Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 241974
 
Thông tin Văn Hóa - Chiếu bóng
 
​ Thực hiện Kế hoạch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An về việc tổ chức phục vụ hè 2015 cho đối tượng là thanh thiếu niên, nhi đồng trong tỉnh, Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng Long An đã lập kế hoạch phối hợp với Ban Chỉ đạo hè các địa phương trong tỉnh tổ chức cho các đối tượng nêu trên được xem phim miễn phí vào các ngày thứ Năm ... 
 
​ Thực hiện Kế hoạch của Ban Tổ chức các ngày lễ lớn của tỉnh, căn cứ Quyết định số 2546/QĐ-BVHTTDL ngày 30/7/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và công văn số 564/ĐA-PHP ngày 11/8/2015 của Cục Điện ảnh về việc tổ chức đợt phim kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung tâm Phát hành phim và Chiếu ... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ

Sáng ngày 07/01/2020, UBND thành phố Tân An phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh "Miếu Quan Thánh Đế" tại số 11/7 đường Hai Bà Trưng, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

9-1-2020 Quang cảnh tại buổi lễ.jpg

Quang cảnh tại buổi lễ

Đến tham dự buổi lễ có ông Mai Văn Nhiều, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Nguyễn Quang Thái, Phó Chủ tịch UBND thành phố Tân An cùng đại diện lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, thành phố Tân An và đông đảo nhân dân trên địa bàn.

9-1-2020 Ông Nguyễn Anh Dũng và ông Nguyễn Quang Thái.jpg

Ông Nguyễn Anh Dũng và ông Nguyễn Quang Thái (từ bên phải qua) cùng trao
bằng xếp hạng di tích Miếu Quan Thánh Đế cho đại diện lãnh đạo Phường 1

Tại buổi lễ, ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nêu ý nghĩa giá trị văn hóa - lịch sử của Miếu Quan Thánh Đế, đồng thời kêu gọi sự quan tâm, hỗ trợ của các ngành, các cấp và toàn thể nhân dân thành phố Tân An trong việc giữ gìn và bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn thành phố nói chung và Miếu Quan Thánh Đế nói riêng nhằm phục vụ đời sống tinh thần và giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau.

9-1-2020 Ông Nguyễn Anh Dũng đứng phát biểu trong buổi lễ.jpg

Ông Nguyễn Anh Dũng Giám đốc Sở VH, TT và DL  phát biểu tại buổi lễ

Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế được công nhận tại Quyết định số 3927/QĐ-UBND của UBND tỉnh ngày 24/10/2019, nâng tổng số di tích trên địa bàn thành phố Tân An hiện nay là 07 di tích, trong đó gồm: 01 di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia là Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức và 06 di tích lịch sử cấp tỉnh là Nhà Tổng Thận, Nhà Thuốc Minh Xuân Đường, Đình Xuân Sanh, Đình Khánh Hậu, Nhà Vuông và Miếu Quan Thánh Đế./.

Hồng Nhung

10/01/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Khánh thành Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ, xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh. Kỳ 1: Có một "Việt Bắc miền Nam"Khánh thành Khu di tích Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ, xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh. Kỳ 1: Có một "Việt Bắc miền Nam"

Nằm vắt ngang lãnh thổ từ biên giới Việt Nam - Campuchia đến cửa sông Soài Rạp, nối liền miền Đông và miền Tây, có vùng đầm lầy, bưng trấp Đồng Tháp Mười rộng lớn, hiểm địa, Long An trở thành địa bàn chiến lược qua các thời kỳ với các căn cứ kháng chiến lừng danh trong lịch sử, góp phần vào thắng lợi chung.

Đồng Tháp Mười và kinh nghiệm căn cứ kháng chiến của cha ông

Dù đã sáng rõ hơn nhưng địa danh Đồng Tháp Mười vẫn còn là một ẩn số chưa có giải đáp thỏa đáng. Ngọn tháp canh thứ 10 do Thiên Hộ Dương dựng lên để canh phòng chống giặc Pháp (1864-1866)? Hay ngọn tháp thứ 10 sau 9 tháp khác của vua chúa Khmer dựng lên làm trạm xá? Trên đường khẩn hoang đầu thế kỷ XVIII, lưu dân người Việt gặp tháp cổ đổ nát nhưng còn vết tích biểu hiện của công trình có 10 bậc thang (kiểu như tam cấp)? Hiện, người ta nghiêng về lý giải rằng, đây là tên gọi chung cho toàn vùng "đất bưng", vùng "trạch" thuộc địa phận tỉnh Định Tường xưa, có từ trước và được sử dụng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến của Võ Duy Dương, người Pháp sử dụng chính thức trên Công báo Nam kỳ thuộc Pháp ngày 17/4/1866.

Có những di tích khảo cổ học để có thể khẳng định có con người sinh sống ở thời tiền sử muộn trên các gò đất phù sa cổ cho thấy, nơi đây từng là địa bàn của một nền văn minh Óc Eo một thời rực rỡ, để rồi sau đó tàn lụi trong lòng châu thổ thấp. Và trước khi lưu dân người Việt đến khẩn hoang lập ấp, nơi đây trải qua "giấc ngủ dài" trong sự hoang vắng không bóng người hàng nhiều thế kỷ mà Châu Đạt Quan - sứ thần Trung Hoa trong Chân Lạp phong thổ ký, thế kỷ XIII, rồi Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, thế kỷ XVI ghi lại điều đó.

Trong dòng chảy Nam tiến, do khả năng vật chất, trình độ kỹ thuật và điều kiện nhân lực lúc bấy giờ, ông cha ta đến đây muộn hơn những nơi khác trong tỉnh, nhưng theo Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, đến thời Gia Định phủ (1698-1802), nơi đây gọi là Đầm (Chằm) Mãng Trạch, thuộc dinh Trấn Định, dưới sự thống quản của Gia Định trấn, có người buôn bán qua Rạch Chanh, một ít làm ruộng theo lối "đao canh hỏa nậu" ở Bát Đông, giao dịch thổ sản ở bờ sông Bát Chiêng (Kiến Tường).

Dù muộn, nhưng với truyền thống yêu nước, sự cần cù, sáng tạo, thông minh trong lao động với tinh thần bất khuất, vượt chông gai, thử thách vì niềm tin ở vùng đất mới, các thế hệ người Đồng Tháp Mười cung cấp thêm sinh lực mới về mặt chí khí và phong tục, tập quán, tạo nên những nét độc đáo, phong phú về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, viết nên những trang sử mới cho vùng đất này.

Ngay từ cuộc chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh, vùng gò nổng rộng lớn Ba Giồng nằm giữa 2 huyện Kiến Đăng và Kiến Hưng, Định Tường từng là nơi tụ nghĩa của đảng Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn. Pháp xâm lược, nơi đây là căn cứ của phong trào Thiên hộ Dương - Đốc binh Kiều trong những năm 1864-1866, với đại bản doanh đặt tại Gò Tháp (huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp); ở Long An có 2 đồn lớn là đồn Tả ở Gò Giồng Dung (xã Hậu Thạnh Tây, huyện Tân Thạnh) và đồn Tuyên Oai ở Gò Bắc Chiêng (chợ Kiến Tường ngày nay), gây cho địch nhiều tổn thất. Đây là một trong những phong trào kháng Pháp tiêu biểu ở Nam kỳ lúc bấy giờ, không những làm Đồng Tháp Mười hội nhập trọn vẹn hơn vào dòng chảy lịch sử - văn hóa dân tộc mà còn là kinh nghiệm đầu tiên về xây dựng căn cứ địa cho hoạt động kháng chiến về sau.

Sau cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ (11/1940), lực lượng khởi nghĩa ở Tân An, Chợ Lớn, Gia Định lên khu vực kinh Bo Bo, Mớp Xanh thuộc các làng: Thạnh Lợi, Bình Thành, Bình Hòa (Bắc Thủ Thừa), trấp Rùng Rình (làng Phong Phú, Mộc Hóa) tiếp tục bắt liên lạc với lực lượng của Cai Lậy, Châu Thành (tỉnh Mỹ Tho) và bộ phận nghĩa quân của Chợ Lớn - Gia Định rút lên Truông Mít (Tây Ninh) trở về, thống nhất thành lập căn cứ Mớp Xanh (hay còn gọi căn cứ Bo Bo) trên một địa bàn rộng khoảng 35km, dài 70km, nằm giữa 2 sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây tiếp tục duy trì hoạt động, chuẩn bị khởi nghĩa lần hai. Hoạt động của nghĩa quân sau cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ ở căn cứ Mớp Xanh (Bo Bo) là tiền đề chuẩn bị cho giai đọan tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 và vùng đất này trở thành "chiến khu bưng biền" trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược.

Có một "Việt Bắc min Nam"

Đêm 22, rạng ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, báo hiệu cuộc xâm lược nước ta lần hai. Cùng với Nam bộ, Đồng Tháp Mười - Long An "đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến".

Sau khi Nam Bộ nhận được chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Trung ương Đảng (cuối 11/1945), ngày 10/12/1945, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ họp hội nghị mở rộng làng Bình Hòa, quận Thủ Thừa (nay thuộc ấp 3, xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An), do đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy lâm thời chủ trì, bàn bạc nhiều vấn đề quan trọng về cuộc kháng chiến chống Pháp, quyết định chia Nam bộ làm 3 khu quân sự - hành chính gọi là Khu 7, Khu 8, Khu 9, xây dựng các căn cứ kháng chiến, trong đó có Đồng Tháp Mười là căn cứ của Khu 8, gồm các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

Sau khi Pháp càn vào Bình Hòa (5/1946), đồng chí Lê Duẩn chỉ thị các cơ quan Xứ ủy, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Tổng hành dinh Khu 7 và các đơn vị bộ đội rút về vùng Bắc Chan, quận Mộc Hóa, đồng thời chỉ đạo đồng chí Trần Văn Trà - Ủy viên Chính trị của Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa về Đồng Tháp Mười lập căn cứ, củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang. Sau khi đi các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn nắm tình hình, đồng chí Trần Văn Trà triệu tập hội nghị tại Bến Kè (xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa ngày nay), quyết định thống nhất lực lượng các tỉnh để xây dựng Khu 8 do Trần Văn Trà làm Khu bộ trưởng; xây dựng Đồng Tháp Mười thành căn cứ của khu và giao Nguyễn Văn Trí phụ trách. Đầu tháng 7/1946, lợi dụng mưa to, nước nổi, quân Pháp tấn công Bắc Chan, đồng chí Lê Duẩn chỉ thị lực lượng vũ trang rút về khu vực kinh Dương Văn Dương.

Tháng 8/1946, Ban căn cứ địa Khu 8 phối hợp Tỉnh ủy Tân An và Huyện ủy Mộc Hóa thành lập Ban Phòng thủ Đồng Tháp Mười do đồng chí Bùi Quang Dự phụ trách, "quy hoạch" khu căn cứ Đồng Tháp Mười gồm 8 xã khu vực từ kênh Nguyễn Văn Tiếp đến sông Vàm Cỏ Tây và các xã: Hậu Thạnh, Nhơn Hòa Lập, Tân Hòa, Nhơn Ninh, xác định khu vực đứng chân của từng cơ quan, đơn vị. Đồng Tháp Mười - Tân An trở thành căn cứ của các cơ quan đầu não của Xứ ủy, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, lực lượng vũ trang,...

Đồng chí Lê Duẩn với cương vị là Bí thư Xứ ủy, chức vụ chính quyền là Trưởng phòng Dân quân cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt khác: Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Nguyễn Bình, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Trà, Huỳnh Tấn Phát,... và rất nhiều cơ quan của Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang từ cấp xứ đến khu, tỉnh: Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Khu 8, Cơ quan Chính trị Khu 8, Phòng Bào chế y dược của Sở Y tế, Nhà in, Hội Phụ nữ cứu quốc, Sở Công an, Sở Tài chánh, Văn phòng Bộ Tư lệnh Nam Bộ, các đồng chí là đặc phái viên của Chính phủ tại Nam bộ,... đóng và làm việc ở nhà dân, nay thuộc các xã: Nhơn Hòa Lập, Hậu Thạnh Đông, Hậu Thạnh Tây, Nhơn Ninh,... và nhiều cơ quan các cấp khác đóng ở nhà dân dọc theo kinh Dương Văn Dương.

Riêng đồng chí Lê Duẩn ở nhà ông Nguyễn Văn Siêu (ông Hai Độc Lập), Xứ ủy Nam bộ đóng tại nhà bà Võ Thị Thay (Nguyễn Thị Thay, tức má Tám), làm việc ở nhà ông Lê Văn Yên (con má Tám), Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ đóng tại nhà ông Giáo Mười (Hồ Văn Mười). Cho nên, có đồng chí lãnh đạo trong Xứ ủy bấy giờ nói rằng "cả Nam bộ đều có mặt ở Đồng Tháp Mười".

Dong chi Le Duan ve lai can cu xua, tham co so cach mang o xa Nhon Hoa Lap, huyen Tan Thanh thang 3-1978.jpg

Đồng chí Lê Duẩn (áo trắng, ngồi giữa) v lại căn cứ xưa, thăm cơ sở cách mạng
ở xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh trong lần v thăm Long An (tháng 3/1978).
Người ngồi bên phải đồng chí Lê Duẩn là má Tám (Nguyễn Thị Thay)

Đây cũng là lúc cả nước biết đến Đồng Tháp Mười như là "thủ đô kháng chiến" của Nam Bộ với nền "văn hóa kháng chiến bưng biền" bởi chính sách đẩy mạnh phát triển về kinh tế, giáo dục, y tế, xây dựng đời sống văn hóa mới trong nhân dân làm đời sống kinh tế - xã hội chuyển biến sâu sắc nên có bô lão ví "như thời Nghiêu - Thuấn tái hiện" - một xã hội cổ đại ở Trung Quốc với 2 vị vua "đại hiền" mà nhân gian quan niệm là biểu tượng của thái bình, thịnh đạt.

Từ giữa cuối 1949, địch đẩy mạnh thực hiện chiến thuật De Latour, giăng dựng đồn bót khắp nơi, đánh phá căn cứ Đồng Tháp Mười liên tục, khống chế chặt chẽ hành lang liên lạc của ta từ miền Đông xuống miền Tây. Sau Hội nghị Xứ ủy chuyên đề quân sự ở Đồng Tháp Mười (tháng 9/1949) do đồng chí Lê Duẩn chủ trì, ta chủ trương rút các cơ quan cấp Nam bộ về U Minh. Ngày 20/10/1949, được sự hộ tống của lực lượng vũ trang Khu 8, đồng chí Lê Duẩn cùng các cơ quan cấp xứ rời căn cứ Đồng Tháp Mười - Tân An sau hơn 3 năm gắn bó, về miền Tây để tiếp tục lãnh đạo cách mạng miền Nam.

Căn cứ Xứ ủy, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ ở Đồng Tháp Mười - Long An trong những năm 1946-1949, ở đó, từ nhà lãnh đạo cao nhất là đồng chí Lê Duẩn đến từng cơ quan, đơn vị bộ đội và cán bộ, chiến sĩ sống, làm việc và chiến đấu trong sự đùm bọc, chở che và cả sự hy sinh của nhân dân, làm bừng sáng tinh thần "căn cứ lòng dân", là một trong những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược./.

Nguyễn Tấn Quốc
(còn tiếp)

Kỳ 2: Những dấu son trên đất bưng biền


01/09/2017 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử căn cứ Hiệp HòaDi tích lịch sử căn cứ Hiệp Hòa

Căn cứ Hiệp Hòa còn được gọi là Trung tâm huấn luyện biệt kích Hiệp Hòa, được Mỹ-Diệm thành lập vào đầu năm 1963 với quy mô vào loại lớn nhất ở miền Nam. Trung tâm tọa lạc ven bờ Vàm Cỏ Đông, thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (nay là thị trấn Hiệp Hòa, huyện  Đức Hòa, tỉnh Long An), có chức năng đào tạo cán bộ khung đại đội biệt kích ngụy, do cố vấn Mỹ trực tiếp huấn luyện. Ngoài ra, trung tâm này còn là một cứ điểm quân sự hiện đại, khống chế vùng căn cứ của cách mạng ở Đức Huệ và án ngữ khu vực ngã ba của trục hành lang nối liền miền đông Nam Bộ, đông nam Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long. Với hàng trăm lính biệt kích được trang bị vũ khí hiện đại, có cả máy bay trực thăng, Trung tâm huấn luyện biệt kích Hiệp Hòa có tầm ảnh hưởng rất rộng, gây nhiều khó khăn cho cách mạng.

Về cấu tạo, Trung tâm huấn luyện biệt kích Hiệp Hòa có hình chữ nhật, dài 150m, rộng 100m, bờ tường cao 1,5m bao quanh. Bên ngoài bờ tường là hào sâu và khoảng 20 lớp kẽm gai có bố trí mìn sát thương dày đặc xen kẻ để đề phòng các cuộc tấn công của lực lượng vũ trang cách mạng. Dọc theo bên trong bờ tường là hệ thống giao thông hào sâu 1m, rộng 0,8m nối liền các lô cốt và ụ chiến đấu. Có 8 lô côt được xây dựng bằng bê tông cốt thép, cao hơn bờ tường, bên trên bố trí súng đại liên và đèn pha cực mạnh. Bên trong căn cứ có kho súng, nhà ở của cố vấn Mỹ, sĩ quan ngụy, trại lính và nhiều công trình khác. Tất cả đều được rào bằng dây thép gai và bố trí chòi canh cao 2m. Lực lượng địch ở Hiệp Hòa rất hùng hậu, gồm 500 lính biệt kích, 14 cố vấn Mỹ, 21 sĩ quan ngụy, được trang bị 8 cối 81, 10 cối 60, 8 đại liên, nhiều trung liên, tiểu liên, súng trường,  tổ chức thành 5 đại đội mẫu và 2 đại đội học viên. Xung quanh căn cứ Hiệp Hòa, địch bố trí lực lượng bảo vệ chu đáo với 1 tiểu đoàn bảo an đóng cách 1km về phía tây bắc, 15 đồn tua (mỗi tua có từ 9-12 dân vệ hoặc bảo an) và 1 đội giang thuyền tuần tiễu trên sông Vàm Cỏ Đông. Với quy mô, lực lượng, trang bị và cách bố phòng kiên cố như thế, địch cho rằng Trung tâm huấn luyện biệt kích Hiệp Hòa là một căn cứ bất khả xâm phạm.

Từ năm 1962, trên địa bàn Long An, Mỹ-Diệm thi hành kế hoạch dồn dân lập ấp chiến lược với ý đồ cô lập lực lượng cách mạng, gây cho ta nhiều khó khăn vì mất địa bàn đứng chân và nguồn cung cấp lương thực. Để khắc phục tình trạng trên, tỉnh ủy Long An quyết tâm phá tan hệ thống ấp chiến lược của địch với mũi đột phá đầu tiên là mở một vùng hành lang rộng lớn và vững chắc ở khu vực Đức Hòa-Đức Huệ, mà cụ thể là tuyến sông Vàm Cỏ Đông. Muốn thế, ta phải tiến công tiêu diệt Trung tâm huấn luyện biệt kích Hiệp Hòa, căn cứ chiến lược của địch trong khu vực. Để  chuẩn bị cho trận đánh Hiệp Hòa, Tỉnh ủy đã chỉ đạo cho quân-dân trong tỉnh đồng loạt tiến công địch ở các xã, huyện, kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng, làm cho địch bị phân tán lực lượng. Đại đội 1 cơ động-tiền thân của Tiểu đoàn 1 Long An -được giao nhiệm vụ chủ công trong trận đánh căn cứ Hiệp Hòa.

Đêm 22-11-1963, các đơn vị bộ đội đã tiếp cận trận địa theo kế hoạch. Khoảng  nửa đêm thì trận đánh bắt đầu. Với sự hỗ trợ của lực lượng nội ứng đã được gài từ trước, sau 40 phút chiến đấu, quân ta hoàn toàn chiếm lĩnh trận địa, diệt hàng trăm tên biệt kích, bắt hơn 100 tù binh, thu hơn 500 súng các loại và hàng tấn đạn dược. Đặc biệt, trong trận này, ta đã bắt sống 4 cố vấn Mỹ. Đây là những sĩ quan Mỹ đầu tiên bị bắt sống trên chiến trường Nam Bộ. Về phía ta, có 1 chiến sĩ hy sinh và 21 chiến sĩ bị thương.

Tin chiến thắng Hiệp Hòa bay đi rất nhanh đã làm nức lòng quân dân Long An, còn tinh thần quân ngụy ở các đồn bót thì vô cùng hoang mang, dao động. Bọn Mỹ cũng hết sức bàng hoàng khi căn cứ “bất khả xâm phạm” Hiệp Hòa bị thất thủ. Các hãng thông tấn của chúng đưa tin:” Lần đầu tiên, một trại huấn luyện biệt kích bị chiếm chỉ trong 40 phút, không kịp kêu cứu”. Bộ đội Long An sau trận Hiệp Hòa đã mạnh hẳn lên nhờ được trang bị thêm nhiều vũ khí và đạn dược. Với thế và lực mới, phong trào phá ấp chiến lược ở Long An đã phát triển thành cao trào, từng mảng lớn đồn bót và ấp chiến lược ở các huyện trong tỉnh bị phá sạch với tộc độ chưa từng có. Chỉ trong vòng 5 tháng, hầu hết ấp chiến lược do Mỹ-ngụy xây dựng ở Long An trong 2 năm 1963-1963 đã bị phá tan.

Sau trận đánh, căn cứ Hiệp Hòa bị ta san bằng, địch cũng không xây dựng lại mà sử dụng làm trụ sở hội đồng xã, rồi sau đó là bệnh viện. Vì thế, những dấu tích về chiến công oanh liệt năm xưa hầu như đã bị thời gian xóa mờ. Hiện tại, di tích chỉ còn lại mảnh đất rộng khoảng 1500m2, là nơi tọa lạc của cơ quan hành chánh thị trấn Hiệp Hòa. Năm 1993, nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng Hiệp Hòa, Uûy ban nhân dân huyện Đức Hòa đã xây dựng tại di tích bia ghi dấu chiến công oanh liệt của quân và dân Long An năm xưa. Bia tọa lạc trong khuôn viên Ủy ban nhân dân thị trấn Hiệp Hòa, cách ngã ba thị trấn khoảng 500m. Đây là một địa chỉ đỏ, điểm về nguồn của thế hệ hôm nay và mai sau, là bằng chứng hùng hồn cho truyền thống “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” của quân và dân Long An. Căn cứ Hiệp Hòa đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xếp hạng  là di tích lịch sử tại Quyết định số 518/UB-QĐ, ngày 1-2-2000.
                                                                                               Nguyễn Văn Thiện

26/06/2012 1:45 SAĐã ban hànhApproved
Bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa về Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Long An để phục vụ công tác giáo dục truyền thốngBảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa về Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Long An để phục vụ công tác giáo dục truyền thống

Bảy mươi mốt năm đã trôi qua nhưng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) vẫn còn để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Trên mảnh đất Long An (vào thời điểm 1940 là tỉnh Tân An và tỉnh Chợ Lớn), những chứng tích về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn còn hiện hữu như nhắc nhở cho chúng ta một giai đoạn lịch sử hào hùng và oanh liệt của các thế hệ người đi trước.

