Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 250268
 
Thông tin Văn Hóa - Di tích lịch sử - văn hóa
 
​Sáng ngày 07/01/2020, UBND thành phố Tân An phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh "Miếu Quan Thánh Đế" tại số 11/7 đường Hai Bà Trưng, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.Quang cảnh tại buổi lễĐến tham dự buổi lễ có ông Mai Văn Nhiều, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lị... 
 
​Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về việc xếp hạng cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế. Di tích hiện tọa lạc tại phường 1, thành phố Tân An, là một công trình kiến trúc cổ đặc thù kiểu Tứ trụ của đình, miếu Nam Bộ có niên đại hơn 103 năm. Đồng thời, trong miếu còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như hệ thống hoành phi, liễn đối, bao lam…đượ... 
 
​Có một di tích lịch sử nằm ở vùng sâu thuộc xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, việc đi lại ở nơi này còn hết sức khó khăn, nhưng vẫn có nhiều người tìm đến, đó là Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 207 - Quân khu 8. Mọi người đến đây với cái tâm thành kính đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, đến đây để thấy sự thắm đẫm tình người trong tinh thần "Đền ơn đáp nghĩa" sâu nặng của dân t... 
 
​Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định xếp hạng di tích khảo cổ học cấp tỉnh đối với Di tích khảo cổ học Gò Duối. Di tích khảo cổ học Gò Duối thuộc ấp Trung Trực, xã Thái Bình Trung, huyện Vĩnh Hưng, cách tỉnh lộ 831C khoảng 500m về hướng Tây, có diện tích khoảng 4.727,3 mét vuông, nằm trên gò cao khoảng 2 mét so với mặt ruộng xung quanh, được Bảo tàng – Thư viện tỉnh Long An phát hiện... 
 
​Ngày 19/02/2019, thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành long trọng tổ chức lễ khánh thành công trình trùng tu, tôn tạo Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Đình Tân Xuân. Đến dự lễ, có ông Trần Văn Cần, Chủ tịch UBND tỉnh Long An; bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam tỉnh Long An; ông Trương Văn Biết, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Châu Thành; ông Nguyễ... 
 
​Ngày 04/01/2019, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Đức Hòa tổ chức Lễ khánh thành Khu di tích lịch sử Căn cứ Liên quận 5, 6, 7, 8 và Ban Hoa vận, Ban Công vận thuộc Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định (gọi tắt là Khu di tích Giồng Dứa). Đến dự Lễ khánh thành có đồng chí Trương Tấn Sang, Nguyên Chủ tịch Nước CHXHCNVN; đồng chí Phạm Văn Rạnh, Ủy vi... 
 
​LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ TRUNG ĐOÀN 88 Ngày 21/12/2018, UBND huyện Tân Hưng phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An đã tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử ... 
 
​ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CƠ QUAN CHÍNH TRỊ QUÂN KHU 8 DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẦN ĐƯỢC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá của dân tộc, nơi kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần mà ông cha đã để lại, do đó trách nhiệm của chúng ta cần phải giữ gìn, kế thừa và phát huy giá trị của những di tích ấy trong công tác bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hiện nay. Tron... 
 
​LỄ GIỖ 135 NĂM NGÀY HY SINH CỦA TỔNG LÃNH BINH NGUYỄN VĂN TIẾN (1883 – 2018)Vào ngày 09/11/2018 (nhằm ngày 03/10 âm lịch), tại di tích Mộ và đền thờ Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến (ấp 7, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An), Ban Quản lý đền thờ kết hợp với chính quyền và nhân dân địa phương đã long trọng tổ chức Lễ giỗ 135 năm Ngày hy sinh của Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến (1883 - 2018).&#160... 
 
​Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Hòa phối hợp Phòng Giáo dục và Đào tạo, Huyện đoàn tổ chức cho đoàn viên thanh niên Chi đoàn Khối Văn hóa Xã hội và cán bộ văn hóa xã hội của huyện về nguồn, tham quan tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh Long An.Trong chuyến về nguồn, đoàn đã đến tham quan Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập (xã Tân Lập, huyện ... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Lễ Giỗ 135 Năm Ngày hy sinh của Tổng Lãnh Binh Nguyễn Văn Tiến (1883 - 2018)Lễ Giỗ 135 Năm Ngày hy sinh của Tổng Lãnh Binh Nguyễn Văn Tiến (1883 - 2018)

LỄ GIỖ 135 NĂM NGÀY HY SINH
CỦA TỔNG LÃNH BINH NGUYỄN VĂN TIẾN (1883 – 2018)

Vào ngày 09/11/2018 (nhằm ngày 03/10 âm lịch), tại di tích Mộ và đền thờ Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến (ấp 7, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An), Ban Quản lý đền thờ kết hợp với chính quyền và nhân dân địa phương đã long trọng tổ chức Lễ giỗ 135 năm Ngày hy sinh của Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến (1883 - 2018).

 Ngày 23-11-2018. Di tích mộ và đền thờ.jpg

Di tích Mộ và đền thờ Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến

Buổi lễ có sự góp mặt của đoàn đại biểu Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An và các phòng ban trực thuộc Sở do đồng chí Nguyễn Thành Thanh, Phó Giám Đốc Sở làm Trưởng đoàn; đồng chí Lê Văn Kiệt, Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Long An; đồng chí Huỳnh Văn Quang Hùng, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cần Đước; đại diện lãnh đạo các phòng ban, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN huyện Cần Đước, huyện Tân Trụ, huyện Cần Giuộc; cùng ban quản lý đền, chính quyền và bà con nhân dân xã Mỹ Lệ.

Ngày 23-11-2018. Đại biểu các cấp về dự Lễ.jpg 

                                          Đại biểu các cấp về dự lễ

Hằng năm, cứ vào ngày mùng 03/10 âm lịch, nhân dân địa phương cũng như nhân dân trong tỉnh lại được dịp thắp nén hương tri ân, ghi nhận những đóng góp to lớn trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của một vị anh hùng lỗi lạc - Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến.

Ngày 22-11-2018.jpg 

Khu vực chánh diện đền thờ Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến

Nguyễn Văn Tiến sinh năm 1848 tại chợ Quản Tập (nay thuộc thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An). Mới 16 tuổi, ông đã tham gia vào hàng ngũ nghĩa quân chiến đấu dưới cờ của Bình Tây đại nguyên soái Trương Định. Với tài võ nghệ, mưu trí và ý chí căm thù giặc sâu sắc, ông đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc, làm cho giặc Pháp phải khiếp vía. Chẳng bao lâu ông được làm Chưởng cơ điều khiển cánh nghĩa quân hoạt động ở vùng Tân An, Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc ngày nay. Năm 1868, khi Nguyễn Trung Trực mất, ông được tôn làm Tổng lãnh binh để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp. Dưới tài lãnh đạo của ông, nghĩa quân đã hoạt động mạnh trên một địa bàn rộng lớn từ Cần Đước đến Biên Hòa, Bà Rịa.

Ngày 23-11-2018. Đoàn đại biểu Sở VH, TT và DL.jpg 

Đoàn đại biểu Sở VH, TT và DL do đồng chí Nguyễn Thành Thanh, Phó GĐ Sở làm Trưởng đoàn thực hiện nghi thức dâng hương

Năm 1883, trong một trận đánh ở Bình Đăng (Bình Hưng - Quận 8 - TPHCM ngày nay), giặc Pháp bắt được ông. Ngày mùng 03/10/Quý Mùi (22/11/1883) giặc Pháp đã đưa Nguyễn Văn Tiến ra xử chém ở chợ Trạm. Chứng kiến những giây phút oanh liệt cuối cùng của Nguyễn Văn Tiến, nhân dân xung quanh chợ Trạm không ai cầm được nước mắt. Sau khi giặc Pháp rút đi bà con trong vùng đã chung tay làm lễ an táng ông rất trọng thể. Mộ ông được xây bằng xi măng, trên mộ có ghi "chi mộ Việt Nam ái quốc Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến" vị quốc vong thân ngày 03/10 năm Quí Mùi, tức ngày 22/11/1883, lập mộ ngày 19/2 năm Kỷ Dậu.

Ngày 23-11-2018. Phần mộ hiện nay.jpg

 Phần mộ hiện nay được xây dựng lại lần thứ 2 do ông Nguyễn Văn Giai góp kinh phí vào năm 1969

           Là công trình lưu niệm một nhân vật lịch sử đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập dân tộc - quần thể mộ và đền thờ Nguyễn Văn Tiến đã được UBND tỉnh Long An xếp hạng là di tích lịch sử tại Quyết định số 818/UB.QĐ, ngày 26/8/1992.

                                    Bài và ảnh: AZID GIÀU

  Phòng nghiệp vụ Bảo tàng - Thư viện tỉnh

 

30/11/2018 3:00 CHĐã ban hànhApproved
HUYỆN MỘC HÓA TẬP HUẤN BIÊN TẬP VÀ DÀN DỰNG KỊCH BẢN TUYÊN TRUYỀN LƯU ĐỘNG NĂM 2020 HUYỆN MỘC HÓA TẬP HUẤN BIÊN TẬP VÀ DÀN DỰNG KỊCH BẢN TUYÊN TRUYỀN LƯU ĐỘNG NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Mộc Hóa đã tổ chức lớp tập huấn biên tập và dàn dựng kịch bản tuyên truyền lưu động cho 30 học viên đến từ các xã, thị trấn, các cơ quan, trường học trên địa bàn huyện.

29-6-2020 tap huan thong tin luu dong.png

Tham gia lớp tập huấn, các học viên được cán bộ Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh hướng dẫn các kiến thức cơ bản về biên tập và dàn dựng kịch bản phục vụ cho công tác tuyên truyền lưu động, đặc biệt là mảng phong trào văn nghệ quần chúng ở cấp cơ sở, trong đó công tác tuyên truyền về các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, an sinh xã hội, an ninh quốc phòng… là món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi chương trình biểu diễn phục vụ bà con nhân dân, các buổi họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, tọa đàm.

Qua 5 ngày học tập, các học viên đã được bồi dưỡng các kỹ năng cơ bản, nắm vững được phong cách, đặc điểm, quy luật một chương trình, một kịch bản để tăng cường kỹ năng biểu diễn, tính thẩm mỹ, sự nhạy bén với các loại tiết tấu. Kết quả tập huấn, các học viên đã vượt qua bài kiểm tra và đạt loại khá trở lên./.

Trung tâm VH, TT và TT huyện Mộc Hóa

29/06/2020 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Lễ đón nhận Bằng Xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa Khu Tưởng Niệm Liệt Sĩ Trung Đoàn 88Lễ đón nhận Bằng Xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa Khu Tưởng Niệm Liệt Sĩ Trung Đoàn 88

LỄ ĐÓN NHẬN BẰNG XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ TRUNG ĐOÀN 88

                           

Ngày 21/12/2018, UBND huyện Tân Hưng phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An đã tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh "Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang và Kinh 62, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng (từ ngày 06/02 đến 07/02/1970)"  tại Trung tâm văn hóa - thể thao xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An. 

ngay 28-12-2018 hinh 1.jpg 

Quang cảnh buổi lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích    

Đến tham dự buổi lễ có đồng chí Trung tá Trần Trọng Anh - Phó Chính ủy Trung Đoàn 88, ông Nguyễn Văn Thiện - Phó Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh, ông Nguyễn Hồng Thuỷ - Phó Bí thư Thường trực Huyện uỷ, ông Nguyễn Thành Phương - Phó Chủ tịch HĐND huyện, ông Huỳnh Thanh Hiền - Phó Chủ tịch UBND huyện cùng đại diện Ban liên lạc Trung đoàn 88, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể huyện Tân Hưng và đông đảo bà con nhân dân xã Vĩnh Đại.

Tại buổi lễ, ông Nguyễn Văn Thiện - Phó Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh thừa uỷ quyền của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công bố Quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh của UBND tỉnh đối với di tích “Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88”. Đồng thời, ông Huỳnh Thanh Hiền - Phó Chủ tịch UBND huyện Tân Hưng đã trao bằng xếp hạng di tích cho đại diện lãnh đạo xã Vĩnh Đại, cùng công bố quyết định thành lập Ban Quản lý di tích do Chủ tịch UBND xã Vĩnh Đại làm Trưởng ban.     

ngay 28-12-2018 hinh 2.jpg

Ông Nguyễn Văn Thiện - Phó Giám đốc Bảo tàng - Thư viện tỉnh công bố quyết định xếp hạng di tích       

Di tích Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang và Kinh 62, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng là bằng chứng cho tinh thần đoàn kết, tương trợ và sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Trung đoàn 88, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước đã để lại cho người dân nơi đây lòng cảm thương vô hạn. Ngoài ra, di tích còn là biểu hiện cụ thể cho tấm lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân huyện Tân Hưng nói riêng và nhân dân tỉnh Long An nói chung đối với các chiến sĩ đã hy sinh quên mình vì Tổ Quốc. 
  

ngay 28-12-2018 hinh 3.jpg

Đại diện UBND xã Vĩnh Đại nhận bằng xếp hạng di tích   

ngay 28-12-2018 hinh 4.jpg 

Ban Quản lý di tích Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 ra mắt tại buổi lễ    

Với những giá trị trên, di tích Khu tưởng niệm liệt sĩ Trung đoàn 88 hy sinh trong trận chống càn tại khu vực Kinh Ngang và Kinh 62, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng đã được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh ngày 10/5/2018 tại Quyết định số 1508/QĐ-UBND, nâng tổng số di tích trên địa bàn tỉnh lên 110 di tích. Quyết định này là cơ sở pháp lý và tiền đề quan trọng để chúng ta, những thế hệ kế thừa thực hiện tốt công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy được tác dụng của di tích.

