10.000 người đến dự. Điều này cho thấy tấm lòng người dân với vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ngày càng lan tỏa".

IMG_0441.JPG

Thuyết minh về trận đánh Vàm Nhựt Tảo của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

với du khách tại Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo

Lễ giỗ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ( ngày 12 tháng 9 âm lịch) lại đến, người An Nhựt Tân không ai nhắc ai, tất cả đều nhớ và tự nguyện tham gia nhiều việc chuẩn bị cho lễ giỗ. Sư cô Diệu Huê ở chùa Bửu Vân chia sẻ "những ngày đến giỗ cụ Nguyễn Trung Trực, các Phật tử và người dân đến đây phụ nấu cơm để mang về Khu di tích đãi khách đến viếng ngày giỗ của cụ. Mỗi năm, mọi người góp công cùng nhau nấu gần 1.000 mâm cơm, còn kinh phí do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp".

Trong ngày giỗ, người dân dọc hai bên đường vào Khu di tích lập bàn hương án Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Lễ vật không có gì cao sang chỉ là đĩa trái cây, đĩa bánh nhưng quý hơn cả là tấm lòng người dân đối với vị Anh hùng dân tộc. Thắp nén hương lòng, mỗi người cầu an, cầu mua may bán đắt và tỏ lòng tôn kính với anh hùng Nguyễn Trung Trực.

Cùng với người dân, các Hội đoàn thể ở xã An Nhựt Tân cũng tham gia góp công, góp sức hướng về lễ giỗ. Chủ tịch Hội Phụ nữ xã – Nguyễn Thị Kim Thoa bộc bạch "vào ngày giỗ cụ, chị em hội viên phụ nữ dù bận việc gia đình nhưng vẫn sắp xếp đến Khu di tích thắp hương lên bàn thờ cụ và lo việc hậu cần. Có chị còn làm mấy mâm xôi đen đến đền thờ cùng viếng cụ".

Cũng như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên xã cũng huy động lực lượng tham gia phụ giúp một số công việc trong lễ giỗ. Bí thư Đoàn xã An Nhựt Tân – Trần Hoàng Sâm Rin cho biết "Chi đoàn dân quân phụ sắp xếp bàn ghế đãi khách. Chi đoàn Công an xã tham gia giữ gìn an ninh trật tự và giữ xe khách đến viếng lễ giỗ. Các bạn đoàn viên thanh niên ở các ấp chở cơm từ chùa Bửu Vân về Khu di tích".

Mỗi người một việc, dù ít hay nhiều, dù nhỏ hay lớn nhưng tất cả đều chung một tâm niệm hướng về lễ giỗ, tưởng nhớ vị Anh hùng dân tộc đã hy sinh vì nghĩa lớn để thế hệ hôm nay hưởng quả ngọt thanh bình. Vì vậy, lễ giỗ là nét đẹp văn hóa, nét đẹp của đạo lý "uống nước nhớ nguồn".

                                                  Tin, ảnh:  Thùy Hương

28/10/2015 5:00 CHĐã ban hànhApproved
LỄ CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN PHƯỜNG 3, THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG ĐẠT CHUẨN VĂN MINH ĐÔ THỊLỄ CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN PHƯỜNG 3, THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG ĐẠT CHUẨN VĂN MINH ĐÔ THỊ

Vừa qua, Ban Chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" thị xã Kiến Tường (gọi tắt là Ban Chỉ đạo) tổ chức Lễ công bố quyết định công nhận Phường 3 đạt chuẩn văn minh đô thị. Tham dự có Ông Nguyễn Phú Kiểm, Phó Bí thư thường trực Thị ủy Kiến Tường; ông La Văn Dân, Phó Chủ tịch UBND thị xã Kiến Tường; lãnh đạo HĐND, UBMTTQVN thị xã, Ban Tổ chức Thị ủy Kiến Tường; cùng lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN Phường 3 và các khu phố trên địa bàn phường.

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" trên địa bàn thị xã luôn được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện. Việc xây dựng phường văn minh đô thị đã được lãnh đạo thị xã tập trung chỉ đạo, các phường triển khai, nhân dân đồng tình hưởng ứng thực hiện. Sau 2 năm, từ năm 2017 đến nay, Phường 3 đã hoàn thành các tiêu chí và được Ban Chỉ đạo kiểm tra, thẩm định và trình UBND thị xã Kiến Tường ra quyết định công nhận đạt chuẩn văn minh đô thị. Đây là đơn vị thứ 3 đạt chuẩn phường văn minh đô thị, nâng tổng số toàn thị xã có 8/8 xã, phường đạt chuẩn xã văn hóa nông thôn mới và phường văn minh đô thị.

Phát biểu tại buổi lễ, ông La Văn Dân, Phó Chủ tịch UBND thị xã Kiến Tường biểu dương thành tích mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Phường 3 đã nỗ lực đạt được, góp phần để thị xã phát triển toàn diện. Đồng thời nhấn mạnh danh hiệu phường văn minh đô thị là niềm vinh dự lớn, song cũng là trách nhiệm nặng nề của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Phường 3; đề nghị Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phường không được thỏa mãn với thành tích đã đạt được mà phải nỗ lực nhiều hơn nữa để giữ vững danh hiệu phường văn minh đô thị. Phải làm cho người người, nhà nhà thấy rõ: Chúng ta là công dân của phường văn minh đô thị, sống trong môi trường văn minh đô thị thì phải thật sự có nếp sống văn minh từ cách giao tiếp ứng xử, xây dựng cảnh quan môi trường "xanh, sạch, đẹp", nhân dân có tinh thần đoàn kết, cán bộ tận tình hướng dẫn người dân trong các quan hệ công việc và tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng.

Tại buổi lễ, UBND thị xã Kiến Tường tặng giấy khen cho 5 tập thể và 5 cá nhân có thành tích tiêu biểu trong xây dựng Phường 3 đạt chuẩn văn minh đô thị./.

Tấn Hoàng

05/05/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​