Khởi nghĩa Nam Kỳ là biểu hiện cụ thể cho truyền thống yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cuộc khởi nghĩa còn là quy luật tất yếu của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp mỗi khi tình thế và thời cơ cách mạng đã đến gần. Mặc dù thực dân Pháp và tay sai đã tăng cường bộ máy cai trị phản động, dùng mọi thủ đoạn dã man, tàn bạo để đàn áp, đối phó với phong trào cách mạng nhưng chúng không thể nào ngăn nổi sự vùng dậy đòi quyền sống của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, trực tiếp là tỉnh ủy Tân An và tỉnh ủy Chợ Lớn, nghĩa quân và nhân dân 2 tỉnh đã nhất tề nổi dậy trừng trị bọn tay sai, đánh chiếm đồn bót, nhà việc, đốt hết sổ sách. Trong 128 làng của 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn, 94 làng có kế hoạch khởi nghĩa, trong đó có 48 làng thực hiện được kế hoạch. Có khoảng 1400 nghĩa quân và 30.000 quần chúng đã tham gia khởi nghĩa. Nghĩa quân đã tiến công 12 đồn bót, chiến nhà việc và treo cờ búa liềm ở 49 làng, trừng trị 49 tên tay sai, thu 52 súng các loại. Sau khởi nghĩa, nghĩa quân tiếp tục lập 6 lõm căn cứ  trong đó có căn cứ Mớp Xanh tiếp tục hoạt động vũ trang, duy trì chiến đấu, diệt 68 tên địch, làm bị thương 70 tên, thu 30 súng các loại.

Trong quá trình khởi nghĩa, dù tình thế không thuận lợi do không phối hợp được với lực lượng khởi nghĩa chủ yếu ở Sài Gòn nhưng lực lượng khởi nghĩa ở Tân An và Chợ Lớn đã nêu cao tinh thần kỷ luật, quyết tâm thực hiện đúng nghị quyết của Xứ ủy và kế hoạch. Thực dân Pháp đã tiến hành đàn áp khốc liệt cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ở 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn, chúng đã đốt hơn 300 ngôi nhà, giết hại hàng trăm dân thường. Ở Giồng Cám (xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa), chúng đã bắn chết 17 người, vùi xác xuống 1 con mương. Gia đình ông Huỳnh Văn Bài (cha đồng chí Huỳnh Văn Một) bị chúng đốt nhà, tàn sát cả 7 người rồi tưới xăng thiêu cháy. Cho đến tháng 1/1941, chúng đã bắt 421 người ở tỉnh Tân An và 522 người ở tỉnh Chợ Lớn và đày Tà Lài, Côn Đảo hoặc kết án tử hình 132 người. Cũng tại 2 tỉnh này, chúng đã lập 11 mô bắn sát hại nhiều chiến sĩ cách mạng. Tại pháp trường của giặc, nhiều chiến sĩ cách mạng đã nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, oanh liệt hy sinh trong niềm tiếc thương của nhân dân và sự kính phục của kẻ thù như: Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Văn Dương….

Trong điều kiện cuộc khởi nghĩa không giành được thắng lợi và bị địch đàn áp, khủng bố, truy quét khốc liệt, nghĩa quân vẫn thành lập các lõm căn cứ nhằm duy trì chiến đấu và bảo tồn lực lượng. Điều này là bằng chứng hùng hồn về tinh thần cách mạng tiến công và quyết tâm chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng giải phóng dân tộc của Đảng. Hoạt động của nghĩa quân sau Khởi nghĩa Nam Kỳ ở các căn cứ mà tiêu biểu là căn cứ Mớp Xanh chính là tiền đề để cho vùng đất bưng biền này trở thành căn cứ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Tân An và Chợ Lớn là 2 trong 9 tỉnh ở Nam Kỳ khởi nghĩa sớm và mạnh mẽ nhất trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuộc khởi nghĩa ở 2 tỉnh này đã góp phần làm rung chuyển bộ máy cai trì ở thuộc địa mà thực dân Pháp đã dựng lên gần 8 thập kỷ kể từ khi chúng nổ súng xâm lược nước ta. Là cuộc tập dượt sử dụng bạo lực vũ trang cách mạng, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là tiếng sấm rền báo hiệu cho cơn bão táp Cách mạng Tháng Tám quét sạch bọn xâm lược và bè lũ tay sai 5 năm sau đó. Đánh giá công trạng và thành tích của đội quân khởi nghĩa Nam Kỳ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 163-SL, ngày 14/4/1948 tặng thưởng Huân chương Huân công hạng nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ”. Trong niềm tự hào chung ấy, có phần đóng góp xứng đáng của quân và dân 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn.

Hơn bảy mươi năm đã trôi qua nhưng lớp bụi thời gian vẫn không thể xóa nhòa những sự kiện lịch sử oai hùng mà ông cha ta đã lập nên trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Những di tích về cuộc khởi nghĩa vẫn còn tồn tại như: Đài xử bắn các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa ở sân banh Cần Giuộc và Ngã tư Đức Hòa, địa điểm nghĩa quân quận Đức Hòa diệt tên Quản Nên và Bếp Nhung ở Giồng Cám, địa điểm Mớp Xanh-nơi  nghĩa quân  lập căn cứ để bảo tồn lực lượng và tiếp tục chiến đấu với kẻ thù. Để bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích này, phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân, Sở Văn hóa-Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tiến hành nghiên cứu, lập hồ sơ trình các cấp có thẩm quyền ra quyết định xếp hạng. Trong đó, di tích sân banh Cần Giuộc (địa điểm thực dân Pháp xử bắn đồng chí Nguyễn Thị Bảy và 4 chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Cần Giuộc) và Giồng Cám (nơi nghĩa quân quận Đức Hòa diệt Quản Nên, Bếp Nhung và là nơi thực dân Pháp giết 17 thường dân, vùi chung xác xuống mương) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Đài xử bắn Đức Hòa nằm trong quần thể di tích Ngã tư Đức Hòa và căn cứ Mớp Xanh (tiền thân của căn cứ Bình Thành) đã được Bộ văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia. Các công trình trùng tu tôn tạo đã được Ủy ban nhân dân tỉnh đầu tư kinh phí xây dựng tại  những di tích này. Tại Giồng Cám và Sân banh Cần Giuộc, bia lưu niệm sự kiện lịch sử đã được xây dựng. Đài xử bắn tại di tích Ngã tư Đức Hòa sẽ được phục hồi trong giai đoạn 2 của dự án trùng tu, tôn tạo di tích Đức Hòa. Tại Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh (căn cứ Bình Thành), hạng mục Nhà truyền thống đang được xây dựng. Trong nội dung trưng bày của Nhà truyền thống, sẽ có một phần trang trọng để trưng bày những hình ảnh, tư liệu, hiện vật về căn cứ Mớp Xanh.

Cùng với các công trình lịch sử bằng chữ viết, các di tích lịch sử văn hóa nói trên sẽ là “cuốn sử sống” phản ánh sinh động cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trên mảnh đất Tân An, Chợ Lớn năm xưa. Với ý nghĩa ấy, sau khi được trùng tu, tôn tạo, các di tích lịch sử-văn hóa về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ-thế hệ tương lai của đất nước.
                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

26/06/2012 1:40 SAĐã ban hànhApproved
Trà Quý Bình (1828 - 1894)Trà Quý Bình (1828 - 1894)

Nửa sau thế kỷ XIX, trên địa bàn Long An ngày nay xuất hiện nhiều chiến sĩ và nhà thơ yêu nước đã cống hiến nhiều công sức trong phong trào chống Thực dân Pháp xâm lược ở địa phương cũng như cả nước. Một trong những người này là Trà Quý Bình - một nhà nho yêu nước đã từng tham gia lãnh đạo kháng chiến ở 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.

Trà Quý Bình có tên thật là Duy Ninh, hiệu là Tịnh Trai, sinh năm 1828 tại thôn Bình Quới, tổng Thạnh Hội Thượng, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An (nay thuộc xã Bình Quới, huyện Châu Thành, tỉnh Long An). Ông cố của Trà Quý Bình là Trà Văn Cơ từ huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn vào Nam định cư tại làng Bình Quới. Con ông Trà Văn Cơ là Trà Văn Tiên là người đã lập ra chợ Kỳ Son. Tương truyền, Trà Quý Bình là người thông minh, học rộng, có tài đánh đàn rất hay. Năm 20 tuổi (1848), ông đỗ Tú tài khoa Mậu Thân tại trường thi Gia Định. Liên tiếp các khoa Nhâm Tý (1852), Aát Mão (1855) ông gặp đại tang nên không đi thi. Năm 1859, quân Pháp đánh thành Gia Định, Trà Quý Bình gia nhập vào đoàn quân nghĩa dũng huyện Tân Thạnh (nay là Châu Thành) lên chống giặc tại Sài Gòn. Năm 1861, Đại đồn Chí Hòa thất thủ, ông trở về quê mộ 800 quân, chia làm 2 cơ chống giặc ở 2 huyện Cửu An, Tân Thạnh và được phong chức Thự Quản Cơ. Ngày 21 tháng 6 năm Tân Dậu (1861), Trà Quý Bình đem nghĩa quân tập kích đồn giặc tại Vàm Rạch Châu Phê (nay thuộc xã Nhơn Thạnh Trung) giết chết Tri phủ Việt gian Trần Quang Tâm, đốt cháy đồn giặc, thu toàn bộ vũ khí. Năm 1862, Trà Quý Bình mộ được 13 cơ binh, phối hợp với Trương Định chống Pháp ở Gò Công. Lúc bấy giờ ông giữ chức Tổng Binh Đạo An Thạnh (Cửu An – Tân Thạnh) của quân kháng chiến, đã chỉ huy nghĩa quân đắp đảo Long Trì để phòng ngự mặt sông Vàm Cỏ Tây và nhiều lần tấn công giặc Pháp ở các vùng xung quanh. Năm 1863, Trương Định  cử ông giữ chức Đề Đốc Quân Vụ tỉnh Gia Định. Từ khi Trương Định hy sinh (8-1864) ông lánh sang Vĩnh Long rồi về Huế. Triều đình thưởng cho ông hàm Chủ Sự rồi phái ông về An Giang lo việc dinh điền, mộ dân làm ruộng để chuẩn bị chống Pháp. Năm 1867, Thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ông lánh ra Bình Thuận sống cuộc đời ẩn dật. Sau nhiều lần thác bệnh để từ  chối quan chức của Triều đình phong cho, năm 1869, ông nhận chức Tri phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Từ đó ông lần lượt giữ chức Aùn Sát các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi rồi Bố Chánh tỉnh Quảng Ngãi. Ở vị trí nào, ông cũng là người cương trực, yêu nước, thương dân và dám nói thẳng. Chính ông là người đầu tiên đề nghị Triều đình ghi công Trương Định, xây đền thờ và cấp ruộng tự điền cho Trương Định tại Quảng Ngãi. Năm 1878, vì tha thuế cho một thuyền buôn, Trà Quý Bình bị Triều đình cách chức. Từ đó ông về ẩn dật tại Cô Sơn (Khánh Hòa) đến năm 1883 mới ra nhận chức Doanh Điền Sứ tỉnh Bình Thuận. Năm 1886, vì tên Trần Bá Lộc tố cáo ông ngầm xúi dân nổi lên chống Pháp, nên Vua bù nhìn Đồng Khánh cho triệu ông về cách hết chức hàm và quản thúc tại Huế. Một thời gian sau, triều đình lại cho ông khai phục hàm Hàn Lâm Viện Biên Tu. Do đau buồn về thời cuộc, Trà Quý Bình mất ngày 20-2-1894 tại Huế, hưởng thọ 67 tuổi.

Trà Quý Bình có để lại một tập thơ nhưng hiện tại đã thất lạc. Con ông là Cử nhân Trà Quý Tiếp (Rễ Nguyễn Thông) là một trong những nhân vật góp phần đáng kể vào sự hình thành của phong trào Duy Tân  ở miền Trung đầu thế kỷ XX. Mặc dù thân thế và sự nghiệp của Trà Quý Bình hiện nay  ít được người đời biết đến, nhưng với tư cách là một nhà nho chân chính, một chiến sĩ yêu nước đã từng đứng lên chống quân xâm lược Pháp, ông xứng đáng được hậu thế trân trọng, ghi ân và học tập.

                                                                                              NGUYỄN VĂN THIỆN

29/02/2012 2:42 SAĐã ban hànhApproved
THÔNG QUA DỰ THẢO ĐỀ ÁN ĐẶT TÊN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TÂN AN ĐỢT 3 NĂM 2020 THÔNG QUA DỰ THẢO ĐỀ ÁN ĐẶT TÊN ĐƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TÂN AN ĐỢT 3 NĂM 2020

Vừa qua, Ban Nghiên cứu đặt tên đường thành phố Tân An họp thông qua dự thảo Đề án đặt tên đường trên địa bàn thành phố Tân An đợt 3 năm 2020. Ông Nguyễn Quang Thái, Phó Chủ tịch UBND thành phố kiêm Trưởng Ban nghiên cứu đặt tên đường thành phố Tân An chủ trì hội nghị.

16-3-2020  quang canh hoi nghi dat doi ten duong.png

Tại hội nghị, bà Huỳnh Thị Bạch Lan, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin thành phố kiêm Phó Ban Nghiên cứu đặt tên đường thành phố Tân An thông qua dự thảo Đề án đặt tên đường trên địa bàn thành phố lần thứ 3 năm 2020. Dự kiến, thành phố sẽ trình Hội đồng tỉnh thẩm định, thông qua 20 tên đường để đặt tên cho các tuyến đường mới, các hẻm lớn trên địa bàn thành phố Tân An.

Kết luận hội nghị, ông Nguyễn Quang Thái chỉ đạo Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố có văn bản đề nghị UBND Phường 1 lấy ý kiến trong nhân dân đặt tên đường phía sau Tỉnh ủy Long An (điểm đầu nối đường Phan Văn Đạt, điểm cuối nối đường Ngô Quyền) thành đường Phan Văn Đạt nối dài, do đoạn đường trên nối liền với đường Phan Văn Đạt để người dân thuận tiện trong việc tìm kiếm tên đường; nếu đặt tên đường Ngô Quyền thì bị cắt giao với đường Nguyễn Huệ, theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành quy chế đặt tên đường, phố và công trình công cộng quy định là không phù hợp. Giao Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố hoàn chỉnh hồ sơ theo nội dung các thành viên đóng góp, tham mưu UBND thành phố có văn bản trình Hội đồng tỉnh thẩm định để thực hiện trên địa bàn./.

 Phòng VH và TT Tân An

16/03/2020 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88Di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88

Vừa qua, UBND tỉnh Long An ban hành Quyết định số 1508/QĐ-UBND ngày 10/5/2018 xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88. Di tích tọa lạc tại ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, là nơi ghi dấu tinh thần chiến đấu và hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88 trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang, Kinh 62 xã Vĩnh Đại từ ngày 06-02 đến 07-02-1970.

`Ngày 20-8-2018. Bằng xếp hạng di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sỹ Trung đoàn 88.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Khu tưởng niệm liệt sĩ
Trung đoàn 88

Ngược dòng lịch sử, vào tháng 11 năm 1969, Trung đoàn 88 được Bộ chỉ huy Miền điều động về chiến trường miền Trung Nam Bộ làm nhiệm vụ đánh phá kế hoạch “Bình định” của Mỹ - ngụy. Thời gian đầu các đơn vị của Trung đoàn đứng chân hoạt động ở khu vực Bình Hòa, Bình Phong Thạnh, Hưng Điền, vùng biên giới Đồng Tháp Mười. Đầu năm 1970, Bộ chỉ huy Miền điều động 3 Tiểu đoàn (K7, K8, K9) thuộc Trung đoàn 88 xuống chiến trường Kiến Phong (Đồng Tháp), Kiến Tường (Long An). Tiểu đoàn 7 sau khi được củng cố, bổ sung lực lượng được chọn làm đơn vị hành quân đầu tiên.

Đầu tháng 02/1970 Tiểu đoàn 7 nhận lệnh di chuyển xuống chiến trường, do quân số đông nên phải chia làm hai đợt  hành quân. Bộ phận đi trước xuất phát vào đêm ngày 05/02/1970 (29 ÂL Tết Kỷ Dậu), do đồng chí Ong Thế Huệ (còn gọi là Bảy Huệ) Phó Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 88 và đồng chí Trần Duy Quang  Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 7 trực tiếp chỉ huy. Bộ phận đi sau xuất phát vào đêm của ngày 06/02/1970 (tức mùng 1 Tết Canh Tuất) do đồng chí Đào Đức Luyện- Chính trị viên Tiểu đoàn và đồng chí Trần Quốc Thành - Tiểu đoàn phó chỉ huy. Khoảng 7 giờ sáng ngày 06/02/1970 máy bay trinh sát địch phát hiện đội hình thứ nhất ngay khi vừa tiếp cận địa điểm trú quân trong khu rừng tràm non (thuộc khu vực kinh Ngang, địa phận ấp Láng Sen). Biết địch đã phát hiện nhưng do địa hình từng cụm như da beo, khá trống trãi, có chỗ nước ngập lại là ban ngày nên  đoàn quân không thể di chuyển để tránh né được. Về phía địch, chúng án binh bất động chờ cho qua giờ ngừng bắn “Tết” (hết 12 giờ trưa cùng ngày).

   Vừa hết giờ ngừng bắn, máy bay địch gồm trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát  OV10, L19 liên tục bắn phá  bằng đại liên, rốc két vào đội hình trú quân của ta. Tiếp sau đó địch dùng trực thăng đổ quân khoảng 4-5 tiểu đoàn là Liên đoàn 44- biệt động quân, lực lượng bảo an Mộc Hóa, Kiến Bình, lực lượng biệt kích Biên phòng thắt chặt vòng vây và tổ chức tấn công rất nhiều đợt

Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 đã nổ súng chống trả quyết liệt làm cho quân địch thương vong nhiều, song do không có hệ thống công sự chiến đấu, phần đông là chiến sĩ ở miền Bắc mới vào nên không quen thuộc địa hình đồng bằng, sông nước, kênh rạch; không có lực lượng phía sau chi viện và phải chịu đựng sức tiến công tàn phá hủy diệt của bom, đạn, hỏa lực mạnh của địch nên số lượng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn K7 thương vong khá nặng nề.

Sáng ngày hôm sau, địch tiến vào lùng sục không gặp ta nên chúng mở rộng vùng kiểm soát và chạm trán với cánh quân thứ 2 do đồng chí Quốc Thành chỉ huy ở khu vực kinh 62 (ấp Vĩnh Ân, xã Vĩnh Đại). Địch chủ yếu dùng phi pháo đánh phá ác liệt vào đội hình này kết hợp bộ binh vây chặt. Trận chống càn diễn ra vô cùng ác liệt, bộ đội hy sinh rất nhiều, chỉ dưới đoạn đìa không dài lắm, song mấy chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh dưới đó…. Cánh quân thứ hai bị thương vong rất lớn, quân số còn lại rất ít, đồng chí Đào Đức Luyện - chỉ huy cánh quân thứ hai cũng hy sinh trong đợt này. Đến ngày thứ  ba tức mùng 3 Tết, địch vẫn quay lại lùng sục.

 Như vậy, cuộc hành quân của Tiểu đoàn 7 đã chịu tổn thất nặng nề, các chiến sỹ đã chiến đấu và có khoảng hơn 100 chiến sỹ anh dũng hy sinh. Suốt trong thời gian dài sau đó, Đài phát thanh Ba Xuyên của địch ở Vị Thanh - nay là Hậu Giang - thường xuyên ra rả phát đi bài ca “Tiêu diệt Tiểu đoàn bảy”, K7A của ta. Về phía địch, do sự chống trả quyết liệt, dũng cảm, ngoan cường của bộ đội ta chúng bị thương vong cũng rất lớn.

 Trong đêm mùng một và mùng hai Tết, sau khi luồn thoát ra khỏi vòng vây một số chiến sĩ hành quân về hướng biên giới “Tà Nu” - Campuchia, nơi Trung đoàn 88 đứng chân. Toàn bộ đội hình chỉ còn trên dưới 100 đồng chí. Sau khi trận đánh kết thúc, địch vẫn tiến hành bao vây để lấy xác quân địch chết, đồng thời cài mìn trên người của bộ đội đã hy sinh với mục đích nhằm tiêu diệt lực lượng ta khi đến lấy xác của đồng đội. Do đó, sau một thời gian thì người dân ở địa phương và lực lượng du kích xã Vĩnh Đại mới có thể an táng các chiến sĩ đã hy sinh, nhưng chủ yếu là đậy nilon và lấp đất vì đã quá lâu ngày, còn khoảng 30-40 chiến sỹ nằm ở dưới đìa cặp Kinh 62 thì không thể an táng được.

Sau ngày hòa bình lập lại, khoảng những năm 2000, gia đình chú Nguyễn Văn Dùng (Sáu Dùng) trong lúc làm ruộng đã phát hiện nhiều bộ hài cốt của các chiến sĩ. Năm 2010, gia đình chú đã dựng một ngôi miếu thờ nho nhỏ, được xây bằng xi măng, đặt cạnh Bờ Kinh 62. Sau nhiều lần sửa chữa, đến năm 2014 chú Sáu Dùng cùng bà con góp tiền lại làm ngôi miếu khác “khang trang” hơn. Nhưng thực ra cũng chỉ là ngôi miếu nhỏ, bề ngang và bề dài khoảng 2,5m; mái và vách xung quanh bằng tole, nền lót gạch bông và xi măng. Xung quanh miếu là cánh đồng lúa mà vào mùa nước chỉ toàn  nước, bên trong miếu có đặt một ghế thờ, một bàn con,... Trên ghế thờ là ảnh Bác Hồ, lư hương, bình hoa.Tuy chỉ là  một ngôi miếu nhỏ, đơn sơ nhưng là cả tấm lòng, nghĩa tình, sự trân trọng và biết ơn của người dân nơi đây dành cho các liệt sĩ Trung đoàn 88.

Ngày 20-8-2018. Bên trong ngôi miếu thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88.JPG

Bên trong ngôi miếu thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88

Ngày 20-8-2018. Ngôi miếu nhỏ nơi thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn (ngày 6 đến 7-2-1970).JPG

Ngôi miếu nhỏ nơi thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn
ngày 6 đến 7-2-1970


Hàng năm cứ vào ngày thương binh liệt sỹ 27/7, nhân dân ấp Vĩnh Ân cùng chính quyền địa phương tổ chức lễ giỗ cho các liệt sĩ với tấm lòng của những người dân nghèo. Đám giỗ rất đơn sơ, bà con ai có gì thì cúng thứ ấy, có khi là vài con cá, con lươn, gà hay vịt hoặc chỉ vài ba lít rượu. Đến nay, bình quân mỗi kỳ lễ giỗ có khoảng 250 đến 300 người đến dự, từ bà con trong xã đến chính quyền các cấp, các bác là cựu chiến binh Trung đoàn 88, … Lễ giỗ diễn ra trang nghiêm và ấm cúng, có nghi thức chào cờ, ôn lại truyền thống địa phương cũng như trận chống càn lịch sử ngày 6 đến ngày 07-02-1970, tất cả đều một lòng tưởng nhớ đến người đã khuất.