 

                                                                                                 Bài, ảnh: Hồng Nhung

Phòng Bảo tồn, Bảo tàng - Thư viện tỉnh


03/01/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
ĐỨC HUỆ TỔ CHỨC HỘI THI TIẾNG HÁT CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN CANH TÝ NĂM 2020 ĐỨC HUỆ TỔ CHỨC HỘI THI TIẾNG HÁT CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC, LAO ĐỘNG MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN CANH TÝ NĂM 2020

Trong 2 ngày 12 và 13/01/2020, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Huệ phối hợp với Liên đoàn Lao động huyện và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi Tiếng hát công nhân, viên chức, lao động mừng Đảng mừng Xuân Canh Tý năm 2020. Tham gia hội thi có 39 thí sinh là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đến từ 44 công đoàn cơ sở trên địa bàn huyện.

Hội thi gồm 2 vòng sơ khảo và chung kết xếp hạng. Mỗi thí sinh trình bày 1 ca khúc với nội dung ca ngợi về Bác Hồ, Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đấu tranh anh dũng của quân và dân ta trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam; ca ngợi về biển đảo, tình yêu quê hương, đất nước và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

13-1-2020 Nguyễn Thị Thanh Nhàn -đơn vị trường THCS Hòa Thành.jpg

Thí sinh Nguyễn Thị Thanh Nhàn - đơn vị trường THCS Hòa Thành
trình bày ca khúc Xinh tươi Việt Nam

Ở vòng sơ khảo, Ban Tổ chức chọn ra 16 thí sinh xuất sắc nhất bước tiếp vào vòng chung kết xếp hạng để tranh tài. Với niềm đam mê ca hát nên hầu hết các thí sinh có sự chuẩn bị kỹ lưỡng khi chọn bài hát phù hợp với chất giọng của mình. Ngoài giọng hát, các thí sinh còn thể hiện phong cách biểu diễn, trang phục, đầu tư dàn dựng tiết mục làm hội thi thêm phong phú và hấp dẫn, cuốn hút khán giả khi đến xem.

13-1-2020 Nguyễn Thị Tuyết Nhung – đơn vị MN Mỹ Bình.jpg

Thí sinh Nguyễn Thị Tuyết Nhung – đơn vị MN Mỹ Bình
trình bày ca khúc Về miền Tây

Kết quả, Ban Tổ chức trao 1 giải nhất, 2 giải nhì, 2 giải ba và 11 giải khuyến khích. Thí sinh Nguyễn Thị Thanh Nhàn - đơn vị Trường THCS Hòa Thành xuất sắc vượt qua 39 thí sinh giành giải nhất hội thi. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao giải duyên dáng cho thí sinh Nguyễn Thúy Vy – đơn vị xã Mỹ Thạnh Bắc.

13-1-2020 Sau 2 ngày thi diễn hội thi thành công tốt đẹp.jpg

Ban Tổ chức trao giải cho các thí sinh

Hội thi Tiếng hát công nhân, viên chức, lao động lần này đã tạo không khí vui tươi, bổ ích cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện nhân dịp Tết cổ truyền Xuân Canh Tý năm 2020. Đồng thời, đây còn là sân chơi lành mạnh, tạo điều kiện để cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động có dịp được giao lưu, học hỏi, trau dồi năng khiếu ca hát, qua đó góp phần thúc đẩy phong trào văn nghệ quần chúng trên địa bàn huyện./.

Tiến Hữu

15/01/2020 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Tháng Giêng - mùa lễ hộiTháng Giêng - mùa lễ hội

 

Mỗi năm, cứ sau cái Tết Nguyên Đán là cả nước bắt đầu bước vào mùa lễ hội, mùa của các cơ sở tín ngưỡng dân gian như đình, chùa, miếu, lăng… tổ chức các lễ chính trong năm, mùa của những phong tục, lễ nghi truyền thống giàu tính nhân văn được tổ chức. Bởi thế cho nên dân gian có câu “tháng Giêng là tháng ăn chơi”….

Quả thật vậy, trên địa bàn tỉnh Long An, với con số 13 ngôi đình, 09 ngôi chùa và 08 ngôi đền, miếu được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cùng với con số không nhỏ cơ sở tín ngưỡng còn lại đều có lễ cúng diễn ra trong tháng giêng. Chẳng hạn, ở huyện Châu Thành, hàng năm vào ngày 15-16 tháng giêng, nhân dân trong vùng nô nức kéo nhau đến đình Tân Xuân tọa lạc tại thị trấn Tầm Vu để cúng đình và tham dự Lệ Làm Chay. Lệ Làm Chay hay còn gọi là Lễ Trai Đàn đã có từ hơn 100 năm trước với ý nghĩa cúng tế các chiến sĩ trận vong, anh hùng liệt sĩ, những người đã đóng góp xương máu mình cho Tổ quốc được độc lập tự do. Ngày nay, tính chất Lệ Làm Chay có mở rộng thêm là cúng cô hồn thập loại chúng sinh, đồng bào tử nạn, cầu cho “Quốc thái dân an”, “Phong điều vũ thuận”. Phần hội ngày càng phong phú với nhiều trò chơi dân gian và hiện đại thu hút đông đảo người dân tham dự. Con số vài chục ngàn người tham dự lễ hội Làm Chay đã nói lên được qui mô, sức thu hút và lan tỏa của lễ hội, đồng thời qua đó những giá trị lịch sử, văn hóa, tinh thần cố kết cộng đồng, các giá trị truyền thống tốt đẹp được chuyển tải đến mọi tầng lớp nhân dân. Đây là một trong số ít lễ hội đáp ứng được nhu cầu tham quan học hỏi, giáo dục các giá trị truyền thống, thỏa mãn nhu cầu tâm linh và vui chơi giải trí của nhân dân.

 Tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, di tích lịch sử cấp quốc gia Đình Vĩnh Phong tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 17-18 tháng giêng âm lịch. Đây là lễ hội dân gian lớn nhất tại huyện Thủ Thừa, mục đích của lệ cúng Kỳ yên là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân dân an cư lạc nghiệp, đem lại an lành cho mọi gia đình. Vì tính cố kết cộng đồng và nhân văn sâu sắc của lễ hội nên tất cả mọi người đều đến chung lo, góp công góp của cho ngày lễ. Đặc biệt, lễ Kỳ yên đình Vĩnh Phong có nghi thức nghinh sắc rất long trọng.

Lễ hội Miếu bà Ngũ hành xã Long Thượng, huyện Cần Đước còn  được gọi là lễ vía Ngũ hành nương nương. Lễ diễn ra vào ngày 17-18 tháng giêng hàng năm, được tổ chức long trọng với các nghi thức và nghệ thuật diễn xướng dân gian như: chầu mời, thỉnh bà, dâng bông, dâng mâm, bán lộc, hát chặp Địa Nàng… Đặc biệt, màn hát chặp Địa Nàng là một tiết mục bóng tuồng hài hước đáng chú ý nhất trong các tiết mục hát bóng rỗi, ý nghĩa, nội dung của tiết mục này là cầu an cho dân chúng, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Lễ vía bà Ngũ hành nương nương hàng năm thu hút vài chục ngàn lượt người từ khắp nơi đến dự.

Và còn nhiều nữa những lễ hội ở các đình khác như  lễ Kỳ yên ở đình Bình Nhựt(xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức) vào ngày 16 tháng giêng, lễ Kỳ yên ở đình Chánh Tân Kim(xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc), đình Phước Lý (xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc) diễn ra vào vào ngày 16-17 tháng giêng âm lịch. … Điểm qua một số lễ hội tiêu biểu để thấy rằng hầu hết các lễ Kỳ yên ở các đình đều diễn ra trong tháng giêng.

Với Phật giáo, rằm tháng giêng còn được gọi là Tết Nguyên Tiêu. Trong truyền thống Phật giáo Nam tông đây là lễ hội Cúng Dường Đức Phật đầu năm, cầu mong sự an lành, hạnh phúc, cầu cho quốc thái dân an. Vì thế, trong dịp này đông đảo người dân đến chùa bái Phật, tham dự nhiều nghi thức phật giáo và thực hành nhiều việc thiện… Hình ảnh đông đảo phật tử, nhân dân đến chùa cúng bái, chiêm ngưỡng vào ngày rằm tháng giêng đã trở nên quen thuộc, gần gũi và trở thành nét văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng.

Lễ hội thật sự đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa cộng đồng, thỏa mãn được nhu cầu hưởng thụ, sinh hoạt  văn hóa và tâm linh. Vì thế, mọi người dân, đặc biệt là các cấp, các ngành chức năng hãy cùng nhau chung tay gìn giữ những nét đẹp truyền thống, loại bỏ những tiêu cực, biến tướng, hạn chế và những yếu tố không còn phù hợp… để lễ hội luôn giữ đúng bản sắc vốn có, phát huy những giá trị tốt đẹp, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, để tháng giêng mãi là mùa lễ hội, mùa của niềm vui, anh lành và hạnh phúc!

Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

Ảnh: Lệ làm Chay, Đình Tân Xuân, Vía bà Ngũ hành, lễ Kỳ yên ở đình Chánh Tân Kim, đình Phước Lý, đình Tân Phước Tây, chùa Kim Cang, Tôn Thạnh…

 

 

 

Cúng Kỳ yên ở đình Tân Phước Tây, Tân Trụ

            

Cúng Chiêu U đường bộ                                            Cúng Chiêu U đường sông

 

 

Các trò chơi dân gian trong lễ hội Làm Chay huyện Châu Thành

                                                                 Hồ Phan Mộng Tuyền - Văn Ngọc Bích

29/05/2013 7:15 SAĐã ban hànhApproved
Di chỉ khảo cổ học Lò Gạch được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóaDi chỉ khảo cổ học Lò Gạch được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa

Ngày 2 tháng 04 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ký Quyết định số 1101/QĐ- UBND, xếp hạng di chỉ khảo cổ học Lò Gạch (xã Vĩnh Trị, huyện Vĩnh Hưng). Đây là một di tích có giá trị lớn về mặt khoa học ở Nam Bộ, Việt Nam.

Di tích khảo cổ học Lò Gạch tọa lạc trên vùng trũng thấp của vùng Đồng Tháp Mười, được phân bố ở bờ phải sông Vàm Cỏ Tây (thuộc đoạn sông gọi tên là Lò Gạch), trên một gò đất cao khoảng 4m so với mặt đất tự nhiên, có diện tích 7.802m2. Địa danh Lò Gạch không rõ có từ bao giờ, chỉ biết rằng nơi đây xưa có nhiều lò gạch, chuyên sản xuất gạch, sành sứ… Có lẽ tên gọi Lò Gạch được lưu truyền từ đó. Trong lòng di tích chứa đựng những bí ẩn về một nền văn hóa cổ từ nhiều ngàn năm trước, được các nhà khảo cổ phát hiện và khám phá qua các lần thám sát và khai quật. Kết quả thám sát Lò Gạch vào năm 2003, năm 2012, và đặc biệt là cuộc khai quật vào năm 2005, đã phát hiện trong lòng di chỉ này 23 cụm gốm với hàng trăm ngàn mảnh gốm và hàng trăm hiện vật khảo cổ, 13 cụm xương và răng động vật cổ, 4 cụm di tích bếp, 2 cụm di tích đống nguyên liệu làm gốm, cụm di tích lò nung gốm. Các nhà khảo cổ nhận định địa điểm này có thể liên quan đến lò nung của một kiểu nung gốm ngoài trời mà cư dân Lò Gạch xưa đã sử dụng trong một thời gian dài, liên tục. Về hiện vật được phát hiện ở đây thì rất phong phú về chất liệu và đa dạng về loại hình. Qua thống kê có đến 378 hiện vật. Trong đó có 153 hiện vật gốm (thuộc loại hình như nồi, lọ, bình, dọi xe sợi…), 40 hiện vật đá (thuộc loại hình rìu, khuôn đúc, bàn mài, vòng tay..) và 176 hiện vật bằng xương, sừng (thuộc loại hình rìu, cuốc, mũi tên, mũi nhọn, bùa đeo, vòng tay…) cùng 9 hiện vật có chất liệu bằng sắt. Những hiện vật trên đã phản ánh phần nào về đời sống sinh hoạt của cộng đồng cư dân Lò Gạch xưa, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động săn bắt, chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp.

Các nhà khảo cổ nhận định Lò Gạch là di chỉ cư trú của cư dân thời đại kim khí (giai đoạn muộn), cách ngày nay 3.000- 2.200 năm. Nơi đây, cộng đồng cư dân cổ đã có quá trình sinh sống lâu dài khoảng 1.000 năm, với những hoạt động kinh tế- văn hóa phong phú, có mối quan hệ với các cộng đồng cư dân cổ khác ở Đông và Tây Nam Bộ. Nghiên cứu và bảo tồn di chỉ Lò Gạch sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ di chỉ và văn hóa cổ đại của Nam Bộ, Việt Nam trong đó có lịch sử cổ đại của tỉnh nhà.

                   Một số hình ảnh liên quan đến di tích khảo cổ học Lò Gạch

Toàn cảnh di tích khảo cổ học Lò Gạch

 

 Rìu - Bàn mài đá

 

Rìu - Bàn mài đá 2

 

Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên

 

Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên 2

 

 Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên 3

 

Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên 4

                                                                                                           Đỗ Thị Lan
14/05/2013 2:27 SAĐã ban hànhApproved
Bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa về Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Long An để phục vụ công tác giáo dục truyền thốngBảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa về Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Long An để phục vụ công tác giáo dục truyền thống

Bảy mươi mốt năm đã trôi qua nhưng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) vẫn còn để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Trên mảnh đất Long An (vào thời điểm 1940 là tỉnh Tân An và tỉnh Chợ Lớn), những chứng tích về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn còn hiện hữu như nhắc nhở cho chúng ta một giai đoạn lịch sử hào hùng và oanh liệt của các thế hệ người đi trước.