Ngày 20- 8 -2018 Người dân địa phương đến thắp hương miếu thờ các liệt sỹ Trung đoàn 88.JPG

Người dân địa phương đến thắp hương miếu thờ các liệt sĩ
Trung đoàn 88

Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88  được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh chính là sự ghi nhận sự hy sinh của nhân dân miền Bắc nói chung, chiến sĩ Trung đoàn 88 nói riêng  đã sẵn sàng vào Nam chiến đấu, góp sức trẻ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Các chiến sĩ xả thân vì quê hương, đất nước khi đang làm nhiệm vụ tại vùng Đồng Tháp Mười đã để lại trong lòng người dân nơi đây lòng cảm thương vô hạn. Di tích còn là biểu hiện cụ thể cho tấm lòng yêu thương, gắn bó và biết ơn của nhân dân Tân Hưng  nói riêng và nhân dân Long An nói chung đối với các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc.

Ngày 20-8-2018. Cánh đồng lúa trong mùa nước nổi- nơi các chiến sĩ Trung đoàn 88 hy sinh.JPG

Cánh đồng lúa trong mùa nước nổi - nơi các chiến sĩ
Trung đoàn 88 hy sinh

Tưởng nhớ đến sự hy sinh của các liệt sĩ và muốn cho đồng đội có ngôi nhà che nắng mưa nên các cựu chiến binh và Ban liên lạc Trung đoàn 88 đã kêu gọi các mạnh thường quân, những người có lòng hảo tâm đóng góp kinh phí xây dựng Đền tưởng niệm. Ý tưởng này đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Tân Hưng nhiệt tình ủng hộ. Địa phương đã vận động ông Lê Hoàng Tư, xã Thạnh Hưng, thị xã Kiến Tường hiến 1.944m2 đất để xây dựng Đền tưởng niệm các liệt sỹ Trung đoàn 88. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp UBND huyện Tân Hưng và các đơn vị liên quan tổ chức khảo sát, có ý kiến đề xuất việc xây dựng Bia tưởng niệm liệt sĩ tại kinh 62. Hiện công trình đã  thực hiện phần san lấp mặt bằng, khi hoàn thành, nơi đây sẽ trở thành địa chỉ đỏ của địa phương trong công tác giáo dục lịch sử truyền thống, làm ấm lòng các chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc và trọn vẹn tâm nguyện của các cựu chiến binh Trung đoàn 88.

Hồ Phan Mộng Tuyền

23/08/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
LIÊN HOAN “CÁC NHÓM CA KHÚC CÁCH MẠNG VÀ BAN NHẠC” TỈNH LONG AN, LẦN THỨ I, NĂM 2017LIÊN HOAN “CÁC NHÓM CA KHÚC CÁCH MẠNG VÀ BAN NHẠC” TỈNH LONG AN, LẦN THỨ I, NĂM 2017

Thiết thực kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2017), Ngày Quốc tế Lao động (1/5), và hướng tới kỷ niệm 63 năm ngày Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2017), 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2017); Đồng thời, tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt động của các nhóm tuyên truyền ca khúc cách mạng từ cơ sở, Trung tâm Văn hóa tỉnh Long An tổ chức Liên hoan "Các Nhóm ca khúc cách mạng và Ban nhạc" tỉnh Long An, lần thứ I, năm 2017. Liên hoan được diễn ra từ ngày 26 - 28/4/2017 với phần tham gia biểu diễn của 16 Nhóm ca khúc cách mạng và Ban nhạc đến từ các huyện, thị xã, thành phố và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Trụ.

CaKhucCachMang 2017 01.jpg

Nhóm ca khúc cách mạng và Ban nhạc huyện Thủ Thừa

Với phần biểu diễn của 250 diễn viên, nhạc công, qua gần 100 tiết mục có nội dung ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi Đảng quang vinh, Bác Hồ kính yêu, thể hiện niềm tự hào về sự đổi mới của tỉnh nhà, của đất nước,… Nhiều chương trình đã bám sát chủ đề, các tiết mục đã được đầu tư dàn dựng công phu, tập luyện nghiêm túc, hòa quyện giữa dàn nhạc và ca sĩ thể hiện, tạo sự bất ngờ lớn cho Ban Giám khảo và người xem. Cũng từ liên hoan nầy, đã phát hiện những hạt nhân tiêu biểu bổ sung, làm nòng cốt cho phong trào văn nghệ quần chúng của tỉnh.

CaKhucCachMang 2017 02.jpg

Diễn viên của Nhóm ca khúc cách mạng và ban nhạc thị xã Kiến Tường

Ban Tổ chức đã trao các giải chương trình cho các nhóm ca khúc cách mạng và ban nhạc và các tiết mục biểu diễn tốt, như sau:

- Giải chương trình: 03 Giải A cho Bến Lức, thành phố Tân An, Tân Trụ; 05 Giải B cho Vĩnh Hưng, Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa, Tân Hưng; 08 Giải khuyến khích cho Thủ Thừa, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Trụ, Mộc Hóa, Châu Thành, Thạnh Hóa, thị xã Kiến Tường, Tân Thạnh, Đức Huệ.

- Giải tiết mục: 20 giải A, 32 giải B và 20 giải khuyến khích.

- Giải đặc biệt, 05 giải: Ban nhạc có tuổi đời bình quân cao nhất (Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Trụ), Ban nhạc có các thành viên gắn bó nhau lâu nhất (thành phố Tân An), Ban nhạc ấn tượng nhất (Tân Trụ), Ban nhạc phối âm trẻ trung (Thủ Thừa), Ban nhạc địa phương triển vọng (Vĩnh Hưng).

CaKhucCachMang 2017 03.jpg

Ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Sở VH, TT và DL trao giải cho các đội tham gia Liên hoan

Liên hoan đã tạo không khí vui tươi phấn khởi chào mừng các ngày lễ lớn, là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, là sân chơi lành mạnh, bổ ích, nhằm phát huy giá trị nghệ thuật của các ca khúc truyền thống cách mạng; là dịp, để các diễn viên, nhạc công không chuyên trong toàn tỉnh có dịp giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, từng bước nâng cao hơn nữa chất lượng phong trào văn nghệ quần chúng ở các huyện, thị xã, thành phố và các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh. Đặc biệt, thông qua cuộc Liên hoan, khơi dậy việc sử dụng dàn nhạc sóng trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật quần chúng đã dần bị mai một trong thời gian qua.

                                                                              Bài, ảnh: Hồng Thủy

Trung tâm Văn hóa tỉnh Long An.

20/06/2017 3:00 CHĐã ban hànhApproved
CÔNG AN XƯỞNG - QUỐC VỆ ĐỘI NAM BỘ TẠI TUYÊN THẠNH, MỘC HÓA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁPCÔNG AN XƯỞNG - QUỐC VỆ ĐỘI NAM BỘ TẠI TUYÊN THẠNH, MỘC HÓA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Năm 1945, nhân dân Việt Nam  tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám, đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại nền độc lập, tự do sau hơn 80 năm sống trong xích xiềng nô lệ. Nhưng thực dân Pháp vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược, cai trị lâu dài đất nước ta. Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm nước ta tại Sài Gòn. Từ đó, đồng bào Nam Bộ đã dũng cảm đứng lên cầm vũ khí, bước vào cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp. Để chống lại và chiến thắng một kẻ thù hùng mạnh, có nhiều vũ khí tối tân, Đảng ta đã xây dựng nhiều cơ sở chế tạo vũ khí trang bị cho bộ đội đánh giặc. Một trong những cơ sở ấy là Công An Xưởng của Quốc Vệ Đội Nam Bộ, đã từng đóng tại Bắc Chan-Tuyên Thạnh từ khoảng năm 1947-1950.

Khu vực Bắc Chan, xã Tuyên Thạnh, huyện Mộc Hóa là căn cứ cách mạng của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 1946-1947, vùng này từng là căn cứ địa của Bộ Tư lệnh Khu 8. Khoảng năm 1947, Công An xưởng của Quốc Vệ Đội Nam Bộ đã về đóng tại khu vực này. Đây là một cơ quan đặc biệt, chuyên sản xuất súng Ru-Lô trang bị cho các Đội Công Tác Thành trên toàn Nam Bộ để làm công tác trừ gian, diệt ác. Tại Tuyên Thạnh, Công An xưởng của Quốc Vệ đội Nam Bộ có 3 phân Xưởng, một đóng tại đám Tràm Dơi của Ông Phạm Văn Triệu ở ấp Bắc Chan II, còn lại đóng ở ngọn Bình Tây. Phân xưởng đóng đám Tràm Dơi có khoảng 70 công nhân do ông Ba Râu làm phân xưởng trưởng. Đa số công nhân này là công nhân Ba Son và công nhân cao su miền Đông, chỉ có ông Phạm Văn Thanh (sinh năm 1928, hiện ngụ tại nhà số 67- Lý Thường Kiệt-thị trấn Mộc Hóa) là người địa phương. Công nhân trong Công An xưởng của Quốc Vệ đội Nam Bộ được chia làm 7 ban chuyên môn: Đốt Than, Tiện, Nguội, Lò Đúc, Lò Rèn. Làm Bá, Sạc Đạn. Nguyên liệu để chế tạo súng của Công An xưởng là thép đường rail xe lửa và gang được một đường dây bí mật chuyển về. Mặc dù phương tiện sản xuất còn thô sơ, chủ yếu là thủ công nhưng với trình độ kỹ thuật cao, sự thông minh, khéo léo và tinh thần quyết tâm vượt khó, tập thể công nhân của Công An xưởng tại Tuyên Thạnh đã sản xuất được những khảu súng ngắn có chất lượng cao, xinh xắn, tiện lợi cho điều kiện hoạt động của các đội Công tác thành. Anh em công nhân còn làm được đường khương tuyến trong nòng súng, nên đã đạt được độ chính xác cao khi sử dụng súng. Trung bình, mỗi tháng Công An xưởng tại Tuyên Thạnh sản xuất được khoảng 30 cây súng ngắn để trang bị cho lực lượng Công tác thành trên toàn Nam Bộ. Từ năm 1947 đến năm 1950, Công An xưởng này đã sản xuất hàng trăm súng có chất lượng tốt, góp phần đắc lực vào công tác trừ gian diệt ác nói riêng và cuộc kháng chiến chốngPháp nói chung trên toàn Nam Bộ.

Vào tháng 9-1998, ông Phạm Văn Biền (con ông Phạm Văn Triệu- chủ nhân của đám Tràm Dơi- nơi Công An xưởng của Quốc Vệ đội Nam Bộ trú đóng năm xưa) trong lúc đào ao cá trong vườn nhà đã tìm thấy độ sâu 40cm cách mặt đất 4 mảnh kim loại có trọng lượng 2,5kg, kích thước 20x30cm. ba trong 4 mảnh nói trên được khoét rỗng ở giữa với dạng cây súng ngắn. Lúc mới phát hiện, 4 mảnh kim loại này  ở vị trí nằm chồng lên nhau, được kết dính bởi những chốt kim loại. Sau đó, do ở môi trường ẩm thấp lâu ngày nên những chốt kim loại này bị mục nát, 4 mảnh kim loại này bị rời nhau, không còn ở vị trí ban đầu. Theo ông Nguyễn Văn Thanh, nguyên phó ban Tiện thuộc Công An xưởng của Quốc Vệ đội Nam Bộ, 4 mảnh kim loại nói trên là một khuôn đúc súng Ru-Lô của phân xưởng đóng tại đám Tràm Dơi năm xưa. Khuôn đúc này có thể bị thất lạc trong những lần anh em công nhân chôn giấu phương tiện sản xuất để tránh sự càn quét của địch.

Khuôn đúc súng nói trên là một hiện vật quý, có một không hai cho tới thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh Long An. Nó là vật chứng hết sức sinh động và thuyết phục cho hoạt động sản xuất vũ khí của ta trong chiến tranh giữ nước, cụ thể là trong kháng chiến chống Pháp. Qua đó, nổi bật lên tinh thần cần cù, vượt khó và sự thông minh sáng tạo, cũng như lòng yêu nước nồng nàn của cha ông trong sự nghiệp nền bảo vệ độc lập, tự do cho tổ quốc.

                                                                                            NGUYỄN VĂN THIỆN

 

29/02/2012 2:36 SAĐã ban hànhApproved
Chuyện bà Hớn bà Hở ở Cần ĐướcChuyện bà Hớn bà Hở ở Cần Đước

Từ lâu, đất Cần Đước đã nổi danh ở Lục tỉnh Nam Kỳ qua câu tục ngữ :”Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai” với sự phong phú, dồi dào về lúa gạo, nhất là gạo Nàng Thơm Chợ Đào- một đặc sản được dùng để tiến vua dưới triều Nguyễn. Không những thế, trong một lần đua tài đờn ca tài tử tại Bến Tre vào đầu thế kỷ XX, ông Cai Tổng Đinh Văn Dõng (người Chợ Lách) phải buột miệng khen:” Cần Đước võ vô  địch, đờn xuất chúng”. Thật vậy, đất Cần Đước đã sản sinh ra nhiều nghệ sĩ đàn ca tài tử nổi tiếng và những nhân vật võ nghệ cao cường, lừng lẫy một thời. Trong số đó, có những bậc anh thư như Bà Hớn, Bà Hở mà đến tận bây giờ nhiều người còn nhắc nhở.

Theo lời kể của nhiều cụ già ở xã Phước Tuy và Phước Đông, hai bà có tên là Nguyễn Thị Hớn và Nguyễn Thị Hở, con thứ năm và thứ sáu của ông Thống Sô (Nguyễn Thuyết Xã), người thôn Phước Tuy, tổng Lộc Thành Hạ, huyện Phước Lộc. Hai bà sinh khoảng năm 1855-1857 và lớn lên trong hoàn cảnh thực dân Pháp đang xâm lược Lục Tỉnh Nam Kỳ. Cha của hai bà- vốn là người nổi tiếngvề sức khỏe và võ nghệ, đã từng đứng lên chiêu mộ nghĩa quân khởi nghĩa chống Pháp ở tổng Lộc Thành Hạ-được Trương Định phong chức Thống Lãnh Binh. Kế thừa truyền thống của gia đình, ở tuổi thiếu niên, bà Hớn và bà Hở đã có sức khỏe hơn người đặc biệt là rất giỏi võ nghệ, nhất là đường roi (côn). Vùng Hạ Cần Đước thưở ấy vẩn còn rừng rậm và thú dữ, giao thông đường bộ chưa phát triển như bây giờ, việc đi lại chủ yếu bằng ghe xuồng trên hệ thống sông rạch chằng chịt. Tương truyền, mỗi khi gặp những con rạch nhỏ, hai bà chỉ cần chống ngọn côn xuống đất là có thể nhảy qua dễ dàng. Có lần, một đôi cọp dữ đã xuất hiện tại Phước Tuy, làm hại một số người và gia súc. Với tài võ nghệ của mình, hai chị em bà Năm Hớn và Sáu Hở đã hợp sức nhau dùng côn đánh chết con cọp cái và đánh bị thương con còn lại. Lớn lên, hai bà đã theo cha đánh Tây, ban đầu chỉ lo việc cơm nước, về sau trực tiếp chiến đấu cùng nghĩa quân.

Sau khi Tổng Lãnh Binh Nguyễn Văn Tiến bị Pháp bắt và xử chém tại Chợ Trạm (xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước) vào năm 1883, phong trào vũ trang kháng Pháp ở Cần Đước bước vào giai đoạn thoái trào. Ông Thống Sô vì sức yếu, tuổi già, bị giặc Pháp bao vây phải tự tử ở Phước Tuy. Bà Hớn và bà Hở nối chí cha lãnh đạo một nhóm nghĩa quân tiếp trực chống Pháp. Tuy nhiên, vì chiến đấu đơn độc, thiếu vũ khí, lương thực, nên hoạt động của nhóm nghĩa quân do hai bà lãnh đạo dần dần đi vào bế tắc và biến tướng trở thành một nhóm cướp chuyên cướp của nhà giàu và các ghe buôn lớn chia cho dân nghèo.

Có lần, toán cướp của hai bà định cướp một ghe bầu lớn đang chở đầy hàng hóa. Từ trên bờ, bà Năm Hớn phi thân xuống ghe nhẹ nhàng như chiếc lá rơi. Lúc bấy giờ, người chủ ghe đang ăn cơm, tiện tay bưng chiếc mâm gỗ lên đỡ, buộc bà phải đạp vào mâm gỗ lấy đà để nhảy trở lên bờ. Sau màn giáo đầu ấy, hai bên đều rõ tài nhau nên hai bà chào người chủ ghe rồi dẫn bộ hạ đi nơi khác.Về sau, bà sáu Hở bị thực dân Pháp bắt, kết án 20 năm tù, đày đi Côn Đảo. Bà Năm Hớn sau khi giải tán đám cướp thì phiêu bạt khắp nơi, thỉnh thoảng có người nhìn thấy bà về quê thăm mộ cha, về sau thì không ai rõ tung tích. Riêng bà sáu Hở mãi đến năm 72 tuổi mới được thực dân Pháp thả về. Tuy sống lâu năm dưới chế độ lao tù, nhưng bà vẫn còn khỏe mạnh và đầy hào khí như xưa. Một lần, bà đi chợ Rạch Kiến, bọn lính trong đồn biết tiếng bà mới thách thức, hỏi đùa rằng bà còn đủ sức nhảy qua hàng rào đồn không. Bà chỉ cười không nói và mượn một cây sào dài chống xuống đất làm điểm tựa, tung người bay qua mái đồn giữa sự ngạc nhiên và thán phục của mọi người.

Tuy bà Năm Hớn và Sáu Hở qua đời đã lâu, nhưng nhân dân vùng Cần Đước, Thuận Mỹ (Châu Thành), Nhựt Ninh (Tân Trụ) vẫn còn nhắc nhở về hai bà với sự khâm phục về tinh thần thượng võ và lòng yêu nước của người phụ nữ Long An trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc.

                                                                                               Nguyễn Văn Thiện

29/02/2012 2:33 SAĐã ban hànhApproved
Phục chế thành công Sắc phong đình Đạo ThạnhPhục chế thành công Sắc phong đình Đạo Thạnh

Vừa qua, vào ngày 7 - 8/2/2012 nhằm ngày 16 - 17 tháng G iêng năm Nhâm Thìn, tại đình Đạo Thạnh thuộc ấp 3 xã Hướng Thọ Phú, thành phố Tân An đã diễn ra lễ Kỳ Yên. Đây là lễ cúng lớn nhất trong năm của đình, nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, bá tánh được an khang, thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Đến tham dự lễ Cầu An gồm đông đảo nhân dân, các đoàn thể, đại diện chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích lịch sử-văn hóa tỉnh.

Ngoài những nghi thức Khai môn thượng kỳ, cúng Tiền hiền, tế Đàn Cả, dâng hương tụ thỉnh các Chư thần, đặc biệt năm nay đình Đạo Thạnh còn tổ chức nghi lễ rước sắc thần rất long trọng.

Nghi lễ rước sắc phong đình Đạo Thạnh

Sắc phong đã được an vị tại bàn thờ Thần

Đạo Thạnh là một trong những ngôi đình cổ của tỉnh Long An, có lịch sử hình thành khá lâu đời, thờ thần Thành Hoàng bổn cảnh và được vua Tự Đức ban sắc phong vào ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (1852). Trải qua bao thăng trầm, sự ác liệt của chiến tranh cộng với việc bảo quản chưa khoa học đã làm sắc thần phai màu theo năm tháng. Với sự giúp đỡ về chuyên môn của Bảo tàng Long An, về thủ tục hành chính của các cơ quan chức năng, cuối cùng tâm nguyện của Ban quản trị đình và nhân dân địa phương đã thành hiện thực khi sắc phong đình Đạo Thạnh được Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế phục chế thành công.

Vì vậy, năm nay nhân dân ấp 3 nói riêng, xã Hướng Thọ Phú nói chung tham dự lễ Kỳ Yên trong không khí hân hoan, tin tưởng sâu sắc vào sự phù hộ của thần Thành Hoàng bổn cảnh để nhân dân được an lành, no ấm, ngôi đình Đạo Thạnh ngày càng hưng thịnh và mãi là một điểm văn hóa tâm linh, làm chỗ dựa cho nhân dân muôn đời sau./.

                                                                        Bài và ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

29/02/2012 2:22 SAĐã ban hànhApproved
Làng trống Bình An đón TếtLàng trống Bình An đón Tết

    Thập niên 50 của thế kỷ trước, trống Bình An đã nổi tiếng khắp Nam Bộ và lan xa đến miền Trung... Những ngày chuẩn bị đón tết Nhâm Thìn, không khí lao động ở Bình An rộn rịp hẳn lên vì tín hiệu vui: trống Bình An đã có dịp xuất sang nước ngoài như: Mỹ, Pháp, Úc, Singapore, Trung Quốc, Anh, Campuchia, Hàn Quốc…

    Từ trong nước đến xuất khẩu

    Làng trống Bình An thuộc ấp Bình An xã Bình Lãng, huyện Tân Trụ, Long An. Từ trung tâm huyện, phải đi bộ  băng qua cánh đồng lúa mênh mông hàng trăm hécta chín vàng mơ, đi vào con đường bê tông nhỏ khoảng 1 cây số là đến làng trống. Ông Nguyễn Văn Mến (Năm Mến), một nghệ nhân có thâm niên làm trống cho biết có 20 loại trống, từ trống Sư tử 1,3 triệu đồng  đến 1,5 triệu đồng đến trống Cơm 2,4 triệu đồng, tùy theo kiểu dáng, kích cỡ.

   Ông Năm vừa chỉ các loại trống vừa giải thích cặn kẽ. Đây là loại trống cổ bồng xưa, đít bằng sành, bịt nhựa giống đờn độc huyền, vỗ ra nhiều chữ. Kia là chiếc trống cơm cũ, người ta tiếc rẻ nên thuê bịt lại.

    Năm Mến khoe: “Cái trống khá to do ông cùng nhóm thợ làm ròng rã gần 20 ngày công mới giao cho khách hàng ở tận Cà Mau lên, trị giá 6 triệu đồng. Những loại trống này mỗi tháng làm hàng chục cái là chuyện thường. Cách đây mấy tháng, tôi làm cái trống cao 2,5m; mặt rộng 1,5m; trị giá 25 triệu đồng, mới là cái trống lớn kỷ lục!”

    Chúng tôi nhìn lên tường thấy treo Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng cho ông Năm, một nghệ nhân có nhiều thành tích.

    Năm Mến nhớ lại lời ba ông kể hồi nhỏ, nghề trống ra đời cách đây khoảng 150 năm, do ông cố của ông là Nguyễn Văn Ty khởi xướng. Thời đó, ông Ty có ghe chài chuyên đi mua bán nước mắm từ Long An sang các tỉnh miền Tây.

    Trong quá trình đi buôn, ông Ty phát hiện dọc sông Vàm Cỏ nhiều người làm thịt trâu bỏ da. Thấy vậy, ông mang da trâu về phơi khô rồi mày mò làm trống. Do chưa có kinh nghiệm và thiếu đồ nghề nên trống làm ra tiếng kêu không được thanh và nhỏ xíu. Ngoài gia đình ông Năm Mến, còn những hộ làm trống lâu đời như: Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Văn Tùng…, tất cả đều dòng họ Nguyễn.

     Sau khi ông Ty qua đời, truyền sang ông nội của Năm Mến là Nguyễn Văn Tịnh, sau đó cha ông là Nguyễn Văn Tình, sang đời ông và các con ông: Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn An (đặt tên ghép để nhớ kỷ niệm làng trống Bình An) đã là năm đời làm trống. Riêng ông Năm Mến, làm trống từ năm 16 tuổi đến nay đã 63 xuân.

     Năm Mến cho biết: “Những thợ làm trống mày mò và sáng chế ra phương pháp dùng giàn chò, giàn giáo… để làm công cụ bịt trống; thân trống được làm bằng gỗ Sao rất tốt đảm bảo độ bền cao. Trống được sơn màu đỏ và thiết kế bề ngoài khá đẹp nên rất được ưa chuộng.”

     Làm trống có trên 20 công đoạn. Để làm được trống chất lượng, đảm bảo tiếng kêu tốt và độ bền cao, phải tìm cho được loại da trâu già, vừa mới làm thịt, tuyệt đối không dùng da trâu đã ngâm muối. Sau đó mang da trâu về căng ra phơi khô, lấy cỡ mặt trống, cắt da tròn rồi mới bịt…

     Địa chỉ mua da trâu tươi thường là các lò mổ Phú Thọ (Chợ Lớn), Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh được các nghệ nhân đưa về Long An, dùng gỗ Sao hay Lồng Mứt đốt lửa uốn ngay rồi căng phơi.

     Làng trống Bình An có 26 hộ, hầu hết là nông dân, trong đó có đến 19 hộ ở ấp Bình An, sau đó các anh chị này lập gia đình, đem nghề truyền lại cho các gia đình ở Bình Tịnh, Lạc Tấn và Mỹ Bình.

     Để tồn tại và phát triển, các cơ sở sản xuất trống ở Bình An liên tục thay đổi mẫu mã, hình thức, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Nếu như mấy năm trước, tất cả các công đoạn hầu như chỉ làm bằng phương pháp thủ công truyền thống, hai năm trở lại đây, các nghệ nhân cải tiến từ dụng cụ thủ công chuyển một số công đoạn sang cơ giới hóa và điển khí hóa như: khoan điện, bào, sơn tĩnh điện, chà giấy nhám…

     Ông Năm Mến giải thích thêm: “Tùy theo từng loại trống mà có cách làm da và bịt khác nhau, như trống lân thì làm da dày và bịt thẳng để kêu bong tiếng; trống nhạc lễ thiết kế khi đánh lên nghe tiếng âm dương, cao thấp; rồi trống trường, trống đình, chùa… mỗi loại đều có tiếng kêu riêng biệt”.  Độ bền của trống Bình An kéo dài từ 20- 30 năm mới lủng, sau đó bịt lại mặt và tiếp tục sử dụng.

     Ông Nguyễn Tấn Thành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Lãng, phấn khởi báo tin: “Vừa qua các hộ làm trống được vay 300 triệu đồng từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm. Mỗi hộ được vay từ 12 đến 15 triệu đồng trong 2 năm, lãi suất 0,65%/tháng, nếu có nhu cầu sẽ được đáo hạn. Ngoài ra, Sở Khoa học Công nghệ Long An còn hỗ trợ trên 50 triệu đồng đầu tư cơ giới hóa .” 

Ông Năm Mến giới thiệu trống với khách hàng

     Thương hiệu cho làng trống

     Tân Trụ là huyện nghèo nhất tỉnh. Nhiều cơ sở sản xuất trống “ăn nên làm ra” vươn lên khá giả. Như gia đình anh Ba Khía, không có tấc đất cắm dùi, nhờ nghề làm trống mà anh xây được nhà kiên cố và nuôi 4 con học lên đại học. Rồi ông Năm Mến, nuôi 7 người con có cuộc sống ổn định cũng từ nghề trống mà ra. Hộ ông Nguyễn Văn Lương, ông Hai Phú… cũng sống nhờ vào trống. Theo tổng hợp của địa phương, hiện tại đa phần các nghệ nhân làm trống đều có nhà tường khang trang  và mua sắm nhiều phương tiện nghe nhìn, hon da, điện thoại đủ đầy…

     Để nhân rộng nghề làm trống và mở thêm thị trường xuất khẩu, chính quyền địa phương đã phối hợp cùng các cơ sở thành lập Tổ hợp tác sản xuất trống nhằm tăng cường nguồn vốn, trao đổi tay nghề và mở rộng thị trường hướng đến xuất khẩu phát triển bền vững…

     Sắp tới, các ngành chức năng ở huyện Tân Trụ đang xúc tiến xây dựng thương hiệu độc quyền cho “trống Bình An”.

     Ông Nguyễn Kỳ Đức, Phó Chánh văn phòng UBND tỉnh Long An, cho biết ngoài các làng chiếu Bến Lức, Cần Đước và Tân Trụ-Long An hiện nay địa chỉ làng trống Bình An đang được UBND tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn đưa vào danh mục điểm du lịch trong tua chính phục vụ du khách khi đến tham quan Long An.

     Hiện tại, làng trống Bình An đang tất bật vào mùa sản xuất phục vụ nhu cầu tết Nguyên đán. Có điều da trâu tươi tăng lên 70%, với giá từ 14 ngàn đồng tăng lên đến 27 ngàn đồng/ký.

     Dù hút hàng nhưng giá trống bán ra vẫn giữ như cũ hoặc nhích lên chút ít. Giá mỗi cái trống trung bình từ 200 ngàn đồng đến hơn 20 triệu đồng (tùy lớn nhỏ), trống lân có giá 3,5-4 triệu đồng/cái, trống múa sư tử, múa rồng giá hơn 1 triệu đồng/cái, trống chầu, trống trường giá 4,8 triệu đồng/cái. Trừ chi phí cơ sở sản xuất còn lời 10%-20%. Riêng thợ làm trống được trả công 150.000đ/ngày, cao hơn nhiều so với làm những nghề khác.

     Theo ông Nguyễn Văn Ngọt, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Du lịch Long An, sắp tới tỉnh đang có kế hoạch xúc tiến đầu tư, mời gọi các doanh nghiệp liên kết phát triển làng nghề gắn kết với du lịch để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước một sản phẩm độc đáo truyền thống của địa phương.

                                                                                       Bài và ảnh: Hùng Cường
                                                         (Chi hội Văn nghệ dân gian thành phố Cần Thơ)

05/03/2012 1:14 SAĐã ban hànhApproved
Chuyện bây giờ mới kểChuyện bây giờ mới kể

    Tôi đến mà không hẹn trước, lòng cứ không an vì sợ không gặp được ông - một cựu lão thành cách mạng suốt 2 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trước mặt tôi là một ông lão với dáng người chắc khỏe, nước da đen rám nắng đang say sưa cắt tỉa những chậu kiểng trong vườn. Thật bất ngờ và không giống như hình dung ban đầu của tôi về một cán bộ lão thành tuổi ngoài 80, ông Phạm Văn Châm, xin mạn phép được gọi là Bác ba Châm vẫn rất tráng kiện, minh mẫn và thật gần gũi. Sau lời chào hỏi, cuộc trò chuyện đã diễn ra thật sôi nổi, cũng từ đây những câu chuyện có thật và rất thú vị về cuộc kháng chiến đã được người cán bộ lão thành kể lại.

     Bác ba ngồi đó, ánh mắt thoáng chút xa xăm, dường như kỷ niệm xa xưa đang ùa về. Chuyện ngày xưa đi kháng chiến hả, nhiều lắm mà lâu quá rồi chắc nhớ không hết - giọng bác trở nên sôi nổi lạ thường. Đó là một câu chuyện dài, từ những năm 1946 khi Bác ba mới tham gia vào đội Thiếu nhi xã Bình Thành - Đức Huệ rồi làm du kích thoát ly, chính trị viên xã đội, đến những năm 1957 với vai trò là chi ủy viên, nhân viên Ban căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn. Theo chiều dài cuộc chiến, Bác ba tiếp tục dấn thân vào các hoạt động giao liên hợp pháp của Tỉnh ủy Long An tại Campuchia, cán bộ quản lý Hậu cần văn phòng Tỉnh ủy Long An… Những câu chuyện từ quá khứ lần lượt quay về, nguyên vẹn, rõ ràng như vừa mới xảy ra ngày hôm qua, có điều đặc biệt nó gắn liền với địa danh nổi tiếng Khu vực Bình Thành - khu căn cứ địa cách mạng của Tỉnh ủy Chợ Lớn - Long An trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Ông Vương Thu Hồng - PGĐ Bảo tàng trao giấy khen cho ông Phạm Văn Châm (thứ 2 từ trái sang), người có công trao tặng hiện vật cho Bảo tàng, ngày 17/3/2011
     Khu vực Bình Thành là căn cứ địa cách mạng của Tỉnh ủy - nơi tập trung nhà cửa, cơ quan, khu vực đóng quân, công binh xưởng, trạm quân y, điện đài, binh vận, hậu cần, khối vận… trong 2 cuộc kháng chiến. Đây là khu vực có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, nằm trong địa phận huyện Đức Huệ, phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp huyện Thủ Thừa, phía Đông giáp Đức Hòa, phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 29km. Ngoài ra, khu căn cứ này còn có môi trường địa lý rất đặc trưng so với những chiến khu khác trong cả nước. Cả khu vực rộng lớn đều là vùng bưng với những đám cỏ nồm, đưng, bàng, năn, sậy, tranh rậm rạp um tùm và rừng tràm gió lúp xúp. Phân bố rải rác xen kẻ với những kinh, ngòi, khe, trấp là các giồng cao. Vào mùa mưa, nước ngập mênh mông nhấn chìm cả đưng, sậy, bàng, tràm, chỉ còn thấy những chóp cây cỏ lưa thưa, cù lao nổi chơi vơi. Mùa khô cây cỏ bị cháy trụi, không còn một ngọn cây, giọt nước. Có khi cả chục cây số vuông không một bóng người….

      Địa hình hiểm trở và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của các cán bộ, chiến sĩ lúc bấy giờ. Câu chuyện cán bộ ta mỗi lần tắm, giặt chỉ với …3,5 lít nước thật khó tin nhưng hoàn toàn có thật. Đó là vào mùa khô năm 1959, theo lời của Bác ba thì đó là năm “ngúng bưng”, cái nắng gay gắt cùng với sự khô hạn đã làm cho toàn bộ vùng bưng với các loại bàng, đưng, cỏ mồm bị cháy rụi đọng lại thành một lớp tro dày, không còn một giọt nước. Cán bộ văn phòng Tỉnh ủy lúc bấy giờ đang đóng tại đìa Xã Le, Giồng Lứt cũng rơi vào tình trạng khó khăn trên. Muốn có nước cán bộ ta phải lội bộ khoảng 3 cây số rồi khiêng nước về. Vật dụng để đựng nước cũng thật đặc biệt, không phải là lu, thùng hay thau mà là….võng. Đó là một chiếc võng dù, bên trên lót tấm ny-lon, sau khi đổ nước vào đầy võng thì phải có 2 người khiêng nước về căn cứ.

      Công việc lấy nước thật khó khăn bởi quãng đường 3 cây số cộng với cái nắng, nóng của mùa “ngúng bưng”, đôi khi nước được khiêng về đến nơi thì chỉ còn hơn nữa võng…. Thế nên mới có chuyện mỗi người chỉ được tắm bằng một tĩnh nhỏ nước (loại tĩnh thường dùng đựng nước mắm), tương đương với 3,5 lít nước. Với ngần ấy nước mà phải hoàn tất việc tắm, giặt thì quả thật khó khăn, đòi hỏi người sử dụng phải có “kỹ thuật” cao. Lon sữa bò nước đầu tiên là để gội đầu, lon thứ hai để rửa mặt, rửa tay… Nhưng điều quan trọng là phải tuân thủ nguyên tắc tắm từng phần và phải giữ được nguyên vẹn số nước đã tắm bằng cách lót mũ ny-lon ở bên dưới để lấy nước đó…giặt đồ! Nếu không phải từ Bác ba - một nhân chứng sống, người đã đi qua hai cuộc chiến kể lại câu chuyện trên bằng cái nhìn lạc quan, pha chút hóm hĩnh thì tôi không tin và cũng không thể nào hình dung được có cách lấy nước và tắm độc đáo đến như vậy! Thế mới thấy dù trong hoàn cảnh khó khăn, ngặt nghèo đến mấy thì người cán bộ cách mạng vẫn khắc phục được bằng sự sáng tạo, tinh thần vượt khó và lạc quan của mình.

     Trong dòng ký ức của người cách mạng lão thành ấy còn có những câu chuyện tình yêu thật đẹp và cảm động của những chiến sĩ cách mạng; những lễ cưới trong chiến khu thật giản dị chỉ với nước trà và bánh ngọt nhưng không kém phần long trọng và ý nghĩa. Đó còn là câu chuyện cưới của chính mình mà …”chắc hổng giống ai” theo như Bác ba nói. Năm 1951, bác Phạm Văn Châm là tự vệ chiến đấu quân khu vực Bình Thành, còn người con gái bây giờ là vợ bác là cán bộ phụ nữ xã Bình Thành. Thời điểm đó, các cơ quan vùng hạ Cần Đước, Cần Giuộc rồi huyện Trung Huyện, cơ quan Tỉnh ủy Chợ Lớn, Ban Tuyên huấn, Ban Kinh tài, Xưởng cơ khí trung đoàn 120…. đều đóng ở kinh Bo Bo, Bình Thành, Giồng Lứt, Giồng Ông Bạn… nên khách mời dự lễ cưới của Bác ba khá đông. Tiệc đãi khách chỉ có một món duy nhứt là cà-ri ăn với bún tươi. Nhưng điều đặc biệt và “chắc hổng giống ai” đó là khách được mời đều phải tự đem theo …chén, đũa! Tiệc xong thì chén, đũa của ai người ấy đem về. “Trong căn cứ mà con, thiếu thốn lắm…”, chợt Bác ba dừng lại, dường như nhớ ra điều gì đó quan trọng lắm. Bác ba đi xuống nhà sau hồi lâu, mang ra đặt cẩn thận lên bàn một vài vật. Đó là những kỷ vật chiến tranh! Rồi Bác say sưa kể đây là cái bình toon - chiến lợi phẩm mà một cán bộ huyện Tân Trụ đã tặng cho Bác; kia là cái nồi được làm từ vỏ bom trong số hàng trăm ngàn quả bom mà đế quốc Mỹ đã rải thảm xuống Long An; nọ là cái soon đã theo gia đình từ trận càn Đông Dương và phục vụ không biết bao đợt bộ đội miền Bắc dừng chân tại nhà mình trong phong trào “Nam tiến”. Những vật dụng đó đã trở thành kỷ vật của gia đình, gắn liền với Bác ba Châm từ những năm 1950 với biết bao sóng gió thăng trầm, giờ được bác tặng lại cho Bảo tàng. Vì nó sẽ giúp cho mọi người, nhất là những người trẻ hiểu hơn về chiến tranh với những chi tiết đời thường nhất…

Soong - kỷ vật chiến tranh của gia đình - được ông Phạm Văn Châm tặng lại Bảo tàng
     Thật may mắn cho tôi vì đã được nghe và hiểu nhiều hơn về cuộc chiến tranh giành độc lập của dân tộc. Chiến tranh là đồng nghĩa với khó khăn, hy sinh và mất mát nhưng cũng có những thứ mà chiến tranh không thể lấy đi, tôi chợt nhận ra điều đó khi nhìn thấy Bác ba cùng người bạn đời hạnh phúc bên nhau khi tuổi đã xế chiều. Họ vẫn tích cực trong công tác xã hội tại địa phương, sống gần gủi với mọi người và là tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Những kỷ vật chiến tranh và những câu chuyện thú vị về cuộc sống đời thường của những chiến sĩ cách mạng là những tư liệu quí giúp cho mọi người nhất là thế hệ trẻ hiểu và trân trọng hơn công lao to lớn của cha ông qua hai cuộc kháng chiến, sự quí giá của nền độc lập để từ đó sống đẹp và có ích hơn cho xã hội./.

                                                                       Bài, ảnh: HỒ PHAN MỘNG TUYỀN 

29/02/2012 2:29 SAĐã ban hànhApproved
Chùa Phước Lâm - Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.Chùa Phước Lâm - Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

    Trong quá trình khai phá, chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, đất và người Cần Đước đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt, máu xương, để biến vùng đất hoang sơ sình lầy thành những thửa ruộng màu mỡ, đặc biệt đã để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau nhiều di sản văn hóa quý báo góp phần viết nên những trang lịch sử hào hùng và góp phần điểm tô cho nền văn hóa dân tộc như: di tích lịch sử văn hóa“ Nhà trăm cột”, di tích kiến trúc nghệ thuật “ Chùa Phước Lâm”, di tích Lịch sử “Ngã tư Rạch Kiến” ( Di tích cấp Quốc gia) và 7 di tích lịch sử cấp tỉnh khác; các nghề truyền thống như: nghề đóng “ ghe mũi đỏ”, nghề chạm khắc, nghề dệt chiếu, nghề làm kim hoàn…; trong dịp xuân về, xin giới thiệu tóm tắt với quý đọc giả về di tích kiến trúc nghệ thuật “Chùa Phước Lâm”.

      Chùa Phước Lâm tọa lạc tại ấp Xóm Chùa, Xã Tân Lân, huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Vào năm 1880, một lương y kiêm điền chủ ở làng Tân Lân, ông Bùi Văn Minh , đã đứng ra dựng chùa này vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Vì có công với làng, nên khi ông Minh qua đời, được dân chúng tôn làm hậu hiền và đưa vào thờ trong đình Tân Lân. Ngôi chùa do ông lập ra ngoài tên chữ hán là Phước Lâm Tự ra còn có tên là chùa ông Miêng (Do lệ cử tên húy ông Minh).

  

 Quang cảnh chùa Phước Lâm

 

Nhìn tổng thể, nếu còn nguyên như ban đầu, chùa Phước Lâm có hình chữ xuyên; ngôi chùa gồm: Chánh điện- tổ đường, Đông lang và Tây lang; do bị chiến tranh, Tây lang bị sụp đổ hoàn toàn, một phần còn lại của Đông lang dùng làm nhà trù của chùa, vì vậy, kiến trúc của chùa chỉ còn 2 lớp nhà là Chánh điện và Tổ đường. Chùa được xây dựng bằng gỗ, tường gạch, mái lợp ngói đại tiểu và ngói móc. Nền chùa cao 0,5m, kè đá xanh vững chắc, nền được lát gạnh tàu lục giác, kết dính bằng vữa tam hợp. Cả chánh điện lẫn tổ đường đều kết cấu theo kiểu “ xuyên trính, cột kê” có 2 mái và 2 chái, có 32 cột gạch đỡ lấy bộ vì kèo và mái, có 40 cột bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, 2 hàng cột cái gồm 4 cột tạo dáng vuông thành tứ trụ, các cột liên kết với nhau bởi hệ thống xuyên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát, kết cấu này rất quen thuộc đối với đình chùa cổ Nam bộ. 

Về đề tài tượng của Chùa Phước Lâm cũng giống như những tượng thờ trong các chùa khác ở Nam Bộ với loại hình: Tam thế, Thích ca, Bồ tát, La hán, Ngọc hoàng, Thập điện, Thị giả, Di lặc, Địa tạng, Hộ pháp, Tiêu điện… những nét đặc trưng của hệ thống tượng này là sự tròn trịa, viên mãn một đặc điểm của tượng thờ cuối thế kỷ XIX. Nếu như những tượng thời kỳ trước đó có vẻ khắc khổ, thô sơ mang đậm dấu ấn của thời kỳ khẩn hoang thì những tượng này đã phần nào cho thấy sự ổn định và phát triển của xã hội có tích lũy. Một đặc trưng nữa của hệ thống tượng Chùa Phước Lâm là đa số nó đều do cánh nghệ nhân chạm gỗ ở Cần Đước làm ra. Một loại sản phẩm thuần túy địa phương. Ở một số tượng nghệ nhân đã đạt trình độ nghệ thuật cao trong việc tả thực, biểu lộ tâm lý nhân vật. Tiêu biểu là những tượng: Di lặc và Lục tặc, bộ tượng Sám bài, tượng Tiêu diện đại sĩ, tượng Địa tạng… đặc biệt nhất là tượng “Lo đời” và tượng Bồ tát Di lặc ở bàn thờ tại nhà tổ. Hai tượng này tiêu biểu cho nghệ thuật chạm lộng 2 mặt của nghệ nhân Cần Đước. Riêng tượng Bồ tát mình mặt cà sa, tay cầm phất trần, ngồi trên mình long mã bằng gỗ và tượng có phong cách lạ và độc đáo nhất Chùa Phước Lâm.

Những bàn thờ bao lam, long vị ở chùa đều những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Bàn thờ tổ có dạng tủ thờ bằng gỗ quí, mặt chính của tủ thờ được chia làm nhiều ô hộc có cẩn ốc xà cừ với đề tài tử hữu, đào, phật thủ, cuốn thư và dơi. Các mô típ trang trí này thể hiện mong ước của con người có cuộc sống thảnh thơi, nhàn hạ (tứ hữu), hạnh phúc (dơi), tài lộc (phật thủ), trường thọ (đào). Ba bàn thờ ở nhà tổ đều có chạm lọng ở ban mặt đề tài mai điểu, song tiền, cuốn thư, đào dơi, nho sóc. Qua đó thấy rằng nghệ thuật Tây phương đã được du nhập vào ta với sự hiện diện của đề tài “nho sóc” bên cạnh đề tài truyền thống. Đặc biệt nhất là bức hoành '' Pháp luân thường chuyển” chạm lộng nhiều lớp có dạng cuốn thư với chủ đề cúc trĩ. Chữ thọ được chạm nổi tách làm đôi ở hai đầu cuốn thư và 4 chữ pháp luân thường chuyển sơn đỏ trên nền vàng góp phần làm tăng đường nét tinh xảo, sinh động cho hoành phi. Đây là một trong những bức hoành đẹp nhất ở Long An chứng minh cho trình độ nghệ thuật điêu luyện của nghề chạm khắc gỗ ở Cần Đước đã phát triển mạnh vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Một điểm đáng chú ý ở Chùa Phước Lâm là sự phong phú của hệ thống hoành phi và câu đối chữ Hán. Hai mươi cặp liễn đối này đều được chạm thẳng vào hàng cột với hoa văn trang trí xung quanh và sơn son hoặc sơn đen thếp vàng. Câu đối của Chùa Phước Lâm thường theo lối quán thủ (hai chữ đầu ghép lại thành tên chùa) với nội dung chứa đựng triết lý Phật giáo sâu sắc.