Khởi nghĩa Nam Kỳ là biểu hiện cụ thể cho truyền thống yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cuộc khởi nghĩa còn là quy luật tất yếu của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp mỗi khi tình thế và thời cơ cách mạng đã đến gần. Mặc dù thực dân Pháp và tay sai đã tăng cường bộ máy cai trị phản động, dùng mọi thủ đoạn dã man, tàn bạo để đàn áp, đối phó với phong trào cách mạng nhưng chúng không thể nào ngăn nổi sự vùng dậy đòi quyền sống của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, trực tiếp là tỉnh ủy Tân An và tỉnh ủy Chợ Lớn, nghĩa quân và nhân dân 2 tỉnh đã nhất tề nổi dậy trừng trị bọn tay sai, đánh chiếm đồn bót, nhà việc, đốt hết sổ sách. Trong 128 làng của 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn, 94 làng có kế hoạch khởi nghĩa, trong đó có 48 làng thực hiện được kế hoạch. Có khoảng 1400 nghĩa quân và 30.000 quần chúng đã tham gia khởi nghĩa. Nghĩa quân đã tiến công 12 đồn bót, chiến nhà việc và treo cờ búa liềm ở 49 làng, trừng trị 49 tên tay sai, thu 52 súng các loại. Sau khởi nghĩa, nghĩa quân tiếp tục lập 6 lõm căn cứ  trong đó có căn cứ Mớp Xanh tiếp tục hoạt động vũ trang, duy trì chiến đấu, diệt 68 tên địch, làm bị thương 70 tên, thu 30 súng các loại.

Trong quá trình khởi nghĩa, dù tình thế không thuận lợi do không phối hợp được với lực lượng khởi nghĩa chủ yếu ở Sài Gòn nhưng lực lượng khởi nghĩa ở Tân An và Chợ Lớn đã nêu cao tinh thần kỷ luật, quyết tâm thực hiện đúng nghị quyết của Xứ ủy và kế hoạch. Thực dân Pháp đã tiến hành đàn áp khốc liệt cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ở 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn, chúng đã đốt hơn 300 ngôi nhà, giết hại hàng trăm dân thường. Ở Giồng Cám (xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa), chúng đã bắn chết 17 người, vùi xác xuống 1 con mương. Gia đình ông Huỳnh Văn Bài (cha đồng chí Huỳnh Văn Một) bị chúng đốt nhà, tàn sát cả 7 người rồi tưới xăng thiêu cháy. Cho đến tháng 1/1941, chúng đã bắt 421 người ở tỉnh Tân An và 522 người ở tỉnh Chợ Lớn và đày Tà Lài, Côn Đảo hoặc kết án tử hình 132 người. Cũng tại 2 tỉnh này, chúng đã lập 11 mô bắn sát hại nhiều chiến sĩ cách mạng. Tại pháp trường của giặc, nhiều chiến sĩ cách mạng đã nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, oanh liệt hy sinh trong niềm tiếc thương của nhân dân và sự kính phục của kẻ thù như: Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Văn Dương….

Trong điều kiện cuộc khởi nghĩa không giành được thắng lợi và bị địch đàn áp, khủng bố, truy quét khốc liệt, nghĩa quân vẫn thành lập các lõm căn cứ nhằm duy trì chiến đấu và bảo tồn lực lượng. Điều này là bằng chứng hùng hồn về tinh thần cách mạng tiến công và quyết tâm chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng giải phóng dân tộc của Đảng. Hoạt động của nghĩa quân sau Khởi nghĩa Nam Kỳ ở các căn cứ mà tiêu biểu là căn cứ Mớp Xanh chính là tiền đề để cho vùng đất bưng biền này trở thành căn cứ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Tân An và Chợ Lớn là 2 trong 9 tỉnh ở Nam Kỳ khởi nghĩa sớm và mạnh mẽ nhất trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuộc khởi nghĩa ở 2 tỉnh này đã góp phần làm rung chuyển bộ máy cai trì ở thuộc địa mà thực dân Pháp đã dựng lên gần 8 thập kỷ kể từ khi chúng nổ súng xâm lược nước ta. Là cuộc tập dượt sử dụng bạo lực vũ trang cách mạng, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là tiếng sấm rền báo hiệu cho cơn bão táp Cách mạng Tháng Tám quét sạch bọn xâm lược và bè lũ tay sai 5 năm sau đó. Đánh giá công trạng và thành tích của đội quân khởi nghĩa Nam Kỳ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 163-SL, ngày 14/4/1948 tặng thưởng Huân chương Huân công hạng nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ”. Trong niềm tự hào chung ấy, có phần đóng góp xứng đáng của quân và dân 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn.

Hơn bảy mươi năm đã trôi qua nhưng lớp bụi thời gian vẫn không thể xóa nhòa những sự kiện lịch sử oai hùng mà ông cha ta đã lập nên trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Những di tích về cuộc khởi nghĩa vẫn còn tồn tại như: Đài xử bắn các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa ở sân banh Cần Giuộc và Ngã tư Đức Hòa, địa điểm nghĩa quân quận Đức Hòa diệt tên Quản Nên và Bếp Nhung ở Giồng Cám, địa điểm Mớp Xanh-nơi  nghĩa quân  lập căn cứ để bảo tồn lực lượng và tiếp tục chiến đấu với kẻ thù. Để bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích này, phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân, Sở Văn hóa-Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tiến hành nghiên cứu, lập hồ sơ trình các cấp có thẩm quyền ra quyết định xếp hạng. Trong đó, di tích sân banh Cần Giuộc (địa điểm thực dân Pháp xử bắn đồng chí Nguyễn Thị Bảy và 4 chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Cần Giuộc) và Giồng Cám (nơi nghĩa quân quận Đức Hòa diệt Quản Nên, Bếp Nhung và là nơi thực dân Pháp giết 17 thường dân, vùi chung xác xuống mương) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Đài xử bắn Đức Hòa nằm trong quần thể di tích Ngã tư Đức Hòa và căn cứ Mớp Xanh (tiền thân của căn cứ Bình Thành) đã được Bộ văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia. Các công trình trùng tu tôn tạo đã được Ủy ban nhân dân tỉnh đầu tư kinh phí xây dựng tại  những di tích này. Tại Giồng Cám và Sân banh Cần Giuộc, bia lưu niệm sự kiện lịch sử đã được xây dựng. Đài xử bắn tại di tích Ngã tư Đức Hòa sẽ được phục hồi trong giai đoạn 2 của dự án trùng tu, tôn tạo di tích Đức Hòa. Tại Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh (căn cứ Bình Thành), hạng mục Nhà truyền thống đang được xây dựng. Trong nội dung trưng bày của Nhà truyền thống, sẽ có một phần trang trọng để trưng bày những hình ảnh, tư liệu, hiện vật về căn cứ Mớp Xanh.

Cùng với các công trình lịch sử bằng chữ viết, các di tích lịch sử văn hóa nói trên sẽ là “cuốn sử sống” phản ánh sinh động cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trên mảnh đất Tân An, Chợ Lớn năm xưa. Với ý nghĩa ấy, sau khi được trùng tu, tôn tạo, các di tích lịch sử-văn hóa về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ-thế hệ tương lai của đất nước.
                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

26/06/2012 1:40 SAĐã ban hànhApproved
THỦ THỪA TIẾP TỤC ĐOẠT GIẢI NHẤT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ THỦ THỪA TIẾP TỤC ĐOẠT GIẢI NHẤT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ

Sau 3 đêm tranh tài, Hội thi Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An lần thứ 2 thành công tốt đẹp. Chung kết diễn ra vào đêm 31/7.

31-7-2020 Hội thi Đòn ca tài tử (28).JPG

Ban Tổ chức tặng hoa cho các nghệ nhân đờn tại Hội thi

Các tiết mục dự thi năm nay được đánh giá phong phú và có nâng cao về chất lượng, được chuẩn bị chu đáo. Thí sinh thể hiện tốt năng lực nghệ thuật của mình, nhiều bài bản truyền thống, bài bản tổ được thể hiện khá tốt. Đặc biệt, số lượng tài tử đờn tham gia phần thi độc tấu tăng cao. Các thí sinh tham gia đa dạng về độ tuổi, có nhiều nhân tố trẻ.

31-7-2020  Hội thi Đòn ca tài tử (21).JPG

Tiết mục độc tấu đoạt giải nhất tại Hội thi

Hội thi năm nay có sự tham gia của 160 thí sinh với 138 tiết mục đờn, ca về chủ đề ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh liệt sĩ cũng như những thành tựu về kinh tế, xã hội, phong trào xây dựng nông thôn mới. Sau thời gian tranh tài, Ban giám khảo chọn ra 33 tiết mục vào đêm chung kết.

31-7-2020 Hội thi Đòn ca tài tử (3).JPG

Ban Tổ chức trao giải cho các tiết mục độc tấu

Kết thúc hội thi, huyện Thủ Thừa đoạt giải Nhất toàn đoàn. Ban Tổ chức cũng trao 2 giải Nhất, 3 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi Bài bản tài tử; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi độc tấu; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi nhịp 16; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba cho phần thi vọng cổ nhịp 32; 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 2 giải Ba cho phần thi các bài Ngự.

Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao giải cho các tiết mục chủ đề Nông thôn mới, chủ đề về Mẹ, Bác Hồ, thương binh liệt sĩ,… cùng các giải dành cho thí sinh nhỏ tuổi nhất, lớn tuổi nhất và tác phẩm sáng tác về nông thôn mới hay nhất./.

Theo Báo Long An Online

http://baolongan.vn/thu-thua-tiep-tuc-doat-giai-nhat-hoi-thi-don-ca-tai-tu-a99679.html

01/08/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Khánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà TrưngKhánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng

Ngày 21/3/2018, Huyện ủy, HĐND, UBND, Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Cần Giuộc phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An long trọng tổ chức Lễ khánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng và khai mạc Lễ Kỳ yên năm 2018.

Đến tham dự lễ có ông Nguyễn Văn Tâm, Trưởng phòng Quản lý văn hóa và ông Nguyễn Tấn Quốc, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa; bà Nguyễn Thị Sáu, Phó Giám đốc Bảo tàng Long An; ông Nguyễn Văn Thiệp, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc; ông Nguyễn Phước Hùng, Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện Cần Giuộc, cùng các đồng chí nguyên lãnh đạo huyện Cần Giuộc qua các thời kỳ và đông đảo bà con nhân dân.

23-3-2018 Ông Nguyễn Văn Thiệp Bí thư Huyện ủy huyện Cần Giuộc phát biểu tại buổi lễ.jpg

Ông Nguyễn Văn Thiệp, Tỉnh ủy Viên, Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc phát biểu tại buổi lễ

Miếu Hai Bà Trưng là ngôi miếu thờ Ngũ Hành của cư dân quanh vùng, khoảng đầu thế kỷ XX, họ Đoàn ở Lộc Trung xây dựng lại và thay đổi đối tượng thờ cúng từ Ngũ Hành sang Hai Bà Trưng để duy trì ngọn lửa đấu tranh của nhân dân đối với thực dân Pháp xâm lược. Với vị trí thuận lợi về địa hình, lại nằm ở trung tâm xã Mỹ Lộc nên khu vực miếu đã được các chiến sĩ ta như: Đại đội 316, lực lượng Y4, Tiểu đoàn Phú Lợi, Tiểu đoàn Đồng Nai,… sử dụng làm địa hình chiến đấu và trú ẩn trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngoài ra, Miếu Hai Bà Trưng còn gắn liền với sự ra đời của tổ chức Thanh niên Tiền Phong Mỹ Lộc cũng như địa điểm tập hợp lực lượng thanh niên nhập ngũ để đưa lên căn cứ ở Ba Thu. Đây cũng là nơi tập hợp của bà con nhân dân trong các cuộc biểu tình chống thực dân, đế quốc đòi quyền dân tộc, dân chủ, dân sinh…

23-3-2018 Toàn cảnh Miếu Hai Bà Trưng ngày khánh thành.jpg

Toàn cảnh Miếu Hai Bà Trưng ngày khánh thành

Có thể nói đây là một trong những cơ sở tín ngưỡng thờ Hai Bà Trưng hiếm hoi trên đất Long An, nêu cao tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc mà Hai Bà Trưng là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo. Với những giá trị về văn hóa, lịch sử, Miếu Hai Bà Trưng đã được UBND tỉnh Long An công nhận là di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 3404/QĐ-UBND ngày 13/10/2014.

23-3-2018 Đại biểu các cấp và bà con nhân dân vui mừng đến tham dự tại lễ khánh thành.jpg

Đại biểu các cấp và bà con nhân dân vui mừng đến tham dự tại lễ khánh thành

   Tuy nhiên, trải qua thăng trầm của thời gian, chiến tranh… Di tích Miếu Hai Bà Trưng bị xuống cấp cần được trùng tu, tôn tạo. Được sự quan tâm của UBND tỉnh Long An, sự quyết tâm của Huyện ủy, UBND huyện Cần Giuộc, sau hơn 01 năm thi công, công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng đã nghiệm thu đưa vào sử dụng. Di tích có tổng diện tích 674 m2 bao gồm các hạng mục công trình như: Nhà chính 01 trệt, 01 lầu với kết cấu mái ngói, nền lát gạch Ceramic, sân đường, nhà vệ sinh,… Công trình do Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện làm chủ đầu tư, tổng mức đầu tư là 1.795.267.000 đồng; trong đó huyện hỗ trợ 1.000.000.000 đồng, xã vận động xã hội hóa 626.701.000 đồng, giá trị còn lại cần vận động thêm là 168.566.000 đồng. Trong thời gian tới, huyện cùng địa phương tiếp tục vận động kinh phí để thực hiện các hạng mục còn lại như: Hàng rào, tráng sân, nhà bếp… Trong tương lai, Miếu Hai Bà Trưng sẽ khang trang hơn xứng tầm với Di tích lịch sử cấp tỉnh.