Nhà nghiên cứu Trần Hồng Liên có viết: ''Chùa Phước Lâm tiêu biểu cho hình ảnh của một ngôi chùa cổ ở Nam Bộ, nhưng tiếc rằng ngôi già lam thể hiện một mảng văn hóa Phật giáo Nam Bộ này lại đang bị hư hại trầm trọng theo sự tàn phá nhanh chóng của thời gian''. Vào năm 2001, chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin ra quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia. Được biết, vừa qua được sự hổ trợ của tỉnh, chùa đã được trùng tu, bảo tồn, tuy có chậm nhưng còn hơn không. Với tấm lòng trân trọng gìn giữ và phát huy giá trị của một di sản văn hóa quý báo, trong tương lai, rất mong ngôi cổ tự này sẽ được các cơ quan chức năng, nhân dân và phật tử hợp sức trùng tu, tôn tạo, đồng thời giới thiệu rộng rãi để khách thập phương đến chiêm ngưỡng một danh lam, một niềm tự hào của nhân dân địa phương.

                                                                    Trương Thành Phương

        (1) Cánh thợ họ Đinh ở Cần Đước làm nghề chạm gỗ đến nay đã 5 đời. Tổ của họ này là nghệ nhân Đinh Văn Trì (sinh khoảng 1841) đã truyền nghề cho các nghệ nhân nổi tiếng sau: Đinh Công Tùng, Đinh Công Cai (thế hệ thứ 2); Đinh Văn Tất, Đinh Công Tồn (thế hệ thứ 3); Đinh Văn Năm (thế hệ thứ tư) Cánh thợ họ Đinh đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng ở chùa Giác Lâm (TPHCM), Hội quán Nghĩa Nhuận, Xóm Nhà Giàu (Xã Thanh Phú Long -Châu Thành), nhà Ông Cai Bằng (Tân Ân - Cần Đước), nhà Bà Phủ Phải (Chợ Quán -TPHCM)

17/02/2012 3:52 SAĐã ban hànhApproved
NGHỀ TRUYỀN THỐNG ĐÓNG " GHE MŨI ĐỎ" CẦN ĐƯỚCNGHỀ TRUYỀN THỐNG ĐÓNG " GHE MŨI ĐỎ" CẦN ĐƯỚC

            Cùng với đất Gia Định- Chợ Lớn, khoảng ba trăm năm khai phá, xây dựng và phát triển, đã để lại cho huyện Cần Đước nhiều di sản văn hóa ( vật thể và phi vật thể) như: các di tích lịch sử văn hóa ( Nhà Trăm Cột, Chùa Phước Lâm, Ngã Tư Rạch Kiến, Đồn Rạch Cát…) lễ hội ( Lễ giỗ Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến, lễ giỗ Nhạc sư Nguyễn Quang Đại và các lễ hội dân gian…), các đặc sản ( gạo Nàng Thơm Chợ Đào nỗi tiếng trong và ngoài nước…), đờn ca tài tử, nghề truyền thống  (Nghề dệt chiếu, nghề kim hoàn, chạm khắc gỗ, làm bánh trán phồng...), trong đó có nghề đóng “Ghe mũi đỏ” nỗi tiếng.

Huyện Cần Đước có hệ thống giao thông đường thủy quan trọng và thuận lợi, tàu thuyền từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long muốn lên Sài Gòn- Chợ Lớn ( Nay là Thành phố Hồ Chí Minh) phải qua sông Vàm Cỏ,  kinh Nước Mặn, sông Cần Giuộc ( Thuộc địa  phận các xã Tân Chánh, Phước Đông, Long Hựu Đông), trên tuyến sông này, có một cái chợ nằm phía Đông Kinh Nước Mặn nên được gọi là chợ Kinh Nước Mặn, nơi đây là điểm dừng chân, nghỉ ngơi, ăn uống, giải trí, sữa chữa ghe thuyền…, ngày xưa buôn bán tấp nập hơn chợ Cần Giuộc lúc bấy giờ…, do nơi đây mua bán sầm uất, lâu ngày trở nên chật hẹp nên chợ được dời sang bờ sông Rạch Cát, cách chợ cũ 300m vào năm 1914 như hiện nay. Chính khu vực ven sông Vàm Cỏ - Kinh Nước Mặn đã xuất hiện “ Nghề đóng ghe mũi đỏ”, một nghề nỗi tiếng hằng trăm năm nay; người dân ven sông, sinh sống bằng nghề đi ghe, đóng và sửa chữa ghe, tàu, chuyên chở hàng hóa bằng đường thủy; sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức  (Quyển II, mục sơn xuyên chí) viết: “ …Ông Đỗ Thành Nhân một vị tướng nhà Nguyễn đã xây dựng một xưởng đóng ghe, thuyền đi sông và đi biển bên bờ sông Vàm Cỏ…”.

Ghe Cần Đước rất nỗi tiếng, các cô gái bán xuồng vàm ở miệt vườn miền Tây Nam bộ hay trêu ghẹo trai Gia Định ( gọi chung Gia Định - Chợ Lớn cũ) mỗi  khi gặp ghe Cần Đước xuống:

                                  “ Ghe ai mũi đỏ, trảng lườn

                          Phải trên Gia Định xuống vườn thăm em ”

Ghe Cần Đước đã trở thành thương hiệu nỗi tiếng nhờ yếu tố văn hóa riêng biệt và kỹ thuật điêu luyện của nhiều thế hệ thợ làm ghe, câu hát huê tình truyền miệng ở trên nói lên đặc trưng nỗi tiếng của “Ghe mũi đỏ Cần Đước”  ( Cần Đước trước đây thuộc tỉnh Chợ Lớn).

Do nhu cầu đời sống, người nông dân lúc đó có thêm nghề thợ mộc, nghề đóng ghe lúc nào không hay, qua nghiên cứu gia phả của những nghệ nhân đóng ghe thì nghề mộc có liên quan đến nghề đóng ghe, nhiều người làm nghề mộc chuyển qua nghề đóng ghe, chính bản thân người nông dân mở rộng và lưu truyền nghề đóng ghe đến ngày nay, theo tài liệu sưu tầm gia phả các nghệ nhân đóng ghe của Ông Phù Chí Hoàng (Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam), thì “…nghề mộc có liên quan chặt chẽ với nghề đóng ghe, rất nhiều thợ mộc chuyển sang nghề đóng ghe, hoặc thực hiện phần chạm trỗ, trang trí ghe…, người nông dân chịu khó học hỏi nhiều nơi, tự tạo ra ngành nghề cho mình, hoặc học bạn, học thầy ở xa, gần; thời đó nghề đóng ghe được truyền trong gia đình, theo huyết thống dòng họ; nghề đóng ghe và nghề mộc có cùng chung ngày cúng Tổ hằng năm…”.

Nghề đóng ghe lâu đời, cha truyền, con nối, nên sản sinh nhiều thế hệ thợ giỏi, vừa giữ gìn được truyền thống cũ, vừa cải tiến kỹ thuật mới, để sản phẩm ghe ngày càng hoàn hảo hơn, đáp ứng nhu cầu nghề đi sông nước khi xưa và nhu cầu thị trường ngày nay. Về kỹ thuật, qua nhiều đời người thợ quá tinh thông trong việc chọn gỗ, dùng thước “mắt” để uốn ván, ra mực rất chính xác, từ kích cỡ gỗ đến cấu hình sự cân đối, cao, dài, dày để cho ra trọng lượng chuyên chở. Về hình dáng, ghe Cần Đước nỗi danh khắp Nam kỳ lục tỉnh trong đó có nét mỹ thuật độc đáo là mũi và lái nhọn, cong vút, mặt sơn màu đỏ tươi, nhất là đôi mắt có “ Thần”, dân gian gọi là “ đôi mắt đảo mèo”, hấp dẫn cả vùng sông nước Nam bộ, trước đây ghe chạy bằng buồm, chèo tay..; ngày xưa người đi ghe hành trình trên sông nước hoang vắng, có nhiều trộm cướp, nên thường giỏi võ nghệ để đề phòng bất trắc, chuyện kể hai cô gái ghe Cần Đước lần lượt đánh rớt xuống sông gần 20 tay anh chị của bến ghe Xóm Củi- Chợ Lớn…

Ghe Cần Đước ngày xưa có trọng tải khoảng từ 5 tấn đến trên 100 tấn, đặc điểm kỹ thuật là mũi nhọn, lái nhọn và cong ( mũi ghe xưa không có mũi ghe cào, mũi bằng, mũi tam bản; xuất hiện từ 1950), mặt đỏ tươi; mũi nhọn và cong rất tốn nhiều công thợ và phải lành nghề; ghe xưa chèo tay hoặc chạy bằng buồm, buồm làm bằng lá, dây neo ngày xưa làm bằng sợi cây thơm rất chắc, từ khoảng năm 1965 không dùng dây thơm nữa; việc làm ghe bằng “ ụ ghe” có trước đường ray ( đường ray ra đời khoảng thập niên 40-50 thế kỷ XX).

So với cách đây 100 năm, kỷ thuật và công cụ đóng ghe được cải tiến rất nhiều, bởi từ làm ghe trọng tải nhỏ, vừa, nay đóng ghe lên đến trên 200 tấn; các công cụ đóng ghe gồm: tời, đội, mỏ ( dùng kéo ghe từ sông lên), cảo, cưa, bào ( ngày nay cưa máy, bào máy), rìu đẽo, đục sắt các loại, búa, thước, cây chỏi, cơi quay ( dùng máy kéo ghe sau nầy mới có)…; gỗ đóng ghe thường được chọn cây suông, dài, ngay thẳng gồm các loại gỗ như: sao, sến, chò đỏ mủ, căm xe ( gỗ căm xe dùng làm cong đà, mui ghe, nằm bên trong không mục)…; để hoàn thành chiếc ghe phải qua rất nhiều công đoạn, (ở đây xin phép chỉ kể những công đoạn cơ bản) gồm: định trọng tải, chọn gỗ, uốn ván, lọng công đà; uốn lô, dọn lô, ghim lô; liên kết be với công đà; trám chốt, xảm trét, trang trí ghe, điểm nhãn, ( thường dùng vải đỏ tiến hành nghi lễ cúng để thợ dùng sơn đỏ, đen trang trí mắt ghe…) hạ thủy.

Trên một thế kỷ qua, nghề đóng ghe Cần Đước do chính nhiều họ tộc Lê, Nguyễn, Trần, Bùi… (thuộc các xã Tân Chánh, Phước Đông, Long Hựu Đông, Long Hựu Tây), chịu thương, chịu khó sáng tạo ra sản phẩm Ghe mũi đỏ, một thương hiệu nỗi tiếng. Hơn ba trăm năm, một thời mồ hôi, xương máu của các bậc tiền nhân đã dày công ra sức tạo dựng nên những làng nghề truyền thống, trong đó có nghề đóng “Ghe mũi đỏ Cần Đước”; đây là một nghề truyền thống nỗi tiếng, hình tượng chiếc ghe gắn bó lâu đời với đời sống của nhân dân sông nước Cần Đước và Nam bộ nói chung, cần được sự quan tâm bảo tồn và phát triển.

            Được biết, thời gian qua Ngành VH&TT huyện cùng các nhà nghiên cứu đi thực tế sưu tầm, ghi chép lại được một số tư liệu “Nghề đóng ghe mũi đỏ”, nhưng chưa được đầy đủ, chỉ dừng lại ở tầm nghiên cứu của các cá nhân, chưa được các ngành chuyên môn tỉnh hướng dẫn, hổ trợ lập hồ sơ nghiên cứu. Hướng tới ngành VH&TT huyện sẽ tham mưu UBND huyện đề nghị Sở VH, TT&DL, Bảo tàng tỉnh, các nhà nghiên cứu văn hóa … hướng dẫn, hổ trợ trong việc nghiên cứu, sưu tầm đầy đủ; lập hồ sơ  bảo tồn một nghề truyền thống có thể bị mai một, hoặc biến thể nét đặc sắc của nó. Có thể bảo tồn và phát huy giá trị của di sản bằng cách: thực hiện  mô hình mẫu “Ghe mũi đỏ Cần Đước” thu nhỏ, hoàn chỉnh, chính xác, đúng kỷ thuật và tỷ lệ, trưng bày (di vật ) ở Bảo Tàng tỉnh, Nhà Truyền thống huyện, thuyết minh giới thiệu cho các du khách, thế hệ trẻ, khi đến tham quan, nghiên cứu, thưởng lãm…; lập hồ sơ lưu giữ,in sách.. đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể; bên cạnh đó, cần có chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để các trại đóng ghe, tàu hiện nay phát triển ngành nghề và giới thiệu thương hiệu trong và ngoài nước, để tiếp tục phát huy giá trị.

            “ Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” ( Luật di sản văn hóa).

 Nghề đóng “Ghe mũi đỏ Cần Đước” và “Chiếc ghe mũi đỏ Cần Đước” là di sản văn hóa hàm chứa cả yếu tố phi vật thể ( truyền nghề ) và văn hóa vật thể ( chiếc ghe) rõ nét nhất và sinh động nhất, được truyền nghề và phát triển đến ngày nay. Nếu nghề truyền thống đóng  “Ghe mũi đỏ Cần Đước” sau khi được lập hồ sơ khoa học đầy đủ, huyện sẽ đề xuất Sở VH,TT&DL tham mưu cho UBND tỉnh đề nghị Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định đưa vào danh mục và cấp giấy chứng nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia./.

                                                                                        Trương Thành Phương

17/02/2012 3:56 SAĐã ban hànhApproved
Bạn đọc và Thư việnBạn đọc và Thư viện

Trong cuộc sống, mỗi người sẽ có niềm vui riêng về hạnh phúc. Người bước lên đỉnh cao của danh vọng tiền tài, người bình dị với cuộc sống thường nhật. Với tôi, đọc sách là niềm vui, sở thích không thể cưỡng lại được. Bác Hồ từng nói: "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách là việc đáng quý", hay Thành ngữ có câu: "Đọc sách là nuôi dưỡng trí tuệ". Theo đó, mỗi ngày tôi đều dành ra một khoản thời gian nhất định để đọc sách và xem báo. Nhu cầu này vừa để tôi thư giản, vừa giúp ích cho công việc hiện tại và củng cố những kiến thức còn trống của mình. Nhưng thật ra cái sự ham mê đọc sách của tôi chẳng là bao nếu đem so với những người độc giả mà tôi đã gặp.

Trong lần trực thay đồng nghiệp ở Phòng mượn, tôi may mắn gặp và tiếp chuyện cùng bác Nguyễn Vĩnh Phú (nhà ở số 11 đường Hùng Vương, Phường 2, thành phố Tân An, Long An). Bắt đầu câu chuyện bác hỏi tôi quê ở đâu, đi làm rồi về ở đâu?… Đến khi bác biết tôi học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chuyên ngành Thư viện, bác cười: "Tốt lắm. Thư viện bây giờ có nhiều cán bộ trẻ rồi đấy chứ". Rồi đến việc bác nhờ tôi kiếm hộ cuốn "Nỗi buồn chiến tranh". Tôi không nghĩ mình sẽ tìm được bởi có quá ít thông tin về cuốn sách ngoài cái nhan đề mà bác vừa nêu nhưng tôi vẫn nhận lời. Bởi ngoài nhiệm vụ của người cán bộ thư viện phục vụ cho độc giả, tôi nhận lời còn vì tình cảm quí mến đối với bác. Bằng những kiến thức học ở trường cộng thêm một chút may mắn tôi đã hoàn thành tốt công việc của mình. Cầm cuốn sách trên tay, bác vừa cười vừa nói: "Sao hay thế? Làm sao kiếm được thế?". Quả thật, tôi không thể nào kiềm nén được cảm xúc của mình. Đối với người làm công tác thư viện không có gì vui bằng việc thấy độc giả hạnh phúc với cuốn sách trong tay. Bác nói: "Già rồi, xem lại những cuốn sách cũ như vậy cho đỡ buồn… Con tên gì?… Bác là độc giả của thư viện từ ngày mới thành lập". Như vậy nếu tính từ ngày thành lập đến nay, bác Phú đã đến đọc sách ở thư viện ngót hơn 30 năm. 30 năm đối với một đời người thì không thể coi là dài nhưng 30 năm đối với một người đến thư viện đọc sách, xem báo là một con số đáng khâm phục.

Riêng bác Trần Trí Hòa (nhà ở số 402/16 khu phố Bình Cư 2, Phường 4, thành phố Tân An, Long An), tôi may mắn biết bác nhiều hơn. Đầu tiên là những lần bác Hòa đem báo xuống phòng vi tính photo. Thấy tôi ngồi nhập báo trên máy vi tính, bác hỏi tôi có đánh được mười ngón không?. Bác chỉ đánh được hai, ba ngón thôi… Sau nữa, tôi biết bác Hòa với bài viết "Thư viện và sách vở" được đăng trên Đặc san Thông tin Thư viện năm 2003 của Liên hiệp Thư viện đồng bằng sông Cửu Long. Qua bài viết, tôi biết bác Hòa có nhiều kỷ niệm sâu sắc về thư viện, về sách vở, đặc biệt là tình cảm quý mến mà bác dành cho những người công tác trong ngành Thư viện.

Bác Hòa đến thư viện đọc sách từ ngày bác còn học Đại học Sư phạm ở Hà Nội. Ngày ấy, thư viện còn nghèo khổ, sách vở ít và lại cũ, nhưng đối với bác việc ấy chẳng hề ảnh hưởng gì. Bác say sưa ngấu nghiến đọc những trang sách của Tự Lực văn đoàn, những trang sách của dòng văn học hiện thực phê phán, thơ Đường, thơ Tống, bộ Chiến tranh và Hòa bình của Lép Tônxtôi. Bác Hòa cũng thường hay quan tâm đến việc đọc sách báo của lớp trẻ. Bác than phiền, lớp trẻ bây giờ không ham mê đọc sách báo như thời của bác, "Cái văn hóa đọc đã thua xa cái văn hóa nghe, nhìn, đỡ tốn công lại sinh động!". Từ cái buồn, cái trăn trở, bác Hòa đem niềm cảm nghĩ của mình chia sẻ cùng với người làm công tác thư viện để tìm phương hướng giải quyết.

Quí hai bác ở chổ "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách", cảm động với việc hai bác nâng niu, gìn giữ sách báo như những món vật quý hiếm và không một lời hạ thấp, xem thường nghề nghiệp đối với những người công tác trong ngành Thư viện. Bác Hòa bộc bạch: "Rất mừng là người làm thư viện chẳng những thông thạo nghiệp vụ mà còn yêu nghề".

Ba, bốn mươi năm! Biết bao nhiêu sự đổi thay trong ngần ấy thời gian, nhiều cán bộ thư viện trước kia nay đã về hưu, thư viện ngày càng "lớn" và khang trang thêm nhưng với bác Phú và bác Hòa vẫn vậy, vẫn đến thư viện đọc sách báo và giữ "mối tình" chung thuỷ với thư viện. Hai bác coi đó như là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu, có thể vì một quyển sách mà quên cả ăn uống, ngủ nghê.

Hình ảnh của bác Phú và bác Hòa đã tiếp cho tôi thêm nhiều nghị lực, vững bước trên con đường mình chọn. Dù con đường phía trước vẫn còn nhiều chông gai nhưng tôi sẽ cố gắng để đem đến cho độc giả thư viện ngày càng có nhiều niềm vui về sự hạnh phúc. "Làm sao đốt sách cho được. Sách chứa biết bao tri thức. Chú cũng "lớn lên" từ thư viện mà", đó là lời tâm sự của chú Mộc Tùng ở thành phố Tân An. Mượn lời chú để kết thúc bài viết, hi vọng rồi ai ai trong chúng ta cũng nghĩ về thư viện như một điểm dừng chân lý tưởng cho việc thư giản, tìm tòi, nghiên cứu và học tập.

AN THANH

30/05/2013 2:08 CHĐã ban hànhApproved
DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC GÒ DUỐI ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP TỈNH DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC GÒ DUỐI ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP TỈNH

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định xếp hạng di tích khảo cổ học cấp tỉnh đối với Di tích khảo cổ học Gò Duối. Di tích khảo cổ học Gò Duối thuộc ấp Trung Trực, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, cách tỉnh lộ 831C khoảng 500m về hướng Tây, có diện tích khoảng 4.727,3 mét vuông, nằm trên gò cao khoảng 2 mét so với mặt ruộng xung quanh, được Bảo tàng – Thư viện tỉnh Long An phát hiện vào ngày 18/01/1996 từ thông tin của những người dân đào vàng.

26-4-2019 hinh 1.jpg

Tính đến nay, Di tích khảo cổ học Gò Duối đã trải qua nhiều đợt khảo sát và một đợt khai quật vào tháng 10/2013 với diện tích hố khai quật 20 mét vuông, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy 2 vết tích bếp lửa, 3 mộ táng và hiện vật thu được gồm: 03 hiện vật sắt, 21 hiện vật đồng, 02 hiện vật đồ trang sức bằng thủy tinh, 05 hiện vật đá, 06 mảnh gạch, 08 đồ gốm nguyên (dọi se sợi, bi và bát chân cao), 1.816 mảnh chạc gốm và 1.235 mảnh gốm vỡ (mảnh miệng, thân, đế của nồi, bình, bát bồng, vò…). Chất liệu gốm được chia làm ba nhóm, đó là gốm xương nâu đỏ, gốm xương đen và gốm xương vàng.

Theo các nhà khảo cổ học, di tích có niên đại bắt đầu khoảng 2.500 năm BP (cách ngày nay) và niên đại kết thúc khoảng cận kề trước sau công nguyên thuộc hậu kỳ kim khí. Di tích là nơi sinh sống lâu dài của cộng đồng cư dân cổ với những hoạt động kinh tế - văn hóa phong phú, tiêu biểu là tín ngưỡng tục chôn cất người chết. Đây là loại di chỉ cư trú, mộ táng có tầng văn hóa dày, phát triển liên tục và tương đối ổn định.

26-4-2019 hinh 2.jpg

Với những giá trị di tích, hiện vật quan trọng được phát hiện qua quá trình khai quật, Di tích khảo cổ học Gò Duối được UBND tỉnh Long An xếp hạng là di tích khảo cổ học cấp tỉnh, góp phân nâng tổng số di tích khảo cổ học cấp tỉnh của huyện Vĩnh Hưng lên hai di tích, sau di tích khảo cổ học Lò Gạch./.

 Phú Hùng

02/05/2019 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Những nỗ lực kiểm soát đồng bằng ngập nước và sự phát triển thành thị của cư dân văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam BộNhững nỗ lực kiểm soát đồng bằng ngập nước và sự phát triển thành thị của cư dân văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ

    Vào khoảng 1- 2 thế kỷ trước Công nguyên, châu thổ Cửu Long, sau quá trình dài nhiều ngàn năm bồi đắp, đã bắt đầu hình thành và ổn định. Tuy nhiên, theo những kết quả nghiên cứu của địa sử học, vào lúc này các dòng sông ở đây vẫn tiếp tục đổi dòng, tách nhánh ví như sông cổ Hậu Giang (Proto- Bassac) chảy từ Châu Đốc xuống Rạch Giá, ngang qua Ba Thê, rồi trở ra Cạnh Đền ở Minh Hải, trong rừng U Minh hoặc như sông Bình Minh (Proto- Hàm Luông) chảy từ Châu Đốc đến Cần Thơ rồi rẽ sang Trà Vinh… Cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái vẫn luôn phức tạp. Trong điều kiện ấy, cư dân Oc Eo- Phù Nam đã chinh phục thành công vùng đất mới này, xây dựng nên nhiều vùng sinh thái- dân cư trù phú và thành thị Oc Eo mà một trong những kỳ tích của họ là kiểm sốt đồng bằng ngập nước.