23-3-2018 Gian thờ chính tại Miếu Hai Bà Trưng.jpg

Gian thờ chính tại Miếu Hai Bà Trưng

23-3-2018 Mâm lễ vật.jpg

Mâm lễ vật

 Lễ khánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng và khai mạc Lễ Kỳ yên năm 2018 đã thành công tốt đẹp, thu hút đông đảo người dân đến tham dự, chiêm bái, cầu mong quê hương một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

                                       Hồ Phan Mộng Tuyền (Ban QLDTLSVH)

05/04/2018 2:00 CHĐã ban hànhApproved
PHÚC TRA XÃ VĂN HÓA – XÃ LONG ĐỊNH, TÂN ÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚCPHÚC TRA XÃ VĂN HÓA – XÃ LONG ĐỊNH, TÂN ÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC

 

Thực hiện công văn số 1015/UBND-VX ngày 25/3/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An về việc tổ chức phúc tra xã đạt chuẩn văn hóa, ngày 08/4/2015 Đoàn phúc tra của tỉnh do đồng chí Phạm Văn Trấn – Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch làm Trưởng đoàn đã đến làm việc với Ban Chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (TDĐKXDĐSVH) huyện Cần Đước và 02 xã Long Định, Tân Ân (huyện Cần Đước).

P_20150408_104757_LL.jpg

Đoàn phúc tra tỉnh làm việc với Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa huyện Cần Đước và xã Long Định

Trên cơ sở hồ sơ phát động xây dựng xã văn hóa, báo cáo kết quả thực hiện, bản tự chấm điểm, tài liệu liên quan của địa phương, cơ sở; Đoàn tổ chức phúc tra chấm điểm, công bố điểm và biên bản nhận xét đánh giá. Nhìn chung phong trào TDĐKXDĐSVH và mô hình xây dựng xã văn hóa đã được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, UBND huyện Cần Đước và sự phấn đấu không ngừng của cả hệ thống chính trị và nhân dân 02 xã đã mang lại những kết quả khả quan góp phần tạo sự chuyển biến rõ rệt bộ mặt ở nông thôn. Cụ thể:

Xã Long Định: Thời gian qua xã đã tập trung vận động xây dựng 10 căn nhà tình thương, 04 nhà đại đoàn kết, sửa chữa 02 căn nhà gia đình chính sách,… góp phần nâng tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố hoặc bán kiên cố đạt tỷ lệ 100% (2760/2760 hộ). Thu nhập bình quân đầu người 47 triệu đồng/người/năm cao hơn bình quân của huyện. Tình hình an ninh chính trị được giữ vững. Phong trào Dân số - Kế hoạch hóa gia đình hàng năm đều đạt loại xuất sắc. Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, nhà tiêu hợp vệ sinh đạt trên 90%. Có 100 % đạt danh hiệu ấp văn hóa, xây dựng và thực hiện tốt quy ước ấp văn hóa,…

Xã Tân Ân: Tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đời sống của người dân được nâng cao, kinh tế phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt (năm 2011 là 7,31%, năm 2014 là 3,13. Hoạt động khuyến học, khuyến tài được quan tâm và phát triển ngày càng tốt hơn. Nhìn chung, xã Tân Ân đã hoàn thành hầu hết các tiêu chí xây dựng xã văn hóa, nhiều phong trào quần chúng nổi bật, góp phần thúc đẩy kinh tế - văn hóa – xã hội của xã phát triển bền vững.

Căn cứ nội dung tiêu chí chấm điểm, đánh giá theo Quy chế công nhận danh hiệu phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 3082/QĐ-UBND ngày 01/10/2012 của UBND tỉnh; công văn số 3510/UBND-VX ngày 01/10/2012 của UBND tỉnh hướng dẫn thang điểm thi đua – khen thưởng phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012-2015, Đoàn phúc tra tỉnh thống nhất chấm điểm cho 02 xã như sau: Xã Long Định 96,5 điểm; xã Tân Ân 99 điểm. Như vậy xã Long Định và xã Tân Ân (huyện Cần Đước) đạt danh hiệu "Xã văn hóa năm 2015". Tuy nhiên, qua phúc tra tại 02 xã cho thấy một vài tiêu chí chưa đạt kết quả như mong muốn và vẫn còn những hạn chế, tồn tại như ở Long Định: Cảnh quan môi trường chưa thật sự xanh, sạch, đẹp (nhất là gần các khu công nghiệp); có 02 ấp chưa xây dựng Nhà Văn hóa – Khu Thể thao; Trung tâm Văn hóa – Thể thao và Học tập cộng đồng chưa được đầu tư xây dựng (còn sử dụng hội trường của UBND xã để hoạt động) nên chưa đảm bảo các hoạt động diễn ra liên tục. Xã Tân Ân: Chất lượng hoạt động các thiết chế văn hóa thể thao xã, ấp chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của người dân,…

Để xã Long Định và xã Tân Ân huyện Cần Đước là xã văn hóa có tính bền vững, đồng chí Phạm Văn Trấn – Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị UBND huyện, Đảng ủy, chính quyền cần quan tâm, phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng xã văn hóa. Bên cạnh đó, 02 xã cần tiếp tục thực hiện và không ngừng phát huy tốt các tiêu chí đã đạt được, kịp thời khắc phục những khó khăn, hạn chế tồn tại để xứng đáng với danh hiệu xã văn hóa./.

                                                                                   Bài, ảnh: TRẦN THỊ HẠNH

                                                                                        (Phòng Xây dựng nếp sống văn hóa và gia đình)

17/04/2015 11:00 SAĐã ban hànhApproved
HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC

Hội thi chưng mâm ngũ quả và bình bông thờ cúng gia tiên do Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức mừng Xuân Canh Tý 2020 đã góp phần giữ gìn nét truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tham gia hội thi, các xã, thị trấn đã mang đến những tác phẩm nhiều màu sắc, có sự sáng tạo, độc đáo trong cách trình bày và lựa chọn nguyên liệu. Những loại trái cây quen thuộc tượng trưng cho thành quả lao động cả năm của con cháu như dưa hấu, mãng cầu, dừa, bưởi, xoài,... được tạo dáng rồng, phụng, trang trí đèn led, dây chốp tắc khá công phu; hay các loại hoa với sự kết hợp nghệ thuật tạo hình và sự sáng tạo tạo nên những tác phẩm đẹp, tinh tế với ý nghĩa thể hiện tấm lòng và sự tưởng nhớ công ơn tổ tiên, cầu mong những điều tốt đẹp và may mắn trong năm mới.

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Dinh-1.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Định

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Huu Dong.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Hựu Đông

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Tan An.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Tân Ân

31-1-2020 trao giai cho cac don vi du thi.jpg

Ban tổ chức trao giải cho các đơn vị dự thi

Ban Tổ chức đã trao giấy khen của Chủ tịch UBND huyện cho 2 giải nhất, 2 giải nhì, 4 giải ba; giấy khen của Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện cho 6 giải khuyến khích. Qua hội thi nhằm duy trì nét văn hóa đặc trưng ngày Tết của người Việt, đồng thời thể hiện sự thành kính hướng về tổ tiên và ước mong một năm mới an khang và hạnh phúc./.

Cẩm Tú

03/02/2020 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Góp phần tìm hiểu lai lịch Thần được thờ tại Đình Phước LýGóp phần tìm hiểu lai lịch Thần được thờ tại Đình Phước Lý
Đình Phước Lý tọa lạc cách hương lộ 835B khoảng 100m về phía Đông Nam, thuộc địa phận ấp Phước Lý, xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Đình không có sắc thần và được xây dựng từ thời điểm nào, đến nay chưa ai biết được một cách chính xác. Theo các bậc cao niên trong Ban quản trị, ngôi đình đầu tiên được xây dựng trên phần đất do ông Hồ Văn Nhi hiến. Cháu nội ông Hồ Văn Nhi là Hồ Văn Vĩnh đến nay cũng đã ngót 100 tuổi. Vì thế, có thể đoán đình Phước Lý được xây dựng cách nay khoảng 150 năm

        Đối với người Việt Nam, đình làng là một phần không thể thiếu của quê hương đất nước. Mái đình cổ kính rêu phong đã chứng kiến bao sự kiện lịch sử, bao nỗi thăng trầm của một cộng đồng dân cư. Đình làng còn nỗi nhớ niềm mong của những đứa con xa xứ khi có một ngày thả hồn về quê hương bản quán. Ngôi đình hết sức gần gũi nhưng cũng rất thiêng liêng, bởi lẽ đây là nơi bao thế hệ cha ông ta đã đem hết lòng thành thờ cúng vị thần bảo hộ cho thôn xã của mình. Trong quá trình Nam tiến, khi đã ổn định đời sống, người Việt tiến hành dựng chùa thờ Phật và lập đình để thờ thần cùng những vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ dưới những hình thức phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện sống mới. Vì thế, lai lịch các vị thần được thờ trong đình cũng rất đa dạng, bao gồm cả nhân thần và nhiên thần. Ở phương nam, vị thần được thờ ở trong đình đa số là Thành Hoàng bổn cảnh, còn lại là nhân thần, nhưng rất hiếm hoi. Với các vương triều phong kiến, thần Thành Hoàng của làng được xem như là người thay mặt triều đình, thay mặt cho nhà vua để coi sóc 1 vùng đất cụ thể tương đương với một đơn vị hành chánh cơ sở (thôn, phường, lân, ấp). Bởi thế, Thành Hoàng bổn cảnh của một làng thường được vua công nhận bằng một sắc phong mà dân gian quen gọi là sắc thần. Tuy nhiên, Thành Hoàng bổn cảnh là một danh hiệu tượng trưng, nên không có lai lịch cụ thể. Một số ít đình còn lại thờ nhân thần và nhiên thần nhưng đa số đều không có thần phả. Vì thế, những hiểu biết của nhân dân về lai lịch vị thần của làng mình còn rất hạn chế. Đây cũng chính là trường hợp vị thần được thờ tại đình Phước Lý. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đưa ra vài kiến giải để góp phần làm sáng tỏ lai lịch của vị thần nêu trên.

 

 

        Đình Phước Lý tọa lạc cách hương lộ 835B khoảng 100m về phía Đông Nam, thuộc địa phận ấp Phước Lý, xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Đình không có sắc thần và được xây dựng từ thời điểm nào, đến nay chưa ai biết được một cách chính xác. Theo các bậc cao niên trong Ban quản trị, ngôi đình đầu tiên được xây dựng trên phần đất do ông Hồ Văn Nhi hiến. Cháu nội ông Hồ Văn Nhi là Hồ Văn Vĩnh đến nay cũng đã ngót 100 tuổi. Vì thế, có thể đoán đình Phước Lý được xây dựng cách nay khoảng 150 năm. Cho đến nay, đình Phước Lý đã được trùng tu nhiều lần. Ban đầu, đình được xây cất bằng tre lá, quy mô nhỏ. Sau đó vài chục năm, đình được mở rộng với cột gỗ, mái ngói, vách ván. Khoảng năm 1920-1930, nhân dân trong vùng đã đóng góp kinh phí để dựng thêm võ ca và nhà hậu sở. Năm 1950, vách gỗ của chánh điện được thay bằng vách tường, bàn thờ thần nông cũng được xây mới bằng bê tông. Vào những năm 1991-2007, toàn bộ kết cấu gỗ của đình Phước Lý (trừ đòn tay, rui, mè) đều được thay thế bằng bê tông. Tuy nhiên, đình vẫn còn giữ được mái ngói âm dương và kiểu dáng kiến trúc đình làng cổ truyền.

        Hiện tại, trên bình đồ, đình Phước Lý có 3 lớp nhà là: võ ca, chánh điện và hậu sở, sắp xếp theo kiểu chữ tam, mặt chính diện quay về phía Đông Nam. Bên trong chánh điện có bàn thờ thần ở chính giữa, bàn thờ tả ban, hữu ban ở hai bên và bàn thờ Tiên sư, Tiền hiền, Binh đinh. Bàn thờ thần có tôn trí chữ Thần bằng chữ hán, một mũ cánh chuồn màu đỏ và một cặp kiếm. Mũ và kiếm này đã có từ lâu đời nhưng bị hư hỏng do thời gian  nên đã được hương chức các thời kỳ đã thay thế bằng đồ tân tạo. Về lai lịch vị thần được thờ trong đình, các bậc cao niên trong ban quản trị cũng không nắm được rõ ràng. Theo ông bà truyền lại, khu đất xây dựng đình ngày xưa thuộc sở hữu của ông Hồ Văn Nhi, nhưng chưa được canh tác mà mọc đầy cỏ cây hoang dại, nhất là lức và ráng. Hôm nọ, có một người làm ruộng đi ngang qua đây, bị chột bụng mới ghé vào đại tiện. Khi về nhà, người này bị phát bệnh nặng, được thân nhân thuốc men, chạy chữa nhưng không thuyên giảm. Vì thế, gia đình mới rước thầy về đạp đồng xem bệnh. Có người nhập vào xác đồng nói rằng, khu đất hoang nói trên là chỗ thần nhân trú ngụ, người nào dám xúc phạm thì phải chết. Ba ngày sau, người bị bệnh qua đời. Vì thế, hương chức trong làng mới lập miễu thờ thần tại khu đất hoang của ông Hồ Văn Nhi. Ban đầu, dân làng chỉ cúng thần có một lệ vào ngày 16 và 17 tháng giêng âm lịch. Đến lần cúng thứ ba, có một vị hương chức uống rượu vào bỗng nhiên được thần nhập xác, bảo dân làng phải cúng thêm 2 lệ nữa là Tống phong vào ngày 16 tháng 3 và Cầu bông vào ngày 16 tháng mười. Từ ngày đó, mỗi năm dân làng Phước Lý mới cúng thần 3 lệ, cho đến ngày nay.

        Qua lời kể của Ban quản trị đình, tuy mang nhiều yếu tố huyền bí, nhưng chứa đựng những điều cốt lõi như sau:

        - Đình Phước Lý hiện nay, ban đầu là một ngôi miếu thờ một vị thần không rõ lai lịch.

        - Ban đầu, dân làng cúng thần chỉ có một lệ vào ngày 16 và 17 tháng giêng.

        - Sau 3 năm, dân làng cúng thêm 2 lệ nữa là tống phong và cầu bông.

        Như vậy, với xuất phát ban đầu là một ngôi miếu, sau ba năm, miếu này được chuyển chức năng thành đình với 3 lệ cúng thuộc về lễ nghi nông nghiệp là Kỳ yên, Tống phong và Cầu bông. Tới đây, một câu hỏi được đặt ra là tại sao ngôi miếu lại được chuyển thành đình sau 3 năm. Tại sao lai lịch của vị thần thờ trong đình được lưu truyền đầy màu sắc mê tín, trong khi hầu hết những ngôi đình ở Nam Bộ đều thờ Thành Hoàng bổn cảnh hoặc một vị nhân thần, nhiên thần hữu danh nào đó. Dường như hương chức thời đó lo ngại khi phải công bố chính thức danh tánh vị thần được thờ trong đình của mình nên mới thêu dệt xung quanh lai lịch vị này những sắc màu huyền bí. Đây là những nghi vấn  mà chúng ta phải làm rõ trên con đường tìm hiểu lai lịch vị thần được thờ tại đình Phước Lý.

        Trước tiên, vị thần này không phải là Thành Hoàng bổn cảnh mà đình làng ở Long An nói riêng và Nam Bộ nói chung thường thờ. Thông thường, nếu vị thần được thờ có danh tánh hoặc mỹ hiệu vua phong, thì trong lệ cúng hàng năm người chủ tế phải đọc bài niệm hương phụng thỉnh thần (có danh tánh hoặc mỹ hiệu) về nhậm lễ. Trong khi đó, bài văn niệm hương trong lễ Kỳ yên đình Phước Lý do các đời trước truyền lại bằng văn bản không nói đến danh tánh của thần, trong khi các vị thần phối tự trong đình đều được nêu danh rất rõ. Vậy vị thần này là ai?  Qua nghiên cứu hệ thống thờ tự trong chánh điện đình Phước Lý, chúng tôi thấy có hai điều cần quan tâm. Một là bàn thờ thần có tôn trí mũ cánh chuồn và cặp kiếm đã có từ lâu đời (nay làm mới do vật xưa đã hư hỏng). Hai là trong các đối tượng được phối tự trong đình có các vị “Tiền binh đinh hữu công” (tạm hiểu là những binh sĩ có công trước đây). Qua đó, chúng tôi cho rằng vị thần được thờ tại đình Phước Lý là một nhân thần mà sinh tiền từng đảm nhiệm cả chức quan văn lẫn quan võ. Tiếp tục tra cứu những sử liệu có liên quan đến Phước Lý, được biết vào ngày 17/02/1859, thành Gia Định bị thực dân Pháp đánh chiếm, vị tướng giữ thành là Tổng đốc Võ Duy Ninh đã cùng tướng sĩ lui về thôn Phước Lý, huyện Phước Lộc. Ngày hôm sau (18/02/1859), ông đã tuẫn tiết bằng cách thắt cổ bởi không làm tròn trách nhiệm giữ thành mà triều đình giao phó (*). Từ kết quả khảo sát và những sử liệu trên, chúng tôi cho rằng có thể vị thần được thờ tại đình Phước Lý chính là Tổng đốc Võ Duy Ninh. Ngày mất của ông (18/02/1859) quy ra  âm lịch chính là ngày 16 tháng giêng năm KMùi. Ngày này trùng hợp với ngày cúng Kỳ yên của đình Phước Lý. Thời điểm Võ Duy Ninh tuẫn tiết (năm 1859, cách nay đúng 150 năm) cũng trùng khớp với thời điểm ra đời của đình. Còn về những nghi vấn mà phần trên của bài viết đã nêu, chúng tôi xin lý giải bằng những giả thuyết như sau:

        - Khi Võ Duy Ninh tuẫn tiết tại thôn Phước Lý, nhân dân đã dựng lên một ngôi miếu để thờ ông. Mỗi năm miểu chỉ cúng có một lệ vào ngày ông mất (16 tháng giêng).

        - Sau khi cúng ông được 3 năm (1859-1861) thì thực dân Pháp đã công hãm đại đồn Chí Hòa, đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông, trong đó có xã Phước Lý ngày nay. Triều đình Huế phải ký hòa ước Giáp tuất, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, dưới sự cai trị của Pháp, nhân dân Phước Lý không thể công khai thờ cúng ông Võ Duy Ninh và ngôi miếu không còn lý do để tồn tại. Vì thế, từ năm thứ tư (1862), dân làng buộc lòng phải chuyển chức năng của nơi thờ ông Võ Duy Ninh từ miếu sang đình và đặt thêm 2 lệ cúng nữa là Tống phong và Cầu bông để Pháp khỏi nghi ngờ. Tuy nhiên, với lòng kính trọng người đã hy sinh vì nước, nhân dân Phước Lý vẫn bí mật thờ Võ Duy Ninh trong đình dưới hình thức một vị thần không rõ danh tánh. Các hương chức thời đó cũng dựng lên một bức màn huyền bí xung quanh lai lịch vị thần thờ trong đình để che dấu điều bí mật trên. Trải qua thời gian thực dân Pháp đô hộ ngót 1 thế kỷ, danh tánh của Võ Duy Ninh cũng bị quên lãng, các thế hệ sau không thể biết rõ về lai lịch vị thần thờ trong đình.

        Nhân đây, chúng tôi cũng cung cấp vài dòng tiểu sử của ông Võ Duy Ninh để ban đọc tiện theo dõi. Ông có tên tự là Trọng Chí, biệt hiệu là Trúc Nghiêm, sinh năm 1804 tại làng Đại An, xã Hành Phong, tỉnh Quảng Ngãi. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), ông đỗ cử nhân tại trường thi Gia Định và được bổ chức Hành tẩu Bộ Lại. Năm 1847, ông được thăng lên Bố chính Phú Yên. Năm 1852, ông được triều đình điều về làm Tham tri Bộ Lại. Năm 1858, mẹ ông mất. Vì thế, ông về quê cư tang 3 tháng theo quy định của triều đình. Sau khi chịu tang mẹ xong, vào tháng 11-1858, triều đình cử ông vào Nam giữ chức Hộ đốc thành Gia Định. Đầu năm 1859, ông được thăng làm tổng đốc Định Biên (2 tỉnh: Gia Định và Biên Hòa). Ông vừa nhậm chức được 2 ngày thì tàu của thực dân Pháp vào cửa Cần Giờ, nổ súng tấn công thành Gia Định. Ông đã chỉ huy quân sĩ chống giặc gần một tháng trời. Với sức mạnh về vũ khí, giặc Pháp đã phá được các pháo đài dọc sông và công hãm thành Gia Định. Trước tình thế nguy ngập, Võ Duy Ninh  chấn chỉnh đội ngũ và tinh thần binh lính, đồng thời hiệu triệu binh lính các tỉnh Nam Kỳ về cứu viện. Tuy nhiên, trước sức tấn công mãnh liệt của quân Pháp, thành Gia Định đã thất thủ ngày 17/02/1859. Thành mất, Võ Duy Ninh cùng binh sĩ chạy về thôn Phước Lý, huyện Phước Lộc (nay thuộc xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc) rồi tuẫn tiết tại đây vào ngày 18/02/1859.

        Tin thất thủ Gia Định bay về Huế, triều đình chiếu theo luật đã tước bỏ phẩm hàm Tổng đốc của Võ Duy Ninh. Nhờ Khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi khẩn thiết tâu bày, vua Tự Đức mới chấp thuận cho người vào Nam mang hài cốt Võ Duy Ninh về an táng tại xã Chánh Lộ (nay thuộc thành phố Quảng Ngãi). Mười tám năm sau (1867), Võ Duy Ninh mới được triều đình Huế khai phục chức Thị độc.

Trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế đã viết về Võ Duy Ninh như sau:”Ông là vị tướng lĩnh cao cấp hy sinh đầu tiên trong Nam thời giặc Pháp cướp nước ta”.

        Vị thần được thờ ở đình Phước Lý có phải chăng là Tổng đốc Võ Duy Ninh? Muốn khẳng định điều này, cần phải có quá trình nghiên cứu sâu hơn. Nhưng dù cho vị thần này là ai đi nữa thì đình Phước Lý vẫn xứng đáng là một trong những địa điểm ghi dấu quá trình khai hoang lập ấp đầy gian khổ của dân tộc ta hàng trăn năm về trước. Nơi đây còn là chốn linh thiêng của một cộng đồng, nơi bảo lưu các lễ hội truyền thống của dân tộc. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đình Phước Lý chính là việc làm thiết thực để góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

                                                                             Bài và ảnh: Nguyễn Văn Thiện

                                                             


(*) -Chống xâm lăng,  Trần Văn Giàu, trang 79-80, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2001.

-Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục chính biên, tập XXIX, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Cao Huy Giu hiệu đính, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974.

-Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1859-1945), tập I:1858-1896.

 

14/11/2011 1:39 SAĐã ban hànhApproved
 LỄ KHÁNH THÀNH  KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CĂN CỨ LIÊN QUẬN 5, 6, 7, 8 VÀ BAN HOA VẬN,  BAN CÔNG VẬN THUỘC KHU ỦY SÀI GÒN - CHỢ LỚN - GIA ĐỊNH LỄ KHÁNH THÀNH  KHU DI TÍCH LỊCH SỬ CĂN CỨ LIÊN QUẬN 5, 6, 7, 8 VÀ BAN HOA VẬN,  BAN CÔNG VẬN THUỘC KHU ỦY SÀI GÒN - CHỢ LỚN - GIA ĐỊNH

Ngày 04/01/2019, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Đức Hòa tổ chức Lễ khánh thành Khu di tích lịch sử Căn cứ Liên quận 5, 6, 7, 8 và Ban Hoa vận, Ban Công vận thuộc Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định (gọi tắt là Khu di tích Giồng Dứa). Đến dự Lễ khánh thành có đồng chí Trương Tấn Sang, Nguyên Chủ tịch Nước CHXHCNVN; đồng chí Phạm Văn Rạnh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; đồng chí Nguyễn Văn Được, UVBTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Dương Công Khanh, Bí thư Đảng ủy Khối Dân - Chính - Đảng thành phố Hồ Chí Minh; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các quận 5, 6, 7, 8 tại thành phố Hồ Chí Minh; tỉnh Long An, huyện Đức Hòa và đại diện thân nhân các gia đình đã có công nuôi giấu cách mạng.

Le khanh thanh khu di tich can cu Lien Quan 1.jpg

Khu di tích Giồng Dứa , xã Mỹ Hạnh, Quận Đức Hòa (nay thuộc ấp Giồng Lớn, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa) có diện tích 1.050m2 với tổng kinh phí xây dựng gần 5,7 tỷ đồng. Công trình có các hạng mục như Nhà Ban Hoa vận - Ban Công vận, Nhà kho, Bia đá, Cổng, hàng rào, … Khu di tích này, từ năm 1961-1964 là căn cứ Liên quận 5, 6, 7, 8 và Ban Hoa vận, Ban Công vận thuộc Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Đây là nơi quân, dân ta và nhiều đồng chí lãnh đạo đã về trú đóng, tổ chức đào tạo, xây dựng lực lượng cho phong trào cách mạng nội thành trong hoàn cảnh cách mạng miền Nam còn nhiều hi sinh, gian khổ. Nhờ nhân dân hết lòng nuôi dưỡng, che chở, đùm bọc, lực lượng cách mạng tại căn cứ Giồng Dứa luôn được bảo vệ an toàn trước sự đánh phá ác liệt của Mỹ - Ngụy. Sự hình thành của căn cứ vùng ven trong điều kiện kẻ thù còn rất mạnh ở nội ô đã phản ánh sự lãnh đạo linh hoạt, tài tình của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định nhằm xây dựng lực lượng và phát triển phong trào cách mạng, từng bước vượt qua khó khăn, thử thách của chiến tranh, góp phần thắng lợi chung của cả nước. Căn cứ Giồng Dứa chính là di tích lịch sử quan trọng, là điểm son của tình đoàn kết quân - dân và ghi dấu các hoạt động lãnh đạo kháng chiến của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Le khanh thanh khu di tich can cu Lien Quan 2.jpg

Le khanh thanh khu di tich can cu Lien Quan 3.jpg

Dịp này, huyện Đức Hòa đã trao 29 phần quà cho các thân nhân gia đình đã có công nuôi giấu cách mạng, mỗi phần quà một triệu đồng. Ban Công tác người Hoa - Thành phố Hồ Chí Minh tặng 02 căn nhà tình nghĩa cho huyện Đức Hòa với số tiền 100 triệu đồng. Công trình lịch sử được đầu tư phục dựng lại minh chứng cho tinh thần đoàn kết gắn bó giữa quân và dân; qua đó, nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước cho cán bộ công chức, đảng viên, nhân dân, đoàn viên thanh niên góp phần chung tay xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp./.                                                                                                                                                        

Thảo Nguyên - Kim Thanh

11/01/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
HỘI THI TRƯNG BÀY HOA KIỂNG HUYỆN CẦN ĐƯỚC THU HÚT 155 TÁC PHẨM DỰ THI HỘI THI TRƯNG BÀY HOA KIỂNG HUYỆN CẦN ĐƯỚC THU HÚT 155 TÁC PHẨM DỰ THI

Hội thi trưng bày hoa kiểng huyện Cần Đước mừng Xuân Canh Tý 2020 thu hút 155 tác phẩm dự thi của các nghệ nhân, những người yêu thích, đam mê hoa kiểng đến từ các huyện Bến Lức, Cần Giuộc và Cần Đước.