    Cho đến năm 1931, những giải thích về bản đồ không ảnh cho thấy mạng lưới kênh đào cổ rộng lớn tỏa ra từ Angkor Borei, ở Campuchia, và nối di tích này với khu vực chưa được biết đến lúc bấy giờ là Óc Eo khoảng 60 km về phía Đông Nam(1). Những kênh đào khác tỏa ra từ đoạn cuối cùng của mạng lưới và một trong số đó dẫn đến bờ biển trên vịnh Thái Lan (hướng tới di tích Nền Chùa hiện nay). Vào những năm 1950, Louis Malleret làm việc với bộ không ảnh mới, ông ta đã có thể xác định những khám phá trước đây và mở rộng mạng lưới kênh đào một cách có ý nghĩa. Ông cũng cho thấy những di chỉ khác ở Việt Nam như  Đá Nổi (phía đông Óc Eo) hay Cạnh Đền xa dưới bán đảo Cà Mau), nằm ở vị trí trung tâm của những hệ thống kênh đào tỏa ra trên toàn khu vực.

    Khảo sát trên không bằng máy bay bay thấp trên khu vực mới khai quật ở Óc Eo, dưới sự hướng dẫn của L.Malleret cũng cho biết rằng hầu hết các di tích ông đã khai quật vào 1944 trong đồng bằng ngập lụt được bao quanh bởi nhiều đường hào song song hình thành ba cạnh của hình chữ nhật lớn, khoảng 2.500 đến 3.000m (cạnh thứ tư của hình chữ nhật không thấy trong không ảnh). Không có đường hào nào trong số này, còn trông thấy từ mặt đất vào thời của Malleret, khi đồng bằng ngập lụt chỉ là vùng đầm lầy hoang vắng.Vùng này ngày nay trở nên là một vựa lúa và sự chuyển đổi cảnh quan quá nhiều đã hủy hoại hoàn toàn bất cứ cái gì trước kia có thể thấy rõ. Một kênh đào chính nối với kênh đào khác về phía Tây Bắc dẫn đến Angkor Borei và phía Tây Nam hướng đến bờ biển, gần di tích Nền Chùa đã đề cập ở trên, phân cắt đường hào hình chữ nhật, phân chia nó chính xác làm hai phần dọc theo trục dài nhất của nó.

Malleret kết luận một cách đúng đắn rằng mạng lưới kênh đào xưa này, mà hầu hết là không nhìn thấy từ mặt đất và sự sắp đặt đối xứng của khu đất hào mới có người định cư ở Óc Eo chỉ có thể được làm bởi con người và rằng ứng viên duy nhất cho một công trình lớn lao như thế chỉ có thể là xã hội Phù Nam. Hào hình chữ nhật, xem xét sự tập trung và đa dạng của chức năng hiện vật khảo cổ nó kèm theo, được giải thích một cách không ngạc nhiên là khu thành thị. Chức năng của những kênh đào vẫn là một câu hỏi bỏ ngõ: nó được dùng để tiêu nước đồng bằng ngập lụt, hay chuyên chở hàng hoá bằng thuyền? (Môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long, chức năng dẫn thủy nhập điền không có ý nghĩa).

    Những chương trình gần đây nhằm mục đích định niên đại và giải thích hệ thống kênh đào và những đường hào thành thị đã mang lại những kết quả bước đầu đáng ngạc nhiên. Những quan điểm trước đây về sự trỗi dậy của những xã hội Đông Nam Á, quan niệm rằng tất cả những phát triển kinh tế vĩ đại gắn liền với việc Ấn Độ hoá, là những công việc lớn lao, chỉ có thể được thực hiện sau khi quá trình đó (Ấn Độ hóa) được hoàn tất ở Phù Nam, trong và sau thế kỷ thứ V sau Công nguyên. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy việc đào hào và kênh đó bắt đầu ở Phù Nam rất lâu trước khi có tiếp xúc với Ấn Độ hóa. Ít nhất, hào thành thị ở Óc Eo đã được đào vào trước đầu thế kỷ thứ III sau Công nguyên và kênh đào chính phân cắt di tích thành thị được sử dụng trước cuối thế kỷ thứ IV và có thể sớm nhất là vào thế kỷ thứ II. Về phía Angkor Borei, những nghiên cứu khác đưa ra niên đại so sánh cho việc đào và sử dụng kinh đào kéo dài đến nửa thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên(2).

    Kết luận là vào khoảng thế kỷ II sau Công nguyên, hệ thống chính trị được biết bởi người nước ngoài như là Phù Nam đã trưởng thành về kinh tế- xã hội, cho phép nó xây dựng, trên khắp châu thổ thấp sông Cửu Long nhiều trung tâm thành thị hóa trong những môi trường thay đổi, tạo ra đủ hoa lợi từ thặng dư kinh tế thương mại và nông nghiệp để có thể xây hệ thống kinh đào rộng lớn này, với đủ sự kiểm soát dân số của nó để đòi hỏi từ nó nhiệm vụ xây dựng những công trình công cộng áp đặt như thế. Mạng lưới kênh đào tiếp tục nhiệm vụ trong vài thế kỷ nửa, cho tới khi suy tàn của Phù Nam vào thế kỷ thứ VI- VII. Nghiên cứu về phương diện này của lịch sử châu thổ Cửu Long còn ở giai đoạn đầu và  rất ít kênh đào được khảo sát kỹ cho đến nay. Chức năng của những kênh đào này chắc chắn là phức tạp. Việc tiêu, thoát nước cho đồng bằng ngập lụt như được thực hiện lại như ngày nay, là một sự cần thiết cho việc canh tác lúa quy mô lớn được kiểm soát, những kênh đào nhỏ hơn này, được nhìn thấy trên không ảnh tỏa ra từ những di tích cư trú chắc hẳn đã phục vụ cho mục đích chính này. Việc tiêu thoát nước cho đồng bằng ngập lụt ắt đã mở ra những vùng đất lớn cho việc trồng lúa. Trấu đã được tìm thấy phổ biến trong gạch và gốm ở Óc Eo, và không ảnh trong những năm 1950- 1960 cho thấy vài khuôn mẫu ruộng lúa dường như đi cùng với mạng lưới kênh đào. Thư tịch Trung Hoa có đề cập một cách sơ lược về  lúa còn với nông nghiệp thì được đề cập rộng hơn.

    Cho đến nay, không có kênh đào được nghiên cứu có đủ độ sâu cần thiết cho phép tàu lớn dùng nó như là những đường thủy. Tuy nhiên, ở khu vực Đông Nam Á trong lịch sử, người ta có thể thiết kế nhiều con tàu có thể  di chuyển trên chính những dòng kênh đó. Kênh dài nhất trong tất cả, nối với những trung tâm thành thị lớn ở Angkor Borei và Óc Eo và các kênh khác nối với biển gần di tích khảo cổ giàu có Nền Chùa. Không nghi ngờ gì nữa hệ thống các kênh đào được phục vụ như là đường thủy chính. Sự tồn tại của hệ thống kênh đào cũng cho ta thấy rõ về mức độ hợp thành một thể thống nhất của cấu trúc xã hội Phù Nam: bất luận nó được gắn chặt thành liên bang của những quốc gia thành thị hay thành một quốc gia tập trung hơn dù vấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, hiệu lực của nó ở giai đoạn phát triển đầu như thế trước khi Ấn Độ hóa bắt đầu có thể là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Sau giữa thế kỷ thứ III, Phù Nam dường như đã hành động mặt đối mặt với thế giới bên ngoài như là một quốc gia thật sự, gửi nhiều sứ giả đến Trung Quốc. Thư tịch Trung Quốc đã chắc chắn công nhận khả năng hành động có kết quả về kinh tế và chính trị của nó: Họ diễn tả xã hội đồng bằng sông Cửu Long là một hệ thống chính trị như là quốc gia tập trung trên những nơi cư trú thành thị lớn. Như chúng ta vừa thấy, giờ đây khảo cổ học đã có hầu hết những nguồn khẳng định về văn hóa Óc Eo ở thiên niên kỷ đầu tiên như thế.

 Cảnh quang di chỉ Gò Hàng thuộc xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng,tỉnh Long An.

 Cảnh quang di chỉ Gò Vĩnh Châu A  thuộc xã Vĩnh Châu A , huyện Tân Hưng,tỉnh Long An.

 Cảnh quang di chỉ Gò Duối thuộc xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng,tỉnh Long An.

                                                                                                                          Tiến sĩ Bùi Phát Diệm 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Đào Linh Côn (1993), “Mộ táng và hiện vật vàng thuộc văn hoá Óc Eo ở di chỉ khảo cổ học Đá Mới (An Giang)”, KHXH, 18, tr.90-96, TP. Hồ Chí Minh.
  2. Đào Linh Côn (1995), “Mộ táng trong văn hoá Óc Eo”, Luận án Phó tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành khảo cổ học, TP Hồ Chí Minh.
  3. Bùi Phát Diệm (2003), “Di tích văn hoá Óc Eo ở Long An”, Luận án Tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành khảo cổ học, TP Hồ Chí Minh.
  4. Lê Xuân Diệm (1984), “Óc Eo- một đô thị xưa hay một trung tâm văn hoá cổ”. In trong: Văn hoá Óc Eo và các văn hoá cổ ở đồng bằng sông Cửu Long, tr. 213- 221, Long Xuyên.
  5. Nancy Tingley (2009), “Arts of Ancient Viet Nam- From River Plain to Open Sea”, Asia society, New York and The Museum of Fine Arts, Houston.

(1) Pierre Paris, “ Anciens canaux reconnus sur photographies  áeriennes  dans  les provinces de Takev et de Châu Đốc”

(2) Eric Bourdonneau, “The Ancient Canal Systems of the Mekong Delta: A Preliminary Report” in A. Karlstrom and A. Kallén, eds, Fishbones and Glitering Emblems: Southeast Asian Archaeology 2002 (Stokhom: Museum of  Fareastern Antiquities, 2004.

17/02/2012 3:08 SAĐã ban hànhApproved
SẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANSẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
  1. Sắc phong

        Sắc phong (gọi đầy đủ là đạo sắc phong) xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ XV, dưới triều nhà Lê, được xác nhận bằng ấn triện của nhà vua mang nội dung công nhận có tính nhà nước, đồng thời thể hiện quyền lực của triều đình đối với các làng xã. Cùng với các loại văn bản và thư tịch cổ như chiếu, chỉ, hịch, văn bia, gia phả… sắc phong được xem như một loại văn bản chính thống của nhà nước phong kiến.

        Về cơ bản, sắc phong gồm có hai loại: sắc phong chức tước cho quý tộc, quan chức của các vương triều và sắc phong thần do nhà Vua phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình, đền, miếu, từ đường…Loại thứ nhất không còn nhiều và đây được xem như vật gia bảo, thường được cất giữ cẩn thận tại các gia đình hoặc nhà thờ họ. Loại thứ hai tuy đã mất mát nhiều nhưng khối lượng còn lại đến nay khá lớn và thường được bảo tồn trong các kiến trúc tín ngưỡng của làng, xã. Các vị thần được phong tặng có thể là nhân vật lịch sử có công với nước, thường gọi là nhân thần và các thần linh trong tín ngưỡng dân gian như nhân vật huyền thoại, vật linh, các hiện tượng thiên nhiên...

        Sắc phong là một nguồn tư liệu có giá trị về nhiều phương diện: mang tên tuổi và công lao của một số nhân vật lịch sử kèm theo quê quán, công tích và xếp hạng; các sắc phong phản ánh vai trò tối thượng của nhà vua, không chỉ trị vì muôn dân trong thế giới trần tục mà còn cai quản cả thế giới thần linh, kết hợp với các tín ngưỡng và đời sống tâm linh (Thành hoàng, Tổ tiên, Vật  linh, Tổ sư, Sùng bái thiên nhiên…); sắc phong phản ánh hệ thống hành chính với những địa danh và đơn vị hành chính mang niên đại cụ thể; đó là chứng cứ về những đặc trưng của thư pháp Hán Nôm và sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử…

        Phân tích kỹ dưới nhiều góc độ chuyên môn còn có thể khai thác từ sắc phong nhiều thông tin mang nhiều ý nghĩa và giá trị…Vì thế, sắc phong là nguồn tư liệu quý, một di sản văn hoá cần được bảo tồn. Ở Long An, hiện còn tồn tại cả hai loại sắc phong như vừa nêu.

        Di tích Lăng mộ và đền thờ Kiến xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia (QĐ số 435/QĐ/BT-ngày 11/5/1993), tọa lạc tại phường Khánh Hậu, thành phố Tân An. Lăng mộ được xây dựng năm 1817, là một trong những lăng mộ cổ nhất của Long An còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay. Ngoài đền thờ và những hiện vật có giá trị, di tích hiện đang lưu giữ 08 sắc phong, chiếu, chế, chỉ của các vua triều Nguyễn, tiêu biểu cho loại thứ nhất, cụ thể:

        Chỉ sai Nguyễn Huỳnh Đức đem quân giúp nước Xiêm chống lại sự xâm lăng của Miến Điện, chất liệu giấy, kích thước 0,37 x 0,32m. Năm Cảnh Hưng thứ 59 (1798), ngày mồng hai, tháng hai.

        Sắc phong quan tước cho Nguyễn Huỳnh Đức ngày mồng một tháng năm, năm Gia Long Nguyên niên (1802). Sắc bằng giấy dó màu bạc, in rồng chìm, dài 1,35m, rộng 0,50m.

        Sắc vua Gia Long truy phong cho ông Huỳnh Công Châu, tổ phụ Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Sắc bằng lụa vàng, thêu rồng, dài 0,75m, rộng 0,40m. Ngày mồng một, tháng chín, năm Gia Long thứ ba (1804).

        Chiếu vua Minh Mạng phong chức tước cho Nguyễn Huỳnh Thành (thứ nam Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chiếu bằng giấy vàng, in rồng chìm, dài 0,8m, rộng 0,4m. Ngày 22 tháng 8 năm Minh Mạng thứ 10 (1829).

        Chế của vua Tự Đức tập phong cho Nguyễn Huỳnh Kim (cháu nội Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chế bằng lụa trắng thêu rồng vàng, dài 1,3m, rộng 0,3m. Ngày 2 tháng 8 năm Tự Đức thứ 3 (1851).

 chiếu Minh Mạng năm thứ 10 (22-8-1829) tại lăng Nguyễn Huỳnh Đức

 Ấn triện trên sắc phong Tự Đức tam niên (11-12-1850) tại Đình Khánh Hậu

 Sắc thần đình Tân Chánh bị hư hỏng nặng

        Ngoài sắc phong cho các quan lại, trên địa bàn tỉnh còn tồn tại loại sắc phong các vị thần trong các đình, miếu. Trong tổng số 90 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh, đình chiếm số lượng khá lớn và đây cũng là đối tượng chính được triều đình Nguyễn phong sắc. Trong số những ngôi đình được phong sắc như đình Vĩnh Phong, đình Phú Khương, Tân Xuân, Xuân Hòa, Hòa Điều, Vĩnh Bình… thì đình Khánh Hậu thuộc khu phố Quyết Thắng 2, phường Khánh Hậu, thành phố Tân An là có nhiều sắc nhất (06 sắc). Thời gian phong sắc sớm nhất (theo số liệu hiện có) là năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) và muộn nhất là của vua Khải Định năm 1925. (Sắc phong cho Thành Hoàng bổn Cảnh làng Long Hậu Tây (xã Long Hậu, Cần Giuộc) của vua Khải Định năm 1925).

         Các vị thần được vua sắc phong chủ yếu là thần Thành hoàng Bổn cảnh và các vị phúc thần như Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Chi Thần, Dũng Mẫn Nghiêm Dực nhị đại Tướng quân...  nhằm giúp vua bảo hộ lê dân của mình.

        Về tình trạng các sắc phong, do phải trải qua một thời gian dài, điều kiện khí hậu, các biến cố lịch sử và do cả sự bất cẩn của con người nên nhiều sắc phong đã bị hư hỏng, hủy hoại. Các nguyên nhân thường do:

        -Thiếu phương tiện bảo quản, các sắc phong thường được quấn lại rồi bọc giấy bên ngoài, đựng trong ống tre, do không được chăm sóc thường xuyên cộng với khí hậu nóng ẩm làm các sắc phong hư hỏng dần, có nơi còn bị mối mọt, côn trùng gặm nhấm, phá họai.

        - Người bảo quản không có ý thức hay thiếu hiểu biết, để cho mọi người mở xem tùy tiện làm hư hại, rách nát sờn vụn những giấy sắc đã lâu đời. Cũng có người lợi dụng lòng tin của người bảo quản, mượn sắc rồi không trả lại.

Hiện nay, hiện tượng sắc phong bị lấy trộm để bán cho những người sưu tầm đồ cổ hay bán ra nước ngoài ngày càng phổ biến, trở thành một mối đe dọa lớn đối với loại di sản quí báu này.

        Tuy nhiên, đó chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể, đa số người dân hiểu biết về giá trị văn hoá và tâm linh của sắc phong, có ý thức bảo quản nghiêm ngặt nhờ vậy mà một số lượng lớn sắc phong triều Nguyễn vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

  1. Phương án bảo tồn sắc phong

        Để bảo tồn vốn di sản văn hóa đã tồn tại hàng trăm năm này, thiết nghĩ nên áp dụng một số phương án như mở các lớp tập huấn cho người dân, chủ nhân di tích về phương pháp bảo quản hiện vật giấy, đặc biệt là các đạo sắc phong.

        Là hiện vật có giá trị đặc biệt, gắn liền với cộng đồng, tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân địa phương nên việc sưu tầm sắc phong là rất khó. Vì vậy cần có một dự án bảo tồn, trong đó thuê các nghệ nhân bồi lại sắc phong và sử dụng phương tiện bảo quản phù hợp; lưu giữ phần chữ và trang trí của các sắc phong bằng cách chụp ảnh kỹ thuật số với những thông tin về tên gọi và địa điểm nơi đang gìn giữ đi kèm rồi đưa vào đĩa. Những đĩa này sẽ được sắp xếp theo hệ thống đơn vị hành chính hiện nay (tỉnh, huyện, xã, ấp) và tập trung bảo quản tại Thư Viện Quốc Gia ( cùng trong phòng tư liệu Hán Nôm) - nếu thực hiện ở qui mô lớn - cũng như bảo quản ở địa phương.

Thông qua các hình thức trưng bày, triễn lãm, giới thiệu trên phương tiện truyền thông đại chúng… nhằm giới thiệu, tuyên truyền đến nhân dân những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của sắc phong để nâng cao ý thức trân trọng giữ gìn loại di sản văn hóa quí báu của dân tộc.

        Là một trong những tỉnh được khai phá sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, Long An còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, sắc phong là một di sản quý của dân tộc và là nguồn tư liệu quý hiếm cần được bảo vệ và nghiên cứu hơn nữa để phát huy tác dụng. Với những giải pháp như vừa nêu, nếu được thực hiện kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản quý báu này.

                                                                                        Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

                                                                                  Ảnh: Văn Ngọc Bích 

21/12/2011 6:56 SAĐã ban hànhApproved
TRIỂN LÃM CHUYÊN ĐỀ VĂN HÓA CHĂM VÀ TIẾP NHẬN HIỆN VẬT ĐƯỢC HIẾN TẶNG  TRIỂN LÃM CHUYÊN ĐỀ VĂN HÓA CHĂM VÀ TIẾP NHẬN HIỆN VẬT ĐƯỢC HIẾN TẶNG 

Vừa qua, Bảo tàng - Thư viện tỉnh đã tổ chức triển lãm chuyên đề văn hóa Chăm và tiếp nhận hiện vật do hai nhà sưu tầm hiện vật Nguyễn Ngọc Ẩn và Nguyễn Đình Thịnh hiến tặng. Đến dự triển lãm có ông Nguyễn Thành Thanh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Trương Văn Sang, Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh; lãnh đạo Bảo tàng các tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Đồng Tháp,Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh; cùng đại diện các sở, ngành tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh các huyện, thị xã, thành phố và đông đảo học sinh.

13-5-2019 Đại biểu tham dự Lễ khai mạc trưng bày chuyên đề văn hóa Chăm.jpg

Đại biểu tham dự Lễ khai mạc trưng bày chuyên đề văn hóa Chăm và
tiếp nhận hiện vật được hiến tặng

Triển lãm giới thiệu các hiện vật, hình ảnh về văn hóa Chăm với các phong tục, tập quán, trang phục, đồ dùng sinh hoạt thường ngày... Trong đó, nổi bật nhất là trang sức truyền thống với khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, chuỗi tay, đặc biệt là nhẫn Mưta – một biểu tượng đặc trưng của cộng đồng, được xem là linh hồn và bản sắc của dân tộc. Sưu tập trang sức của người Chăm ở Bình Thuận được trưng bày có niên đại khoảng thế kỷ XV- XIX, được làm từ chất liệu vàng, bạc, đồng, thủy tinh với kiểu dáng, hoa văn và màu sắc phong phú.

13-5-2019 Đại biểu xem triển lãm tại phòng trưng bày.jpg

Đại biểu xem triển lãm tại phòng trưng bày

13-5-2019 Một góc phòng trưng bày Văn hóa Chăm tại Bảo tàng-Thư viện tỉnh.jpg

Một góc phòng trưng bày văn hóa Chăm tại Bảo tàng - Thư viện tỉnh

Ngoài ra, triển lãm còn trưng bày 555 hiện vật do hai nhà sưu tầm Nguyễn Ngọc Ẩn và Nguyễn Đình Thịnh hiến tặng, chủ yếu là các hiện vật gốm với các dòng gốm thời Lý, Lê; gốm Lái Thiêu, Sài Gòn, Biên Hòa và nhiều hiện vật chất liệu kim loại như tượng trang trí, đồ gia dụng và sinh hoạt mang đậm phong cách dân gian Nam Bộ.

13-5-2019 Ông Nguyễn Thành Thanh – Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.jpg

Ông Nguyễn Thành Thanh, Phó Giám đốc Sở VH, TT và DL
tặng giấy khen cho nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Ẩn

Triển lãm là một điểm nhấn thú vị, giúp người xem hiểu rõ hơn về văn hóa Chăm ở Bình Thuận, đồng thời khám phá được vẻ mộc mạc nhưng tinh tế, đậm chất dân gian, mang tính ứng dụng cao của các dòng gốm lân cận Long An. Triển lãm mở cửa từ ngày 26/4/2019 đến hết tháng 6/2019./.