31-1-2020  Tac pham du thi (3).jpg

Tác phẩm dự thi

Trong 155 tác phẩm dự thi, nhiều nhất là bonsai tiểu cảnh với 44 tác phẩm. Kế đến là đá cảnh, cây khô nghệ thuật, hoa lan và mai vàng. Năm nay số lượng và chất lượng các tác phẩm có phần vượt trội hơn các năm trước. Các tác phẩm được người chơi kiểng đầu tư, chăm sóc kỹ với sự chăm chút và công phu; bonsai với các dáng thế độc đáo, những tác phẩm đá cảnh, cây khô nghệ thuật còn được các nghệ nhân thổi hồn vào đá, vào cây bằng việc đục đẽo một cách kỳ công, tỉ mỉ và tinh tế, làm toát lên cái hồn của từng tác phẩm.

31-1-2020 Trao giai nhat hoi thi trung bay cay kieng.jpg

Ban Tổ chức trao giấy khen cho các đơn vị, cá nhân đạt giải

Ban Tổ chức đã trao giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Cần Đước cho 37 giải nhất, nhì, ba và khuyến khích đối với các nội dung: đá cảnh, hoa lan, cây khô nghệ thuật, tiểu cảnh, bonsai mini, bonsai nhỏ, bonsai trung, bonsai đại và mai vàng. Qua hội thi nhằm chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trồng, chăm sóc hoa kiểng; tạo sự giao lưu, gắn kết giữa các nghệ nhân, những người yêu thích, đam mê hoa kiểng trong và ngoài huyện Cần Đước./.

Cẩm Tú

03/02/2020 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Đổi thay ở xã nông thôn mớiĐổi thay ở xã nông thôn mới

Qua 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay, Long An có 50 xã đạt chuẩn nông thôn mới, diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc, kết cấu hạ tầng dần được hoàn thiện, từng bước đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân.

Hiện nay, toàn tỉnh có 104/192 xã được công nhận đạt chuẩn xã, phường, thị trấn văn hóa. Trong đó, không ít xã văn hóa, xã nông thôn mới là những địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến.

XaNongThonMoi1.jpg

Ông Hồ Xuân Hùng (đứng bên trái) nguyên Thứ trưởng Bộ NN và PTNT

 thăm Trường Mầm non xã Tân Lân – huyện Cần Đước

Từ "vùng tối trời" thành "vùng sáng"

Con đường từ thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ về xã Nhựt Ninh như gần hơn khi vừa được đầu tư mở rộng. Bắt đầu từ cầu Triêm Đức, một vùng chuyên canh nuôi tôm trù phú hiện ra trước mắt. Theo Đường tỉnh 822, chúng tôi ghé thăm lại vùng căn cứ cách mạng Đám lá tối trời, tại ấp Thuận Lợi, xã Nhựt Ninh. Tuyến đường đal rộng 5m với chiều dài 2km mang tên Đám lá tối trời vừa được hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Bà Trần Thị Xem, năm nay vừa tròn 70 tuổi cho biết, vùng này trước đây chỉ toàn dừa nước, chiến tranh ác liệt, dưới những tán lá dừa nước không thấy ánh mặt trời trở thành căn cứ cách mạng quan trọng. Hòa bình lập lại, vùng đất này sản xuất lúa không hiệu quả, mỗi năm chỉ được 1 vụ năng suất thấp do chưa có hệ thống đê bao nên thường xuyên nhiễm mặn. Người dân nơi đây anh dũng trong chiến đấu, từng chống lại, đánh tan bao đợt hành quân, bắn phá của kẻ thù mà lẽ nào lại đầu hàng trước thiên nhiên?

Nghĩ rồi làm, thấy việc nuôi tôm bên huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang mang lại thu nhập tương đối khá, một số hộ dân trong vùng thử nghiệm chuyển một phần diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang thả nuôi tôm sú. Sau vài vụ, thấy con tôm thích nghi được với vùng đất này, người dân mở rộng diện tích nuôi. Những cánh rừng dừa nước bạt ngàn ngày nào, những vùng lúa kém hiệu quả dần nhường chỗ cho những vuông tôm. Bà Xem cho biết thêm: "Vụ tôm vừa rồi, với 0,5ha cho thu hoạch gần 3 tấn tôm sú, giá bán 280.000 đồng/kg, gia đình bà có lãi 400 triệu đồng. Còn 3ha chuẩn bị cho thu hoạch, hứa hẹn năng suất cao".

Phó Chủ tịch UBND xã Nhựt Ninh - Lê Văn Biên cho biết: "Sau 3 năm bắt tay vào xây dựng nông thôn mới, xã đạt 16 tiêu chí, thu nhập bình quân đầu người đạt 39 triệu đồng/năm. Đặc biệt, trong 5 ấp thì khu vực ấp Thuận Lợi, người dân có thu nhập cao hơn, ước đạt gần 50 triệu đồng/người/năm nhờ nuôi trồng thủy sản. Từ Đám lá tối trời, nay ấp Thuận Lợi vươn lên thành điểm sáng của xã. Tính chung mỗi năm, toàn xã thả nuôi khoảng 260ha tôm với giống tôm thẻ chân trắng và tôm sú, nhiều hộ gia đình vươn lên trở thành hộ khá giả, có điều kiện tham gia tích cực trong các phong trào do địa phương phát động".

XaNongThonMoi2.jpg

Nuôi tôm mang lại hiệu quả cao cho người dân vùng Nhựt Ninh, Tân Trụ

Làm thay đổi nhận thức người dân

Xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng được công nhận xã văn hóa vào năm 2010 và 4 năm sau trở thành xã biên giới đầu tiên của tỉnh được công nhận nông thôn mới. Điểm nổi bật tại địa phương này chính là từ việc xây dựng xã văn hóa, xã nông thôn mới có tác động tích cực đến nhận thức của người dân.

Theo Chủ tịch UBND xã Khánh Hưng - Bùi Văn Hiệu, ngay sau khi phát động xây dựng nông thôn mới, bằng việc tuyên truyền, vận động, nhận thức của người dân dần thay đổi. Những khó khăn trong vận động người dân hiến đất thực hiện các công trình giao thông, thủy lợi, các công trình phúc lợi xã hội, qua thời gian tuyên truyền, mọi người đều đồng tình hưởng ứng; cá biệt, có nhiều hộ sẵn sàng hiến đất với số lượng lớn như gia đình ông Nguyễn Thế Lai, ấp Bàu Sen hiến 3ha; ông Ngô Văn Phát, ấp Sậy Giăng hiến 5ha; ông Nguyễn Văn Khình, ấp Tà Nu hiến 4ha;...

XaNongThonMoi3.jpg

Công trình đường bê tông đang thi công

Nhưng có lẽ, thay đổi lớn nhất của người dân chính là về tập quán canh tác, sản xuất. Từ việc sản xuất nhỏ, lẻ, giống chất lượng thấp, nay người dân tự nguyện đăng ký tham gia vào cánh đồng lớn, xây dựng vùng lúa chất lượng cao, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất hướng đến mục tiêu xuất khẩu, mang lại thu nhập ổn định cho nông dân.

Đến nay, toàn tỉnh có số tiêu chí bình quân/xã đạt 15,1 tiêu chí, có 50 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới với thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đạt 31,2 triệu đồng/người/năm. Theo kế hoạch, đến cuối năm 2020, toàn tỉnh phấn đấu có 89 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 53,6% tổng số xã.

Mới đây nhất, tại Hội nghị triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh giai đoạn 2016-2020, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Phạm Văn Cảnh khẳng định, muốn xây dựng thành công nông thôn mới, các cấp chính quyền cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, người dân để huy động sức mạnh của toàn dân vào xây dựng nông thôn mới cũng như xây dựng quê hương. Người dân thấu hiểu, chắc chắn xây dựng nông thôn mới sẽ dễ thành công./.

Tổng hợp: Nguyễn Ngọc Phát

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Long An

Nguồn: Kiên Định

Báo Long An Online
Ảnh: Nguyễn Sỹ Xương

11/10/2016 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Nhà yêu nước Võ Công Tồn, người con ưu tú của quê hương Bến LứcNhà yêu nước Võ Công Tồn, người con ưu tú của quê hương Bến Lức

 Chân dung cụ Võ Công Tồn


Võ Công Tồn sinh năm 1891 tại làng Long Hiệp, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn, nay là xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông có tên khai sinh là Võ Văn Tồn. Cha mẹ ông là người hào hiệp, còn ông lại ưa chuộng công bằng chính trực nên ông được cha thay chữ lót ở họ tên, đổi thành Võ Công Tồn.

Gia đình ông Võ Công Tồn vốn có nguồn gốc từ Phan Thiết, đến đời ông nội của ông thì chuyển vào Nam định cư, khai phá vùng đất mới bên bờ sông Rạch Chanh (nay thuộc thành phố Tân An). Thân sinh của ông Võ Công Tồn là cụ ông Võ Văn Suốt và cụ bà Nguyễn Thị Hâm, mưu sinh bằng nghề hát bội, sau đó định cư, làm ruộng tại ấp Cá Trê (nay là ấp Lò Gạch) và xây dựng lò sản xuất gạch ngói. Nhờ lao động cần cù, việc kinh doanh của thân sinh ông Võ Công Tồn ngày càng phát đạt. Riêng cụ ông Võ Văn Suốt rất được nhân dân tín nhiệm, từng làm đến chức Hương cả. Cụ Cả Suốt còn dùng lẫm lúa của gia đình dạy chữ nho và quốc ngữ để mở mang trí tuệ cho con em trong vùng.

Sống và lớn lên trong một gia đình nề nếp, có truyền thống yêu nước, lại là người con duy nhất nên ông Võ Công Tồn rất được cha mẹ yêu thương, chăm sóc và dạy dỗ kỹ lưỡng. Thuở nhỏ, ông học lớp nhất (Corus Supérieur) ở trường Bến Lức, sau đó học tiếp 6 năm trung học ở Trường nội trú Taberd (Sài Gòn). Vì là con duy nhất nên ông không học tiếp nữa mà trở về phụng dưỡng song thân và lập gia đình.

Là người yêu chuộng công bình, chính trực, Võ Công Tồn sớm nhận rõ nổi nhục mất nước, thân phận của đồng bào… nên ông đề xuất việc mở trường học, bên vực kẻ yếu và được tiếng “dân yêu quan ghét”. Ông thường được dân chúng cử tham gia chức việc trong làng, từ năm 1925 đến 1939, ông lần lượt giữ các chức Hương hào, Xã trưởng, Hương cả. Chính trong thời gian này, lợi dụng thế hoạt động công khai của mình ông đã hết lòng giúp đỡ cách mạng. Với tính tình bặt thiệp, chánh trực, lại hâm mộ thể thao, văn nghệ, thích giao du với nhiều người, ông kết thân với nhiều bạn bè, đồng chí có đạo đức, yêu nước, danh tiếng lan ra khắp Nam Kỳ.

Khi chí sĩ Nguyễn An Ninh về nước và tổ chức các cuộc diễn thuyết ở Vườn Lài về đạo đức, luân lý Đông, Tây; về tư tưởng văn hóa “dân ước, dân quyền, dân đạo”; ông bắt đầu nhận thức về hành động cứu nước theo con đường cách mạng tư sản dân quyền. Năm 1923, ông gia nhập “Thanh niên Cao vọng Đảng, sau này là “Hội kín Nguyễn An Ninh. Ông cũng là một trong những mạnh thường quân ủng hộ tài chính cho Nguyễn An Ninh thành lập và duy trì hoạt động tờ báo La Cloche fêlée (Tiếng chuông rè). Đây là tờ báo tiến bộ công khai, lần đầu tiên đăng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ở Sài Gòn.

Năm 1926, ông cùng Trần Huy Liệu mở cuộc vận động đón tiếp Bùi Quang Chiêu từ Pháp về. Đồng thời, ông cũng tích cực quyên góp tiền, cổ động cho đám tang chí sĩ Phan Chu Trinh và là một trong 12 thành viên của Ban tổ chức tang lễ[1]. Vì việc này, ông bị ghi vào sổ bìa đen của chính quyền thực dân Pháp.. Vì việc này, ông bị ghi vào của chính quyền thực dân Pháp.

Năm 1927, ông tổ chức cho một số thanh niên Gò Đen sang Pháp du học như: Nguyễn Văn Tạo, Phạm Văn Phấn (Cù Là Phấn), Nguyễn Văn Bích, Lại Thành Hưng, Võ Công Phụng (con trai ông),… Đồng thời, ông cũng cổ động, ủng hộ tài chính, tổ chức thành lập chi nhánh “Hội Khuyến học Nam Kỳ” tại Gò Đen và 3 trường học ở Long Hiệp, Long Can, Long Định. Hội có một tủ sách đầy đủ của “Tự lực văn đoàn” và những quyển sách bị chính quyền thực dân cấm lưu hành bấy giờ như của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh. Hàng tháng, Hội tổ chức mời diễn giả từ Sài Gòn - Chợ Lớn đến, diễn thuyết nhiều đề tài, thu hút được nhiều lớp người trong vùng đến nghe. Mục đích của Hội là tổ chức học tập, nâng cao dân trí, tuyên truyền, thức tỉnh tinh thần quốc gia dân tộc cho quần chúng nhân dân. Cũng trong năm này, ông đem phần lớn tài sản của mình để mua một chiếc tàu của Mỹ về sửa chữa, đặt tên là “Đại phúc kinh”, để làm phương tiện vượt biển cho một số thanh niên Nam Bộ sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia các lớp huấn luyện của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Cuối năm 1927, ông sang Pháp thăm con là Võ Công Phụng đồng thời quan sát tình hình chính trị ở nước ngoài. Tại đây, ông đã có những cuộc tiếp xúc với các chí sĩ yêu nước như Nguyễn Văn Tạo, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và một số kiều bào yêu nước khác. Chuyến đi này có sức ảnh hưởng rất lớn trong việc chuyển hướng tư tưởng yêu nước của ông theo con đường Chủ nghĩa xã hội và cộng sản. Chính quyền Pháp rất lo ngại những cuộc tiếp xúc này, nên sau khi về nước, ông đã bị chính quyền thực dân Pháp tạm giam tại Sài Gòn 25 ngày, nhưng do không có chứng cứ buộc tội và được gia đình lo lót nên đã thả ông sau đó.

Cuối năm 1928, một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở Bắc Kỳ được bí mật phái vào Nam để gây dựng cơ sở và thành lập Kỳ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng ở Sài Gòn. Được Nguyễn Phương Thảo (sau này là Trung tướng Nguyễn Bình) vận động, ông tham gia quyên góp và trở thành đại diện của Việt Nam Quốc dân Đảng ở Nam Kỳ, dự kiến sẽ là Trưởng ban tuyên truyền của Kỳ bộ.

 Toàn cảnh nhà cụ Võ Công Tồn,
trước nhà là bia di tích lịch sử quốc gia  vườn - nhà Võ Công Tồn


Tuy nhiên, đến năm 1929, thực dân Pháp truy quét giam cầm hàng loạt thành viên các tổ chức chính trị hoạt động bí mật chống chính quyền thực dân tại Nam Kỳ như Hội kín Nguyễn An Ninh, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, Đảng Tân Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng,… Ông cũng bị bắt và bị đưa ra Tòa đại hình Sài Gòn xét xử cùng với Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo, Hà Thuận Hồng,… Ông bị kết án 5 năm tù[2] vì tội chứa chấp những thành phần “quốc sự”, tuy nhiên do lo lót tiền nên bản án của ông giảm xuống còn 18 tháng và bị đày đi Hà Tiên cùng lượt với Nguyễn An Ninh.

Sau khi ra tù, ông về quê củng cố lại hoạt động kinh doanh lò gạch. Bấy giờ, cơ sở sản xuất gạch ngói của ông có trên 300 công nhân, là cơ sở kinh doanh lớn, có ảnh hưởng lớn đồng thời càng  trở thành cơ sở, chổ dựa đáng tin cậy của Đảng và những người yêu nước. Vì vậy, địa danh  ấp Cá Trê dần bị thay bằng tên mới là ấp Lò Gạch.

Năm 1935, chi bộ Đảng của ấp Lò Gạch ra đời tại lò gạch của ông Võ Công Tồn gồm 03 đồng chí: Nguyễn Văn Chác (ba Trương) – Bí thư, Nguyễn Bá Lộc và Nguyễn Văn Thành. Cũng trong năm này ông ra tranh cử và đắc cử chức Hội đồng địa hạt Chợ Lớn, vì vậy dân chúng còn gọi ông là Hội đồng Tồn. Với địa vị này, ông nhiều lần tìm cách tranh thủ thực hiện “tự do, dân chủ” cho dân chúng Nam Kỳ, ủng hộ Nguyễn An Ninh đăng đàn diễn thuyết về “Quyết định lấy công nông làm nền tảng nhưng có thể bao gồm cả giai cấp tư sản nhằm giành quyền tự quyết dân tộc” và chủ trương “Tiến tới một cuộc đại hội Đông Dương”.

Từ năm 1936-1939, ông nhiều lần ủng hộ vật chất cho Đảng cộng sản hoạt động và là người hoạt động rất tích cực trong Ủy ban Lâm thời Đông dương đại hội. Ông còn là Phó Chủ tịch  Hội cứu trợ nạn đói Bắc Kỳ. Ông được đề cử là một thành viên trong Chính phủ khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ thắng lợi. Mặc dù không phải là đảng viên Đảng Cộng sản nhưng ông luôn suy nghĩ và hoạt động như một người cộng sản.[3]

Tháng 9 năm 1939, Thế chiến thứ hai bùng nổ ở Châu Âu. Ở Đông Dương, nhà cầm quyền Pháp liền tuyên bố thiết quân luật, ráo riết truy lùng, bắt bớ và sát hại các nhà yêu nước và chiến sĩ cách mạng, hòng ngăn ngừa nhân dân Việt vùng lên tự giải phóng mình. Nguyễn An Ninh bị bắt ở ấp Lò Gạch. Một tuần sau, Võ Công Tồn cũng bị bắt về tội chứa chấp Nguyễn An Ninh. Ông bị giam tại Tà Lài cùng với Dương Quang Đông, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Tô Ký,…

Ngày 16 tháng 4 năm 1940, Tòa tiểu hình Sài Gòn tuyên án gần 100 người, trong đó Võ Công Tồn chịu án 4 năm tù, 10 năm biệt xứ, đày ra Côn Đảo. Ông bị giam ở Banh II, là nơi giành riêng cho các chính trị phạm được liệt vào "nguy hiểm nhất" cùng với Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Khắc Sửu, Trần Ngọc Danh,… Do điều kiện lao tù khắc nghiệt, sức kiệt, ông qua đời tại Nhà tù Côn Đảo ngày 16 tháng 6 năm 1942.

Võ Công Tồn là một điền chủ, tư sản, có học thức và tinh thần yêu nước, giác ngộ cách mạng. Ông đã hoạt động tích cực cùng nhiều đồng chí gây dựng cơ sở cách mạng, ủng hộ cuộc đấu tranh của quần chúng chống lại ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và tay sai. Nói về Võ Công Tồn, Giáo sư Trần Văn Giàu phát biểu: “Võ Công Tồn cùng với Nguyễn An Ninh là hình ảnh của “núi Hai Vì” hai tấm gương lớn về hoạt động cách mạng ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX[4]. Do những đóng góp của mình, ngày 4 tháng 6 năm 1986, ông được Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Tên ông được đặt cho một con đường tại tỉnh lỵ Long An (theo quyết định số 2554/QĐ-UB ngày 18/10/1997 của UBND tỉnh Long An). Một số đường phố và trường học tại Long An cũng được mang tên ông. Khu nhà và lò gạch của gia đình ông được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia theo Quyết định 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19 tháng 1 năm 2004.

Xin trích điếu văn của Giáo sư Trần Văn Giàu viết về ông để kết thúc bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của một trí thức yêu nước, người con ưu tú của quê hương Bến Lức anh hùng, nơi không chỉ sản sinh ra nhà yêu nước Võ Công Tồn mà cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của nhiều nhân vật lịch sử khác như Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Văn Tạo, Mai Thị Non… những người con làm rạng danh cho quê hương, tổ quốc.

Một nắm xương tàn chôn ở Hàng Dương

Hai trăm mẫu ruộng vườn,

hai trại cưa, ba lò gạch

Tất cả tiền của sẵn sàng góp vào sự nghiệp dân tộc

Ngồi tù Khám Lớn

bị đày đi Hà Tiên, Tà Lài, Côn Đảo

Tất cả cuộc đời

tận tụy hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam độc lập tự do./.

 

Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

(theo Lý lịch di tích Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn)

Ảnh: Văn Ngọc Bích



[1] Tang lễ cử hành ngày 24/3/1926

[2] Phiên tòa diễn ra ngày 14 và 15/7/1930

[3] Võ Công Tồn từ chối vào Đảng bởi: “Tôi ở ngoài Đảng có lợi lớn hơn tôi vào Đảng, bao nhiêu cái chuyện của tụi địch, tôi đem về báo lại với Đảng, Đảng biết hết, như vậy phải có lợi lớn hơn không? Tôi làm Hội đồng, làm được chuyện đó” – Trích bài phát biểu của Dương Quang Đông trong ngày giổ cụ Võ Công Tồn ngày 19/6/1994.

[4] Trích bài phát biểu của Giáo sư Trần Văn Giàu trong hội thảo kỷ yếu của Võ Công Tồn 1995.

 

02/08/2013 8:50 SAĐã ban hànhApproved
ĐỨC HÒA: HỘI THI HÁT KARAOKE CHÀO MỪNG NGÀY PHỤ NỮVIỆT NAM 20/10 ĐỨC HÒA: HỘI THI HÁT KARAOKE CHÀO MỪNG NGÀY PHỤ NỮVIỆT NAM 20/10

Vừa qua, huyện Đức Hòa tổ chức Hội thi hát Karaoke chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 tại Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện.

17-10-19 DUC HOA TO CHUC HOI THI HAT KARAOKE MUNG NGAY PHU NU VIET NAM 20-10.jpg

Hội thi được chia ra làm 2 bảng với 40 tiết mục đơn ca, song ca, tốp ca tham gia. Trong đó, bảng A là khối cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, trường học và bảng B là khối xã, thị trấn. Các tiết mục dự thi là những ca khúc cách mạng, ca ngợi Bác Hồ, truyền thống đấu tranh của dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước và ca ngợi người phụ nữ Việt Nam.

Kết thúc hội thi, thí sinh Nguyễn Ngọc Quý, đơn vị thị trấn Hiệp Hòa và tốp ca Trường Mầm non Vành Khuyên đồng giải nhất; giải nhì thuộc về thí sinh Nguyễn Trường An, đơn vị xã Lộc Giang và thí sinh Mai Thị Trúc Giang, đơn vị Trường TH Châu Văn Liêm.

17-10-19 DUC HOA TO CHUC HOI THI HAT KARAOKE MUNG NGAY PHU NU VIET NAM 20-10 8.jpg

Hội thi đã góp phần thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích cho cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trên địa bàn huyện. Đồng thời, giúp huyện Đức Hòa phát hiện, bồi dưỡng những cá nhân có năng khiếu về âm nhạc. Thông qua đây cũng góp phần khơi dậy lòng tự hào, phát huy truyền thống vẻ vang và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ./.

NHÃ PHƯƠNG

25/10/2019 6:00 CHĐã ban hànhApproved
Đức Huệ, huyện giải phóng đầu tiên ở Khu 8Đức Huệ, huyện giải phóng đầu tiên ở Khu 8

Đức Huệ vào cuối thế kỷ XIX là vùng đất thuộc huyện Thuận An, rồi Cửu An của phủ Tân An, đầu thế kỷ XX thuộc quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Sau cách mạng tháng 8-1945, chính quyền kháng chiến lập khu Đông Thành, rồi huyện Đông Thành thuộc tỉnh Chợ Lớn, đến năm 1951 nhập với huyện Đức Hòa thành huyện Đức Hòa Thành, thuộc tỉnh Gia Định Ninh, sau 1954 cắt lại thuộc quận Thủ Thừa. Năm 1959, quận Đức Huệ chính thức được thành lập (Sắc lệnh 48/NV-VNCH, ngày 3/3/1959), gồm 3 xã của quận Đức Hòa, 5 xã thuộc đất Đông Thành. Năm 1963, Đức Huệ cùng với Đức Hòa, Trảng Bàng và Củ Chi lập thành tỉnh Hậu Nghĩa (Sắc lệnh 12/NV-VBCH ngày 15/10/1963). Sau ngày giải phóng 1975, Đức Huệ trở vể thuộc tỉnh Long An đến ngày nay.

Là vùng đất kiên cường trong hai cuộc kháng chiến và trong cuộc chiến tranh bảo vệ vùng đất biên cương phía Tây Nam Tổ quốc, nói đến Đức Huệ, không thể không nói đến chiến công là huyện được giải phóng đầu tiên ở Long An và Khu 8 trong kháng chiến chống Mỹ.

Khu trù mật điển hình ở Nam Bộ

 Nhân dân Đức Huệ phá khu trù mật trở về vườn cũ.

Đức Huệ là địa bàn có vị trí quan trọng đối với cả ta và địch trong kháng chiến chống Mỹ. Là nơi tiếp giáp giữa miền Đông với miền Tây Nam Bộ và phía Đông Campuchia, cách Sài Gòn 40 km đường chim bay, Đức Huệ là bàn đạp quan trọng tấn công vào đầu não của ngụy quyền ở Sài Gòn, và là hành lang cho cả mặt trận Tây Nam thành phố.

Chính vì vậy, từ năm 1957, trong chương trình thực hiện quốc sách Dinh điền mà đế quốc Mỹ đã tài trợ 11 triệu đô la, chính quyền Diệm đã chọn Quéo Ba, xã Mỹ Quý (nay thuộc xã Mỹ Quý Tây) để xây dựng khu trù mật vào loại điển hình ở Nam Bộ, nhằm cô lập quần chúng nhân dân với lực lượng cách mạng ở đây- một mô hình chống Cộng mà địch rút kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến tranh ở Malayxia. Giới chóp bu của địch vì thế mà rất quan tâm đến khu trù mật Quéo Ba. Đằng sau những lời lẽ mỵ dân để che đậy ý đồ thâm độc của chính sách dinh điền, khu trù mật, tỉnh trưởng Long An Mai Ngọc Dược lên Đức Huệ ba hoa rằng: “Ý nghĩa khu trù mật là xây dựng một xã hội mới để thực hiện công bằng bác ái, đồng tiến xã hội trong một nước kém mở mang”. Để xây dựng khu trù mật Quéo Ba, Mỹ-Diệm bắt dân 8 quận trong tỉnh có lúc lên đến hàng vạn người đi làm lao công ở đây, đồng thời lập thêm 3 khu gom dân lớn ở Giồng Bò, Giồng Bún, Tràm Bà Giang, tạo thành một hệ thống kềm kẹp 8.000 dân Đức Huệ. Địch đưa bộ máy ngụy quân, ngụy quyền cấp quận về đóng ở Mỹ Quý gồm 3 đại đội Bảo An nhiều đại đội dân vệ do quận trưởng Huỳnh Khương An cầm đầu. Kết hợp với từ 1 đến 2 tiểu đoàn lính biệt kích và chủ lực thường xuyên có mặt ở Đức Huệ, chúng hoạt động trên 4 xã trọng điểm là: Mỹ Quý Đông, Mỹ Quý Tây, Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Bắc; riêng ở xã Mỹ Quý Tây lúc nào cũng có 5 trung đội Bảo An, 6 trung đội thanh niên chiến đấu với số quân gần 400 tên. Sau 3 năm nỗ lực hoàn thành ý đồ, địch đánh giá khu trù mật Quéo Ba trong bản phúc trình ngày 5/10/1959 của trung tá Nguyễn Hữu Phước và Thiếu tá Phạm Ngọc Thảo gởi Tổng giám đốc Nha Kiến thiết của chính quyền Diệm, như sau: “... Chẳng những về phương diện chiến thuật đối với tỉnh Long An mà về phương diện chiến lược đối với miền Đông và miền Tây, khu trù mật Đức Huệ sẽ có tác dụng tranh thủ nhân tâm để phối hợp lực lượng quân sự, hạn chế sự giao thông liên lạc giữa lực lượng của Việt cộng ở miền Đông và miền Tây”.