Hồ Phan Mộng Tuyền

20/05/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
BẢO TÀNG - THƯ VIỆN TỈNH LONG AN TIẾP NHẬN HIỆN VẬT QUÝ TỪ NHÀ SƯU TẬP NGUYỄN NGỌC ẨN BẢO TÀNG - THƯ VIỆN TỈNH LONG AN TIẾP NHẬN HIỆN VẬT QUÝ TỪ NHÀ SƯU TẬP NGUYỄN NGỌC ẨN

Những ngày cuối năm 2018, chúng tôi những người làm công tác ở Bảo tàng - Thư viện tỉnh vui mừng đón nhận hàng trăm hiện vật quý trao tặng từ nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Ẩn - người được mệnh danh là "vua đồ cổ" xứ biển Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn (áo bông) cùng đoàn công tác Bảo tàng - Thư viện tỉnh.JPG

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn (áo bông) cùng đoàn công tác Bảo tàng - Thư viện tỉnh

Vượt qua gần 300 cây số, không khó đoàn công tác đã tìm đến nhà ông Ẩn, đón chúng tôi trong tâm trạng vui vẻ, thoải mái, thăm hỏi nhau đôi chút về công việc, gia đình và sau đó ông bắt đầu tìm kiếm, lựa chọn trong "kho báu" cổ vật của mình, tận tay trao tặng hàng trăm hiện vật quý cho đoàn. Trải qua 5 ngày làm việc, chiêm ngưỡng 555 hiện vật, ông Ẩn kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện hấp dẫn về những hiện vật quý giá ấy: đó là sự trang trí cầu kỳ của những chiếc bình (gốm Lái Thiêu, Sài Gòn), bộ chén - dĩa - tô (cuối thế kỷ XIX - XX), những chiếc vòng mã não xinh xắn, sự óng ánh của những vòng tay đồng, hoa tai vàng, cùng những chuỗi tay, chuỗi cổ của dân tộc Mạ, những chiếc nhẫn Mư ta ân tình của dân tộc Chăm, những đồng tiền xu thời xa xưa của các vị vua Đồng Khánh, Bảo Hưng, Thành Thái, Thiệu Trị, Minh Mạng… Mỗi hiện vật đều có một công năng, một giá trị, một giai đoạn lịch sử cụ thể thật sinh động. Tất cả đã được thu thập, ghi nhận làm cơ sở khoa học, pháp lý cho hiện vật đưa vào bảo tàng lưu trữ, trưng bày. Kết thúc những câu chuyện ấy là những lời cám ơn chân thành, những cái bắt tay và cái ôm thấm thía nói lời chào tạm biệt… Đó là một chuyến đi tìm về những cổ vật thật trọn vẹn và đầy ý nghĩa.

Bình có vòi, đầu thế kỷ XX.jpg

Bình có vòi, đầu thế kỷ XX

Bình gốm Lái Thiêu.jpg

Bình gốm Lái Thiêu

Khuyên tai lò xo của người Mạ.jpg

Khuyên tai lò xo của người Mạ

Vòng tay của người Mạ.jpg

Vòng tay của người Mạ

Tạm biệt "vua đồ cổ" xứ biển Mũi Né, trên đường về, tôi thầm nghĩ vui Xuân Kỷ Hợi 2019, vẫn không quên nhiệm vụ sẽ tiếp tục hoàn thiện linh hồn cho 555 hiện vật quý mà ông Ẩn trao tặng, để Bảo tàng - Thư viện tỉnh tổ chức lễ tiếp nhận, bàn giao, bảo quản, lưu giữ, và trưng bày ra mắt công chúng nhân kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019) và Quốc tế lao động 1/5./.

Tin: Th. Lan

Ảnh: Kim An

01/02/2019 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Lễ đón nhận Bằng Xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa Khu Tưởng Niệm Liệt Sĩ Trung Đoàn 88Lễ đón nhận Bằng Xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa Khu Tưởng Niệm Liệt Sĩ Trung Đoàn 88

LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ TRUNG ĐOÀN 88

                           

Ngày 21/12/2018, UBND huyện Tân Hưng phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An đã tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh "Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang và Kinh 62, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng (từ ngày 06/02 đến 07/02/1970)"  tại Trung tâm văn hóa - thể thao xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. 

ngay 28-12-2018 hinh 1.jpg 

Quang cảnh buổi lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích    

Đến tham dự buổi lễ có đồng chí Trung tá Trần Trọng Anh - Phó Chính ủy Trung Đoàn 88, ông Nguyễn Văn Thiện - Phó Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh, ông Nguyễn Hồng Thuỷ - Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ, ông Nguyễn Thành Phương - Phó Chủ tịch HĐND huyện, ông Huỳnh Thanh Hiền - Phó Chủ tịch UBND huyện cùng đại diện Ban liên lạc Trung đoàn 88, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể huyện Tân Hưng và đông đảo bà con nhân dân xã Vĩnh Đại.

Tại buổi lễ, ông Nguyễn Văn Thiện - Phó Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh thừa uỷ quyền của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công bố Quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh của UBND tỉnh đối với di tích “Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88”. Đồng thời, ông Huỳnh Thanh Hiền - Phó Chủ tịch UBND huyện Tân Hưng đã trao bằng xếp hạng di tích cho đại diện lãnh đạo xã Vĩnh Đại, cùng công bố quyết định thành lập Ban Quản lý di tích do Chủ tịch UBND xã Vĩnh Đại làm Trưởng ban.     

ngay 28-12-2018 hinh 2.jpg

Ông Nguyễn Văn Thiện - Phó Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh công bố quyết định xếp hạng di tích       

Di tích Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang và Kinh 62, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng là bằng chứng cho tinh thần đoàn kết, tương trợ và sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Trung đoàn 88, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước đã để lại cho người dân nơi đây lòng cảm thương vô hạn. Ngoài ra, di tích còn là biểu hiện cụ thể cho tấm lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân huyện Tân Hưng nói riêng và nhân dân tỉnh Long An nói chung đối với các chiến sĩ đã hy sinh quên mình vì Tổ Quốc. 
  

ngay 28-12-2018 hinh 3.jpg

Đại diện UBND xã Vĩnh Đại nhận bằng xếp hạng di tích   

ngay 28-12-2018 hinh 4.jpg 

Ban Quản lý di tích Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 ra mắt tại buổi lễ    

Với những giá trị trên, di tích Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang và Kinh 62, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng đã được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh ngày 10/5/2018 tại Quyết định số 1508/QĐ-UBND, nâng tổng số di tích trên địa bàn tỉnh lên 110 di tích. Quyết định này là cơ sở pháp lý và tiền đề quan trọng để chúng ta, những thế hệ kế thừa thực hiện tốt công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy được tác dụng của di tích.

 

                                                                                                 Bài, ảnh: Hồng Nhung

Phòng Bảo tồn, Bảo tàng - Thư viện tỉnh


03/01/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANTÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

THÀNH PHỐ TÂN AN

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

(Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An)

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Thượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đương thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận Công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 Di tích Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 534/QĐ/BT ngày 11/05/1993.

HUYỆN CẦN GIUỘC

CHÙA TÔN THẠNH (Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc)

Chùa Tôn Thạnh tọa lạc tại xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808.

Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người "dân ấp dân lân", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: "Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ".

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh "rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng" như xưa. Tuy nhiên, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng. Trong khuôn viên chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Năm 2003, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến và vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền.

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Chùa Tôn Thạnh là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/11/1997 .

RẠCH NÚI

(p Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc)

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400 ± 100 năm cách ngày nay, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ, bao gồm nhiều loại hình công cụ lao động bằng đá, xương, sừng và đồ gốm nhưng không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ: Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khác với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó, di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu (Nguyễn Văn Mỹ - quan đại thần triều Nguyễn).

Di tích Rạch Núi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Quyết định số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/06/1999.

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

CHÙA PHƯỚC LÂM

(Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước)

Chùa Phước Lâm – xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An - được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu "bánh ít", có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc hoàng, Thị giả, Thập điện, Thiện ác, Hộ pháp, Kim cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía Đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật.

Chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001.

NHÀ TRĂM CỘT

(Ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước)

Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, tại ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Nhà có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: phần phía trước được bày trí theo kiểu ngoại khách - nội tự (ngoài tiếp khách, trong thờ tự), phần phía sau dùng để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa của vùng đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/09/1997.

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

(Ấp 1, xã Long Hòa, huyện Cần Đước)

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 13 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 3 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm, Thuận Thành và Phước Hậu.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía Nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy (1966-1967).

Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460 QĐ/VH ngày 28/06/1996.

HUYỆN CHÂU THÀNH

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

(Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành)

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, 3 gian, 2 chái. Nhà có dạng hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân "thiên tỉnh" (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 03/08/2007.

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

(Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành)

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông sinh ngày 28/5 năm Đinh Hợi tức ngày 21/07/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/08/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông - nhà trí thức yêu nước,  người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

Khu lưu niệm Nguyễn Thông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 04/2001-QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001.

DI TÍCH ĐÌNH TÂN XUÂN

(Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành)

Đình Tân Xuân là di tích lịch sử văn hóa, một trong những ngôi đình cổ trên đất Long An. Đây là nơi ghi dấu tín ngưỡng thờ thần trong quá trình di dân lập ấp, đồng thời gắn liền sự kiện lịch sử, sự hy sinh oanh liệt của nhà yêu nước Đỗ Tường Tự, người thủ lĩnh cuối cùng của phong trào nông dân khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tân An.

Hàng năm, vào ngày 15-16/1 âm lịch tại đình diễn ra Lễ hội làm chay rất đặc sắc, quy tụ hàng ngàn người dân tham dự. Lễ hội làm chay có đặc trưng độc đáo là liên kết, tổng hòa nhiều thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng dân gian trên địa bàn như: đình Dương Xuân Hội, chùa Ông (Linh Võ tự), Âm Nhơn miếu (miễu cô hồn), Linh Phước tự, thánh thất Phương Quế Ngọc Đài. Lễ hội quy tụ hầu hết nhân dân các giới và các tôn giáo tham gia hành lễ. Về phần lễ, có những nghi thức cổ truyền đã có từ hơn một thế kỷ qua như: Thỉnh Tiêu Diện đại sĩ từ Linh Phước tự về chùa Ông; thỉnh Phật, thỉnh thầy từ Linh Phước tự về Đình Dương Xuân; cúng tế, đề phan liệt sĩ; cúng cô hồn ở Miếu Âm Nhơn; lễ chiêu u (rước cô hồn ) từ các nơi trong huyện về giàn ông Tiêu; nghi lễ đánh động, thỉnh thầy, thỉnh kinh; nghi lễ phóng đăng, phóng sinh; nghi lễ đốt nến, thả bèo, nghi lễ Chạy kim đàn và xô giàn, tiễn khách. Về phần hội, có những trò chơi dân gian cho nhân dân vui chơi như: Bịt mắt đập nồi, nhảy bao bố, kéo co, thả-bắt vịt…

Di tích đình Tân Xuân được xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 4109/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Lễ hội làm chay cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4205/QĐ-BVHTT ngày 19/12/2014.

HUYỆN THỦ THỪA

ĐÌNH VĨNH PHONG

(Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa)

Đình Vĩnh Phong tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

Đình Vĩnh Phong được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1811/1998/QĐ-BVHTT  ngày 31/08/1998.

HUYỆN BẾN LỨC

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

(Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức)

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn, bởi vì đây là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm: Ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông. Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn tọa lạc tại ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930-1945). Đồng thời đây là nơi ghi dấu một số hoạt động của các nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

HUYỆN TÂN TRỤ

VÀM NHỰT TẢO

(Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ)

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L'Espérance của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: "Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang". Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: "Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, UBND tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28/6/1996.

HUYỆN ĐỨC HUỆ

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

(Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ)

Các địa điểm thuộc căn cứ Bình Thành còn được gọi là di tích Bình Thành hay Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An, tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An.

Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói rằng, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

Di tích căn cứ Bình Thành đã được Bộ Văn hóa – Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BT ngày 04/12/1998.

HUYỆN ĐỨC HÒA

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

(Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa)

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5.000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/06/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng  7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 04/06/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn, thể hiện lòng tin của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

Ngã Tư Đức Hòa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH-QĐ, ngày 05/09/1989.

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN

 CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

(Ấp Giống Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa)

Nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ là nơi  đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật để thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn vào ngày 06/03/1930.

Chi bộ ra Nghị quyết: "Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy". Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng 3 tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

Khu nhà ông Bộ Thỏ tại ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL  ngày 31/10/2013.

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

(Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa)

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước hay còn gọi khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng Đông Bắc thành phố Tân An, cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách Tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía Đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn Đông Nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570-VH/QĐ  ngày 05/09/1989.

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

(Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa)

Di tích An Sơn  được hai nhà khảo cổ người Pháp là L. Malleret và P. Levy phát hiện từ năm 1838 và trải qua 3 lần khai quật lớn vào các năm 1978, 1997, 2004 do các nhà khảo cổ trong và ngoài nước thực hiện. Các cuộc khai quật này đã phát hiện nhiều di tích, di vật đa dạng, phong phú có thể tái hiện sinh động phương thức sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ nơi đây.

Đây là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hoá dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, là một đối tượng quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học ở Long An và Đông Nam Bộ.

Di tích An Sơn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 324/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011.

HUYỆN TÂN THẠNH

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ (1946 – 1949)

(Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh)

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

Di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ (1946-1949) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT ngày 03/08/2007.

HUYỆN VĨNH HƯNG

GÒ Ô CHÙA

(Ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng)

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc- 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3 m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến 2.000 năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1.000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

Gò Ô Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp dạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

                              Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền, PHÒNG NGHIỆP VỤ

                                         BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH LONG AN

01/07/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Điện Biên Phủ - Hội nghị Giơnevơ - Văn kiện đảng Điện Biên Phủ - Hội nghị Giơnevơ - Văn kiện đảng
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi một trang vàng vào biên niên sử của Việt Nam trong thế kỷ XX như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn; đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”.

Tiếp sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu” năm 1954, nhân dân Việt Nam tiếp tục giành được thắng lợi vẻ vang trong nền ngoại giao cách mạng non trẻ của nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đó là Hiệp định Giơnevơ, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của 3 quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia được ký kết vào ngày 20/7/1954 sau 75 ngày đêm đàm phán gay go, quyết liệt. Đây là thắng lợi của cách mạng Đông Dương nói chung, của Việt Nam nói riêng có ý nghĩa tầm vóc thời đại.

Hội nghị Giơnevơ là hội nghị quốc tế cấp ngoại trưởng, với sự tham gia của các nước lớn như: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước hữu quan. Phái đoàn Việt Nam do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu, chính thức được mời họp từ ngày 08/5/1954. Lần đầu tiên nền ngoại giao cách mạng Việt Nam bước lên vũ đài quốc tế, tham gia vào một hội nghị đa phương. Hội nghị Giơnevơ đi đôi với trận thắng Điện Biên Phủ đã nêu cao vai trò của nước ta trên trường quốc tế.

Hiệp định Giơnevơ 1954 là một bước tiến quan trọng, khẳng định khát vọng của Việt Nam về một nền hòa bình gắn liền với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đây là cột mốc lịch sử quan trọng trong cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ của nhân dân ta để giành độc lập tự do.

Thắng lợi tại Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, khát vọng và yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây là thắng lợi của đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến, đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi ở Hội nghị Giơnevơ là thắng lợi trong cuộc đấu tranh ngoại giao bằng việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng, bằng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bằng nội lực của dân tộc và sự khôn khéo tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới, tạo nên một cơ sở pháp lý cho những cuộc đấu tranh sau này đặc biệt là trong cuộc đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Pari về Việt Nam; là bài học kinh nghiệm mang tính thời sự nóng hổi cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế hiện nay.

Nhân kỷ niệm 60 năm, ngày Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết (20/7/1954-20/7/2014); Thư viện tỉnh Long An trân trọng giới thiệu đến bạn đọc quyển sách “Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơnevơ – Văn kiện Đảng” của Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp với Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2014; sách dày 651 tr, khổ 16x24cm.

45.jpg

Nội dung sách gồm ba phần:

Phần thứ nhất: Trước tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Chiến dịch Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ; gồm các bài viết, bài nói, lời kêu gọi, thư, điện. mệnh lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Chiến dịch Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ.

Phần thứ hai: Văn kiện của Đảng về kháng chiến và Chiến dịch Điện Biên Phủ, gồm các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Quân ủy và của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chỉ đạo Chiến dịch Điện Biên Phủ từ chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 cho đến ngày toàn thắng.

Phần thứ ba: Văn kiện của Đảng về Hội nghị Giơnevơ; gồm các báo cáo, phát biểu, kiến nghị, tuyên bố, điện trao đổi, mệnh lệnh, lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và của Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Giơnevơ.

Phụ lục: Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ, ngày 21/7/1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương, với sự tham gia của đại biểu Cao Miên, Quốc gia Việt Nam, Mỹ, Pháp, Lào, Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Anh và Liên Xô. Phụ bản kèm theo Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam.

Hiệp định Giơnevơ 1954 có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc là một trong những quốc gia tham dự Hội nghị, Trung Quốc cũng ký kết Hiệp định cam kết tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, điều đó có nghĩa Trung Quốc cũng thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thời gian qua, việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong vòng 75 ngày, cho thấy Trung Quốc đã vi phạm Hiệp định Giơnevơ 1954, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế, tạo cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng và hòa bình an ninh bị đe dọa.

Trong bối cảnh hiện tại đối với vấn đề Biển Đông, nội dung quyển sách “Điện Biên Phủ, Giơnevơ – Văn kiện Đảng” giúp chúng ta khơi dậy niềm tự hào sâu sắc, tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, không ngừng nâng cao hình ảnh và vị thế của một dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, kiên quyết và kiên trì thực hiện mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng biện pháp hòa bình trên thực địa, bằng chính trị, ngoại giao, bằng thông tin và tuyên truyền để yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, không đưa giàn khoan và các phương tiện khác trở lại vùng biển của Việt Nam.

60 năm đã qua đi, “Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự  ở Việt Nam” đã đi vào lịch sử, tình hình quốc tế và khu vực đã có nhiều thay đổi, nhưng Hiệp định Giơnevơ, vẫn luôn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

Sách hiện có tại Thư viện tỉnh Long An; số 26, Trương Công Xưởng, Phường 1, Tp. Tân An, tỉnh Long An.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

                                                                                    Bài và ảnh: Trương Thị Lâm

Thư viện Long An




22/10/2014 11:00 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020 CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020

Thiết thực chào mừng kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020), Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức Hội thi Văn nghệ quần chúng, chủ đề Mừng Đảng mừng Xuân Canh Tý 2020 với sự tham gia sôi nổi của các thí sinh đến từ các xã, thị trấn và các cơ quan trong huyện.

31-1-2020 Tiet muc song ca cua don vi xa tan trach.JPG

Tiết mục song ca của đơn vị xã Tân Trạch

Với 3 thể loại tân nhạc, cổ nhạc và múa, 38 tiết mục dự thi trong hội thi đã mang đến nhiều màu sắc, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp và tạo không khí vui tươi dịp Tết cổ truyền của dân tộc. Các thí sinh với sự luyện tập, chuẩn bị chu đáo qua phần thi của mình đã truyền cho khán giả cảm xúc về mùa Xuân, về tình yêu quê hương đất nước và tình cảm đối với Bác Hồ kính yêu. Ở phần thi tân nhạc và cổ nhạc, nhiều thí sinh khoe được chất giọng mượt mà, độ bổng trầm luyến láy, cách nhã chữ tạo nên giá trị biểu cảm cho bài ca. Các tiết mục múa với sự đầu tư kỹ từ trang phục đến đạo cụ tạo nên nhiều cung bậc cảm xúc cho người xem, thu hút sự theo dõi, quan tâm, cổ vũ của khán giả.

31-1-2020  tiet muc múa cua xa Tan Lan.JPG

Tiết mục múa của đơn vị xã Tân Lân

Kết thúc hội thi, Ban Tổ chức đã trao 3 giải nhất, 3 giải nhì, 6 giải ba và 18 giải khuyến khích cho các thí sinh thể hiện xuất sắc ở từng thể loại dự thi.

31-1-2020  trao giai nhat hoi thi.JPG

Ban Tổ chức trao giải cho các thí sinh

Hội thi Văn nghệ quần chúng là dịp để những người làm công tác văn hóa, văn nghệ quần chúng nâng cao tay nghề, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời, phổ biến, quảng bá rộng rãi những bài hát về quê hương Cần Đước đến với nhân dân, nâng cao đời sống tinh thần, tạo động lực thi đua xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, nâng chất huyện điểm điển hình về văn hóa của tỉnh./.

Cẩm Tú

03/02/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC HƯỞNG ỨNG HOẠT ĐỘNG “ÁO DÀI - DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM” CẦN ĐƯỚC HƯỞNG ỨNG HOẠT ĐỘNG “ÁO DÀI - DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM”

Hưởng ứng hoạt động "Áo dài - Di sản văn hóa Việt Nam" do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động, Liên đoàn Lao động huyện Cần Đước phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện tổ chức phát động, thực hiện tuần lễ mặc áo dài từ ngày 02-06/3/2020.

10.1 Chị em phụ nữ mặc áo dài chào cờ đầu tháng 3.2020.JPG

Tuần lễ mặc áo dài được phát động đến các cấp công đoàn cơ sở và các cấp hội phụ nữ trong huyện gắn với các hoạt động chào mừng kỷ niệm 110 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (08/3/1910 - 08/3/2020), 1980 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và 8 năm Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3/2012 - 20/3/2020). Hoạt động này khuyến khích cán bộ, hội viên, phụ nữ mặc trang phục áo dài trong các hội nghị, sự kiện của quê hương, đất nước và trong các sự kiện của gia đình, cộng đồng; vận động mặc áo dài trong ngày làm việc phù hợp với đặc thù nghề nghiệp, thuận tiện, an toàn lao động nhằm lan tỏa vẻ đẹp của chiếc áo dài truyền thống tại nơi làm việc và nơi sinh sống. Ông Đặng Văn Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện cho biết: "Đây là đợt phát động có ý nghĩa nhằm hưởng ứng chào mừng Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, qua đó khơi dậy truyền thống của phụ nữ Việt Nam, tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ Việt".

10.2 Phụ nữ mặc áo dài truyền thống hưởng ứng hoạt động “Áo dài-di sản văn hóa Việt Nam”_.JPG

Tuần lễ mặc áo dài nhằm khẳng định giá trị của áo dài trong đời sống xã hội, tôn vinh vẻ đẹp và vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Đồng thời khơi dậy niềm tự hào, trách nhiệm giữ gìn và phát huy di sản văn hóa áo dài Việt Nam trong mỗi người dân./.

Cẩm Tú - Hồng Phong  

06/03/2020 5:00 CHĐã ban hànhApproved
TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)

    Đầu năm 1859, sau khi vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, thực dân Pháp bỏ dở cuộc tấn công Đà Nẵng để kéo quân vào đánh chiếm Nam Kỳ. Ngày 19/2/1861, thành Gia Định thất thủ, triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương làm Thống đốc quân vụ đại thần vào Nam xây dựng đại đồn Chí Hòa để ngăn chặn quân Pháp, không cho chúng đánh ra lục tỉnh Nam Kỳ. Ngày 24/2/1861, Pháp tăng cường lực lượng phá vỡ đại đồn Chí Hòa rồi tiến quân đánh chiếm Mỹ Tho, Tân An, Cần Giuộc, Gò Công, Rạch Kiến. Để bảo vệ tấc đất ngọn rau mà cha ông đã dày công khai phá, nhân dân phủ Tân An đã dựng cờ kháng chiến dưới sự lãnh đạo của các thân hào, nhân sĩ địa phương như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phạm Tuấn Phát…Ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu L’Espérance tại Vàm Nhựt Tảo, mở đầu cho những trận công kích vào giặc Pháp ở Nam Kỳ. Đêm rằm tháng mười một năm Tân dậu (16/12/1861), nghĩa quân đồng loạt tấn công vào các đồn giặc ở Cần Giuộc, Gò Công và Tân An. Tại Cần Giuộc, nghĩa quân đã đánh úp đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình, đốt nhà thờ, giết viên tri huyện người Pháp và một số lính Mã-tà, Ma-ní. Giặc Pháp phải huy động tàu chiến đến sông Cần Giuộc bắn đại bác dữ dội lên đồn mới đẩy lui được nghĩa quân. Trong trận này, 15 nghĩa quân đã hy sinh, trong đó phần nhiều là người làng Mỹ Lộc (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc). Thi hài của các nghĩa sĩ này được chôn cất tại khu lau sậy sầm uất gần chợ Trường Bình (nay là khu vực Hồ nước Cần Giuộc). Nhân dân còn xây một miếu nhỏ để làm nơi thờ phượng các nghĩa sĩ trận vong nhưng nói tránh đi là Miếu Cô hồn để thực dân Pháp khỏi dòm ngó. Về sau, giặc Pháp biết được nên bắt dân phá miếu, đào mồ mã, nạo vét thành hồ nước.

    Xúc động trước tấm lòng dũng cảm và sự hy sinh oanh liệt của những người nghĩa sĩ nông dân, Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên áng văn bất hủ”Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Với lời lẽ vô cùng bi tráng, thống thiết, kiệt tác văn chương này đã làm rung động mãnh liệt tâm hồn, tình cảm của nhân dân cả nước. Bằng ngòi bút tài hoa với những hình tượng văn học độc đáo, mỹ lệ của Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên, người nông dân chân lấm tay bùn, rất mực bình thường, chỉ biết ‘cui cút làm ăn” bổng trở thành những anh hùng cứu nước. Đây chính là tượng đài lịch sử mà ông đã dựng lên để tôn vinh tinh thần yêu nước quên mình của những người “dân ấp, dân lân” cho sự sống còn của dân tộc và Tổ quốc. Những nghĩa sĩ này, thời bình là người nông dân, chưa bao giờ biết tới cảnh chiến tranh, máu lửa. Nhưng tiếng súng giặc đã vang rền trên bầu trời Gia Định, gót giày đinh của giặc đang giày xéo mồ mả cha ông nên họ phải đứng lên kháng chiến để bảo vệ ngọn rau, tấc đất mà bao thế hệ đi trước đã dày công khai phá. Những người “dân ấp, dân lân” này chỉ với một manh áo vải, một ngọn tầm vông đã dám đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh, có trong tay nhiều tàu to, súng lớn. Họ chiến đấu với một tinh thần dũng cảm mà muôn đời sau phải cúi đầu kính ngưỡng:

Chi nhọc quan quản đánh trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc như không.

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã-tà, Ma-ní hồn kinh.

Bọn hè trước, lũ ó sau, nào sợ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”.

Là những người trọng nghĩa, luôn nhớ câu “Kiến nghĩa bất vi” của thánh hiền, họ sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chiến đấu tới cùng vì chân lý “Chết vinh hơn sống nhục”:

Thà chết mà đặng câu địch khái, theo cùng tổ phụ cũng vinh.

Hơn sống mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Tinh thần ấy, khí tiết ấy của những người nghĩa sĩ nông dân còn mãi với thời gian, dù trận công đồn Tây Dương đã “một trận khói tan” nhưng vẫn “ngàn thu tiết rỡ”. Có thể nói rằng, cùng với ánh trăng rằm tháng 11 năm xưa, tấm lòng son của người nghĩa sĩ nông dân mãi mãi sáng soi trong tâm hồn của biết bao thế hệ tiếp nối. Cũng từ đó, hình tượng của những nghĩa sĩ nông dân này đã trở thành một tượng đài sừng sững trong lòng của mỗi người dân nước Việt.

Kế tục truyền thống chống ngoại xâm của những người nghĩa sĩ nông dân ấy, nhân dân Long An đã viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, thà chết vinh hơn sống nhục của cha ông năm xưa đến hôm nay được làm sáng tỏ thêm bởi  chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của thời đại Hồ Chí Minh và được người Long An phát huy cao độ thành truyền thống “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”. Với ý nghĩa ấy,  trận công đồn Tây dương đêm rằm tháng 11 năm Tân dậu cùng với tinh thần và khí phách của người Nghĩa sĩ Cần Giuộc xứng đáng được  thệ hệ hôm nay và mai sau, kế thừa, phát huy hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

14/12/2011 7:30 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI PHỤ NỮ DUYÊN DÁNG LẦN THỨ XVII NĂM 2020 CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI PHỤ NỮ DUYÊN DÁNG LẦN THỨ XVII NĂM 2020

Hội thi Phụ nữ duyên dáng huyện Cần Đước lần thứ XVII năm 2020 do Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ huyện Cần Đước phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện tổ chức, đã diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo khán giả đến xem và cổ vũ, góp phần tạo nên không khí vui tươi trong những ngày Tết cổ truyền.

31-1-2020 Phan thi trang phuc tu chon, trang phục ao dai.JPG

Phần thi trang phục tự chọn và trang phục áo dài của các thí sinh

31-1-2020 Phan thi nang khieu.JPG

Phần thi năng khiếu

Khác với mọi năm, Hội thi Phụ nữ duyên dáng năm nay không tổ chức thi ở 2 cụm vùng thượng và vùng hạ mà tập trung về sân khấu trung tâm của Hội Xuân huyện và thực hiện 3 vòng thi trong một đêm. Ở vòng thi sơ khảo, 28 thí sinh ở các xã, thị trấn biểu diễn trang phục tự chọn trên nền nhạc để Ban Giám khảo chọn 14 thí sinh vào vòng chung kết. Tại vòng chung kết, các thi sinh dự thi phần trang phục áo dài truyền thống và năng khiếu. Mỗi thí sinh với sự đầu tư chu đáo từ trang phục phù hợp với vóc dáng đến cách thể hiện trên sân khấu qua gương mặt, nụ cười, việc tạo dáng… thể hiện sự tự tin và vẻ đẹp của thí sinh cũng như tính thẩm mỹ cao qua từng trang phục và nội dung thi. Ban Giám khảo chọn ra 5 thí sinh có số điểm cao vào vòng xếp hạng thi ứng xử. Ở phần thi này, thí sinh thể hiện khả năng ứng xử, kiến thức xã hội và vai trò của phụ nữ trong cuộc sống hiện đại.

Thí sinh Nguyễn Ngọc Trâm Anh, đơn vị xã Tân Trạch xuất sắc đạt giải nhất Hội thi Phụ nữ duyên dáng huyện Cần Đước lần thứ XVII năm 2020. Ban Tổ chức cũng đã trao 1 giải nhì, 1 giải ba, 7 giải khuyến khích, cùng các giải trang phục áo dài truyền thống đẹp nhất, trang phục tự chọn đẹp nhất, gương mặt khả ái và năng khiếu hay nhất.

31-1-2020 Ban to chuc chup anh luu niem voi thi sinh dat giai.JPG

Ban Tổ chức trao giải cho các thí sinh

Thông qua hội thi để chị em phụ nữ có cơ hội giao lưu, nâng cao kiến thức trong việc chọn lựa trang phục, giúp chị em thêm tự tin hơn, đồng thời góp thêm niềm vui cho những ngày Tết cổ truyền./.

Cẩm Tú

03/02/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
ĐỨC HÒA TỔ CHỨC HỘI THI GIỌNG HÁT HAY BOLERO “GIAI ĐIỆU MÙA XUÂN” ĐỨC HÒA TỔ CHỨC HỘI THI GIỌNG HÁT HAY BOLERO “GIAI ĐIỆU MÙA XUÂN”

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Hòa phối hợp với Huyện đoàn, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn Lao động huyện tổ chức Hội thi Giọng hát hay Bolero "Giai điệu mùa Xuân" Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý huyện Đức Hòa lần III năm 2020.

20-1-20 DUC HOA KHAI MAC HOI THI GIONG HAT HAY BOLERO GIAI DIEU MUA XUAN11.jpg

Quang cảnh hội thi

Tham gia hội thi có 55 thí sinh đến từ các cơ quan, trường học, xã, thị trấn và người dân trên địa bàn huyện. Nội dung thi là những ca khúc ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, con người Việt Nam, tình yêu đôi lứa và những khúc ca về mùa Xuân. Các thí sinh dự thi theo thể loại đơn ca dòng nhạc Bolero trữ tình bao gồm các thể điệu Bolero, Rumba, Chacha, Slow… Tại vòng sơ khảo, thí sinh tự chọn một ca khúc để dự thi. Sau đó, Ban Giám khảo sẽ chọn ra 20 thí sinh có số điểm cao nhất để dự vòng chung kết xếp hạng.

20-1-20 DUC HOA KHAI MAC HOI THI GIONG HAT HAY BOLERO GIAI DIEU MUA XUAN.jpg

Tiết mục tham gia hội thi

Kết thúc hội thi, Ban Tổ chức trao giải nhất cho thí sinh Nguyễn Thúy Hằng, đơn vị xã Đức Lập Hạ; 2 giải nhì cho thí sinh Nguyễn Thị Thúy Hằng đơn vị Trường Mầm non Vành Khuyên và thí sinh Nguyễn Tài Lâm, đơn vị Trường THCS An Ninh; 3 giải ba và 14 giải khuyến khích.

30-01-2020 Trao giai cho cac thi sinh Bolero.jpg

Ban Tổ chức trao giải cho các thí sinh

Hội thi Giọng hát hay Bolero lần này đã tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích, giúp cho người dân trên địa bàn huyện có điều kiện giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể hiện niềm đam mê ca hát trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc./.

Nhã Phương

31/01/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Khánh thành Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh (xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ), ngày 02/9/2017. Kỳ 2: Bình Thành, những sự kiện đi vào lịch sửKhánh thành Khu di tích lịch sử Cách mạng tỉnh (xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ), ngày 02/9/2017. Kỳ 2: Bình Thành, những sự kiện đi vào lịch sử

Do vị trí địa lý, đặc thù địa hình và điều kiện lịch sử, nhiều sự kiện lịch sử đã diễn ra trên vùng đất bưng trấp này. Trong khuôn khổ bài báo, chúng tôi xin lược lại một số sự kiện có tính chất dấu ấn và thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trên vùng căn cứ này, góp phần vào sự chuyển biến trong các giai đoạn lịch sử cách mạng.

Nơi hình thành những đơn vị vũ trang cách mạng đầu tiên

Trước tình thế hiểm nghèo trong những năm chế độ Ngô Đình Diệm thực hiện "tố cộng", "diệt cộng" sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), đồng thời với "điều lắng", Xứ ủy chủ trương lợi dụng mâu thuẫn giữa các giáo phái với chế độ Ngô Đình Diệm, tập hợp lực lượng tự vệ vũ trang mang danh nghĩa giáo phái để chống Diệm, từng bước tái lập lực lượng vũ trang. Lúc này, quân Cao Đài liên minh từ Tây Ninh tràn vào Đồng Tháp Mười theo ngả Mỹ Quý Tây, Mỹ Thạnh Tây xuyên qua Bình Thành, chiếm dọc hai bờ sông Vàm Cỏ Đông.

Thực hiện chủ trương trên, năm 1955, nhân cơ hội Cao Đài Phụng bị thiếu quân, ta đưa 60 người (trong đó có 1 chi bộ gồm 11 đảng viên) vào Tiểu đoàn Văn Kía. Ngoài ra, còn một bộ phận khác được xây dựng và hoạt động trong lực lượng Cao Đài ly khai. Về sau, lực lượng này tách ra thành lập Tiểu đoàn Quang Huy. Đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các đội vũ trang tuyên truyền, làm nhiệm vụ bám trụ địa bàn, vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị ở xã, ấp; vận động góp quỹ nuôi quân, tổ chức cơ sở nội tuyến trong lòng địch, binh vận; giáo dục, răn đe tề điệp, nếu cần trấn áp, trừng trị,... trong thời kỳ vũ trang tuyên truyền trước đồng khởi, sau này phát triển thành các Tiểu đoàn 506 và 508 làm nòng cốt trong phong trào đồng khởi.

Chuẩn bị cho Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, từ tháng 7/1967, ta tổ chức lại chiến trường theo kiểu phân khu thay vì tỉnh. Bình Thành là nơi Tỉnh ủy triệu tập hội nghị đề ra biện pháp để thực hiện sự phân công này. Theo đó, Long An được phân ra thành 2 phân khu là Phân khu 2 và Phân khu 3, có nhiệm vụ tấn công Sài Gòn từ hướng Tây, hỗ trợ nhân dân nổi dậy tổng khởi nghĩa, chiếm các mục tiêu Sân bay Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Biệt khu thủ đô, hợp điểm ở Dinh Độc Lập (Phân khu 2) và hướng Nam, chiếm các mục tiêu Tổng nha Cảnh sát, Bộ Tư lệnh Hải quân (Phân khu 3).

Căn cứ Bình Thành trở thành nơi tập kết, là điểm xuất phát của lực lượng vũ trang tỉnh và Sư đoàn 9 chủ lực Miền làm nhiệm vụ này. Trong những ngày chuẩn bị Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975, căn cứ Bình Thành vừa là nơi đặt cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, chuẩn bị hậu cần, vừa là nơi tập kết của các lực lượng tỉnh, chủ lực Miền tiến công về giải phóng Long An và Sài Gòn, góp phần vào Đại thắng mùa Xuân 1975.

Những sự kiện đi vào lịch sử

Năm 1947, trong cuộc kháng chiến 9 năm, Pháp mở các cuộc càn quét quy mô lớn vào các căn cứ kháng chiến của ta từ Việt Bắc, Đông Nam bộ đến Đồng Tháp Mười. Ngày 20/3/1947, Pháp huy động cả bộ binh, tàu chiến và đặc biệt là lần đầu tiên ở Nam bộ, địch sử dụng lực lượng nhảy dù để tấn công chớp nhoáng vào Giồng Dinh, khu Đông Thành (nay thuộc xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ), nơi lúc này có mặt các cơ quan lãnh đạo kháng chiến cấp Xứ, cấp Khu, các đồng chí lãnh đạo cao cấp: Chủ tịch Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ - Phạm Văn Bạch; Ủy viên Quân sự Trung ương, Tư lệnh Khu 7 - Trung tướng Nguyễn Bình;... Chi đội Hải ngoại 4 (Chi đội Trần Phú) vừa từ Thái Lan về nước phối hợp lực lượng Chi đội 12 và dân quân du kích địa phương bẻ gãy cuộc càn này, gây tiếng vang trên toàn Nam Bộ như là một trong những trận đánh tiêu biểu nhất trong lịch sử 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp:

Giồng Dinh quân Pháp nhảy dù

Sa vào trận chiến chổng khu đầy đồng

Khu Tám đã lập đầu công

Hiên ngang trên đất thành đồng Việt Nam.

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, sau thời gian kết thúc phương thức đấu tranh chính trị đơn thuần đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), Hội nghị 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (13/01/1959) xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Ngày 6/01/1960, tại căn cứ Bình Thành, Tỉnh ủy mở hội nghị quán triệt chỉ đạo của Xứ ủy, Khu ủy theo tinh thần Nghị quyết 15, đề ra phương châm khởi nghĩa: "Dùng lực lượng vũ trang tiến công vào đồn bót và bọn địch khống chế quần chúng ở thôn xã để làm đòn xeo phát động quần chúng đồng loạt nổi dậy giành chính quyền ở cơ sở", lấy huyện Đức Hòa làm trọng điểm khởi nghĩa.

Và tại Bình Thành, đêm 25/01/1960, Tỉnh ủy phát động và cho truyền đi lời kêu gọi toàn dân khởi nghĩa mang tên Bản Nhật lệnh của Bộ Chỉ huy quân giải phóng Long An, với trận mở màn tiêu diệt đồn Đức Lập, làm tiền đề cho 3 đợt đồng khởi trên toàn tỉnh, làm thay đổi cục diện ta và địch mà như Phân cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) ở Sài Gòn đánh giá: "Vào cuối năm 1960, toàn bộ vùng nông thôn Nam và Tây Nam Sài Gòn (Long An) và một số vùng Bắc Sài Gòn bị Cộng sản kiểm soát quá một nửa và bao vây Sài Gòn...".

Ngày 17/6/1960, tại Giồng Ông Tưởng, căn cứ Bình Thành, tỉnh sáp nhập lực lượng của Tiểu đoàn 506 và 508 thành lập Đại đội 1 Cơ động tỉnh - tiền thân Tiểu đoàn 1 Long An Anh hùng, làm nên những chiến công vang dội trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ và sau này.

Từ sau đồng khởi, vùng giải phóng được mở rộng, thế căn cứ Bình Thành thêm vững mạnh. Trước yêu cầu của tình hình cách mạng lúc bấy giờ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Long An được thành lập và chính thức ra mắt quần chúng nhân dân trong buổi míttinh trọng thể với sự có mặt của khoảng 7.000 người từ khắp nơi kéo về vùng giải phóng tại khu Hội đồng Sầm (xã Bình Hòa Bắc) vào lúc 18 giờ, ngày 30/12/1961, đánh dấu sự kiện ra đời của tổ chức tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước ở địa phương đoàn kết, thống nhất dưới ngọn cờ chung của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm.

Ảnh Kỳ 2-Nhân dân Long An tại buổi mít-tinh ra mắt Ủy ban MTDTGP.jpg

Nhân dân Long An tại buổi míttinh ra mắt Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Long An
tại khu Hội đồng Sầm (Đức Huệ), ngày 30/12/1961

Yêu cầu kháng chiến đặt ra cho công tác tuyên truyền cách mạng nhiệm vụ mới, mà văn hóa - văn nghệ, in ấn, báo chí là mặt trận đi đầu. Ngày 01/5/1961, tại căn cứ Bình Thành diễn ra lễ khánh thành chiếc máy in ty-pô đầu tiên cũng là ngày nhà in của tỉnh chính thức thành lập mang tên người chiến sĩ cộng sản bất khuất Phan Văn Mảng - một mốc son lịch sử của ngành in và báo chí cách mạng, như lời Bí thư Tỉnh ủy lúc bấy giờ - Nguyễn Văn Chính, phát biểu: "... Nó là anh cả máy in trong vùng giải phóng của các tỉnh Trung Nam Bộ...".

Các đội Văn nghệ Măng Non, Văn công,... cũng ra đời trên vùng căn cứ này vào thời điểm đồng khởi với phương châm "tiếng hát át tiếng bom", làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân, cán bộ, chiến sĩ, góp phần vào thành công của sự nghiệp đấu tranh cách mạng.

Sau đồng khởi làm sụp đổ bộ máy chính quyền cơ sở ở nông thôn, địch tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt" với quốc sách "ấp chiến lược" làm cho tình hình cách mạng hết sức khó khăn. Tháng 9/1963, Bí thư Tỉnh ủy - Nguyễn Văn Chính chủ trì cuộc họp mở rộng tại Bình Thành tìm nguyên nhân và giải pháp phá ấp chiến lược, là "dùng lực lượng vũ trang đánh tiêu diệt đồn bót và lực lượng càn quét của địch, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy phá "ấp chiến lược, bung về vườn cũ làm ăn..."", đồng thời nêu quyết tâm "kiên quyết phá toàn bộ ấp chiến lược của địch, mở rộng vùng căn cứ" với trận Hiệp Hòa ngày 23/11/1963, mở đầu cao trào phá ấp chiến lược trên toàn tỉnh.

Từ chỉ đạo này, phát huy khí thế phá ấp chiến lược, đêm 16/10/1964, quân và dân Đức Huệ với sự hỗ trợ của Tiểu đoàn 263 bao vây, tấn công Chi khu Đức Huệ, đến ngày 18/10/1964, địch ở khu trù mật Quéo Ba (Mỹ Quý Tây) rút chạy. Lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân tràn vào san bằng khu trù mật kiểu mẫu này ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ - huyện giải phóng đầu tiên ở Long An và Khu 8, đưa thế căn cứ phát triển từ Bình Thành - Đức Huệ sang vùng Đức Hòa - Bến Lức. Cũng trong năm này, tại căn cứ Bình Thành, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị kiểm điểm, đánh giá tình hình và quán triệt Nghị quyết 9 của Trung ương Đảng về biện pháp đập tan kế hoạch Mắc-na-ma-ra, tổ chức "rèn cán, chỉnh quân", đề ra nhiệm vụ đánh bại hoàn toàn chiến lược "chiến tranh đặc biệt" trên chiến trường Long An.

Từ cuối năm 1965, khi quân Mỹ tham chiến, Tỉnh ủy triệu tập hội nghị tại căn cứ Bình Thành, quán triệt Nghị quyết 12 của Trung ương và Nghị quyết Tỉnh ủy về đường lối, nhiệm vụ chống "chiến tranh cục bộ", đồng thời tổ chức các cuộc chống càn trong cuộc hành quân Ma-rô-đơ (Marauder) đánh vào dọc 2 bên sông Vàm Cỏ Đông thuộc địa bàn huyện Đức Hòa, Đức Huệ trong lần phản công chiến lược lần thứ nhất và lần thứ hai với sự tham chiến của Sư đoàn 25 "Tia chớp nhiệt đới" của Mỹ, gây cho địch rất nhiều tổn thất, giữ vững vùng căn cứ, góp phần vào thành tích "Trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc".

Từ sau Mậu Thân đến năm 1975, trong tình thế cách mạng khó khăn, Tỉnh ủy vẫn bằng mọi cách bám trụ, xây dựng, phát triển căn cứ, giữ vững liên lạc giữa Trung ương và địa phương các vùng, miền với sự chỉ đạo của Khu 8 và Trung ương cục miền Nam, đề ra nhiều chủ trương, chỉ đạo quan trọng, trong đó có Hội nghị quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương và Nghị quyết 12 của Trung ương cục miền Nam (11/1973), kiểm điểm 9 tháng thực thi Hiệp định Pa-ri và chống bình định, lấn chiếm, từ đó đề ra nhiệm vụ xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, tăng cường công tác binh vận, chủ động tiến công bằng 3 mũi giáp công, tạo thế, tạo đà cho phong trào cách mạng địa phương, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975./.

 Nguyễn Tấn Quốc
(còn tiếp)

Kỳ cuối: Điểm đến vùng biên


07/09/2017 11:00 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​