Bản phúc trình cho thấy Mỹ-Diệm coi trọng và hy vọng ở khu trù mật Quéo Ba như thế nào. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã đề ra Nghị quyết và chỉ đạo huyện Đức Huệ phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quần chúng, tấn công, bao vây liên tục, đi đến bức hàng, bức rút quân địch ở khu trù mật Quéo Ba để giải phóng hành lang quan trọng này.

“Quéo Ba” là địa danh nay đã thành tên ấp, ấp Quéo Ba, do nơi đây xưa kia có 3 cây quéo cổ thụ (một loại xoài hoang dại, trái nhỏ, hột to) mọc chung một chỗ. Tên gọi Quéo Ba gắn liền với vùng đất này qua từng giai đoạn lịch sử: khu trù mật Quéo Ba, chi khu Quéo Ba. Di tich lịch sử ghi dấu giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ, 18-10-1964 mang tên “Khu vực Quéo Ba”(Quyết định số 1659/QĐ.UB, ngày 22-8-1994). Tháng 10-1994, kỷ niệm 30 năm sự kiện trên, huyện Đức Huệ xây dựng tại địa điểm lịch sử này bia truyền thống mang tên Bia chiến thắng Quéo Ba. Khu vực này còn có ngôi mộ tập thể Quéo Ba, là di tích lịch s ghi dấu tội ác thảm sát của thực dân Pháp năm 1948.

Vùng lên từ Đồng khởi rồi giải phóng huyện

 Bia chiến thắng Quéo Ba, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ

 Sau khi có Nghị quyết 15 Trung ương Đảng và nhận được chỉ đạo của Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ về xây dựng lực lượng 03 thứ quân để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, ngày 6-1-1960, Tỉnh ủy Tân An triệu tập hội nghị mở rộng ở Giồng Ông Tưởng (xã Bình Thành, huyện Đức Huệ) để bàn kế hoạch triển khai nghị quyết.

Ở Đức Huệ, đồng chí Nguyễn Văn Tân (Sáu Thành), Bí thư Huyện ủy sau khi dự hội nghị về đã xây dựng lực lượng chiến đấu ở huyện và trực tiếp chỉ huy, gồm: một trung đội địa phương quân, mỗi xã có một chi bộ từ 3 đến 4 đảng viên, một tiểu đội du kích và khoảng 15-20 cơ sở nòng cốt trong quần chúng. Sau khi Tỉnh ủy cho phát đi Bản nhật lệnh kêu gọi khởi nghĩa (25/1/1960), từ năm 1960-1961, được hỗ trợ của mũi vũ trang, nhân dân Đức Huệ vùng lên mạnh mẽ, phá tan khu gom dân ở Giồng Bún, sau đó cùng với bộ đội tỉnh đánh những trận lớn ở Tho Mo diệt hàng trăm lính biệt động của Tiểu đoàn Trần Lệ Xuân. Ngày 12/12/1961, tại bến phà Đức Huệ, ta diệt một đại đội chủ lực của Sư đoàn 7 ngụy. Trận Giồng Nhỏ sau đó tiếp tục diệt một đại đội Bảo An. Cuộc chiến đấu lâu dài để giải phóng Đức Huệ bắt đầu bằng việc vây ép các tua vòng ngoài là Giồng Bún, Giồng Bò, Tràm Bà Giang, rồi phá banh 3 khu gom dân ở đây giải phóng 3.000 dân, cô lập khu trù mật Quéo Ba-nơi đặt chi khu Đức Huệ. Sau 3 đợt đồng khởi, Đức Huệ đã được giải phóng gần hết trừ khu đầu não của chúng ở Quéo Ba. Mũi đấu tranh chính trị cũng phát triển mạnh, những cuộc biểu tình, đấu tranh do phụ nữ tổ chức đã thu hút hàng trăm, hàng ngàn chị em tham gia. Kết hợp với đấu tranh chính trị, các trận đánh, các cuộc đột nhập khu trù mật để diệt ác của lực lượng vũ trang do huyện ủy, các chi bộ xã lãnh đạo, cùng với mũi đấu tranh binh vận liên tục đã tạo thành một thế trận đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần. Ngày 3/11/1962, thiếu tá Nguyễn Viết Thanh, tỉnh trưởng Long An vội đệ trình lên Ngô Đình Diệm một kế hoạch mở mang khu trù mật Đức Huệ với kinh phí 6.600.000 đồng để củng cố tình hình.

            Sang năm 1963, phong trào đấu tranh bằng ba mũi giáp công ở Đức Huệ theo đà ấy tiếp tục đi lên và phát triển rất mạnh, nhất là từ sau trận chiến thắng Hiệp Hòa 23/11/1963 mở đầu cho cao trào phá ấp chiến lược trên toàn tỉnh. Bước sang năm 1964, ta mở liên tiếp các đợt tiến công trên cả hai hướng Bắc và Nam lộ 4, lực lượng bình định chủ yếu của địch lúc này ở Long An là Sư đoàn 25 ngụy phải căng lực lượng ra để chống đỡ. Trong tình hình ấy, địch điều Trung đoàn 46 từ Hậu Nghĩa về Cần Đước, Cần Giuộc để tái chiếm lại địa bàn ta mới giải phóng, một trung đoàn giữ lộ 4 và một trung đoàn về Củ Chi. Ở Đức Huệ, lực lượng địch rất mỏng, trong khi khu trù mật Quéo Ba bị ta bao vây và ngày càng siết chặt, địch phải tiếp tế cho chi khu Đức Huệ bằng máy bay. Chớp thời cơ, Ban chỉ huy Tỉnh đội điều Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 263 về Đức Huệ tiến công chi khu Quéo Ba. Để thực hiện tiến công mục tiêu quan trọng này, tỉnh sử dụng Tiểu đoàn 1 đánh đồn Đức Lập và Sò Đo ở huyện Đức Hòa để nghi binh kéo địch về hướng này, không cho chúng ứng cứu lẫn nhau, hỗ trợ cho cuộc bao vây cô lập và tấn công khu trù mật Đức Huệ. Trước sự vây ép ngày càng gia tăng của ta, quận trưởng Đức Huệ Lê Đăng Sĩ phải bỏ trốn khỏi Mỹ Quý Tây. Đêm 16/10/1964, quân và dân Đức Huệ với sự hỗ trợ của Tiểu đoàn 263 đã bao vây, tấn công chi khu Đức Huệ, sẵn sàng đánh quân địch bỏ chạy hoặc quân tiếp viện. Cùng lúc ấy ta cũng tấn công địch ở Sò Đo, Đức Lập và nhiều nơi khác ở tỉnh Long An.Trước cuộc tấn công đồng loạt và dũng mãnh của quân và dân ta, địch hết sức hoang mang, đến ngày 18/10/1964, toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền ở khu trù mật Quéo Ba rút chạy. Lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân Đức Huệ đã tràn vào san bằng khu trù mật, thu toàn bộ vũ khí gồm 200 khẩu súng các loại và nhiều đạn dược, giải phóng toàn bộ dân chúng bị địch kềm kẹp lâu nay về nhà làm ăn. Đức Huệ trở thành huyện giải phóng đầu tiên ở Long An và Khu 8.

            Đập tan khu trù mật lớn vào loại điển hình ở Nam Bộ, giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ là kết quả của quá trình chiến đấu lâu dài, liên tục, là sự kết hợp tuyệt vời của 3 mũi giáp công và nắm bắt thời cơ kịp thời để làm nên một trong những chiến công tiêu biểu nhất của quân dân Long An trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Việc giải phóng huyện Đức Huệ có ý nghĩa quan trọng: Hành lang chiến lược Đức Huệ được khai thông tạo điều kiện cho quân dân Long An vượt lên đánh quỵ Sư đoàn 25 ngụy, mở rộng vùng giải phóng trên phạm vi toàn tỉnh vào giữa cuối năm 1965, làm tiền đề cho cuộc chiến đấu với quân Mỹ trong giai đoạn tiếp sau ./.

                                                                               Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

                            

24/02/2012 1:23 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về việc xếp hạng cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế. Di tích hiện tọa lạc tại phường 1, thành phố Tân An, là một công trình kiến trúc cổ đặc thù kiểu Tứ trụ của đình, miếu Nam Bộ có niên đại hơn 103 năm. Đồng thời, trong miếu còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như hệ thống hoành phi, liễn đối, bao lam…được chạm trổ hết sức tinh xảo, công phu vừa có giá trị về mặt nghệ thuật, vừa có giá trị về mặt lịch sử.

18-11-2019 Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế

Di tích lịch sử miếu Quan Thánh Đế còn là chứng tích của quá trình khai phá vùng đất Vũng Gù (Tân An ngày nay) của cộng  đồng cư dân Việt - Hoa. Bởi, sau khi Cù Lao Phố và Mỹ Tho Đại Phố tan rã, một số nhóm người Hoa đã di cư đến sống ở vùng Tân An. Vì đa số người Hoa di cư thường làm nghề kinh doanh buôn bán nên khi đến Tân An họ thường tụ cư ở những trung tâm thương mại, khu vực chợ búa, và cùng với người Việt chiếm đa số chung sức đồng lòng lập phố xá, chợ sầm uất mà nổi tiếng là chợ Hưng Lợi (nay là chợ Phường 1). Bên cạnh đó, khi di - định cư đến Tân An, họ đã xây dựng miếu để làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và đã thu hút đông đảo người Việt đến lễ bái như chính cơ sở tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình trong suốt quá trình cộng cư và giao lưu văn hoá.

Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Thánh Đế Quân tức Đại tướng quân Quan Vũ, một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc được kính ngưỡng về lòng trung nghĩa và chí khí anh hùng. Khi đến định cư ở vùng đất Tân An nói riêng, ở Long An nói chung, người Hoa đã mang nhiều hành trang văn hóa từ những thiết chế xã hội, phong tục tập quán đến các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thánh truyền thống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Ông Bổn… từ quê cha đất tổ đến vùng đất mới lập nghiệp, góp phần cùng các dân tộc anh em khác xây dựng và phát triển nơi đây ngày một trù phú. Một trong những hành trang quý giá ấy chính là tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân mang nhiều nét nổi bật, tiêu biểu cho văn hóa tinh thần người Hoa cũng như  sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa. Khi cộng cư lâu dài với người Việt trên vùng đất mới, tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân của người Hoa dần được người Việt tiếp nhận, thờ tự trang nghiêm thể hiện sự kính ngưỡng đối với phẩm cách chính trực trung nghĩa, cương cường, dũng cảm của Ông, đồng thời tin tưởng Ông sẽ phù hộ cho sự bình an của mọi người, thậm chí thờ Ông như là thần bảo mạng của nam giới trong gia đình. Quan Thánh Đế Quân không chỉ là thần linh được thờ phụng trong gia đình, mà còn là thần linh đặc trưng trong các cơ sở tôn giáo người Việt, được biến thể hóa từ các tôn giáo lớn như: Nho Giáo tôn xưng Ông là Văn Hoành Thánh Đế;  Đạo Giáo tôn xưng Ông là Hiệp Thiên Đại Đế; còn Phật Giáo tôn xưng Ông là Hộ Pháp Già Lam. Đây là một dạng thức tín ngưỡng thể hiện sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng cư dân Việt - Hoa trong quá trình tụ cư, chung sống với nhau như anh em một nhà suốt bao thế kỷ qua và là một nét đẹp trong ứng xử văn hóa, đã làm cho sắc thái văn hóa của vùng đất Long An nói riêng thêm đa dạng và phong phú.

18-11-2019 Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải), Châu Xương (bên trái).jpg

Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải),
Châu Xương (bên trái)

Tìm hiểu về niên đại xây dựng miếu, theo thông tin từ các dòng lạc khoản ghi trên câu đối, hoành phi (Quang Tự nhị thập ngũ niên tuế thứ Kỷ Hợi trọng hạ kiết lập) cho biết kiến trúc hiện trạng và hệ thống tượng thờ, bài vị, các chi tiết trang trí, trống, chuông đồng… có niên đại Quang Tự, năm Kỷ Hợi (1899). Ngoài ra, trên bao lam khám thờ bên phải có khắc năm 1916, đánh dấu cho lần trùng tu miếu.

18-11-2019 Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ.jpg

Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ

Ngôi miếu tọa lạc trên mảnh đất có diện tích 330.8 m2 có bố cục hình chữ tam gồm hậu điện, chính điện và tiền điện với đặc điểm nổi bật là xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ mang nét đặc trưng của đình làng vùng đất Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, điều này cho thấy kiến trúc miếu đã có yếu tố Việt ngay từ những buổi đầu xây dựng.

18-11-2019 Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ.jpg

Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ

Đặc biệt, trong miếu còn thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Hoa qua cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) vốn là hiện vật phổ biến trong các ngôi đình của người Việt, thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu của nền văn hóa Việt, được đặt chung trong khám thờ Quan Thánh Đế Quân.

18-11-2019 Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong bàn thờ Quan Thánh Đế Quân.jpg

Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong
bàn thờ Quan Thánh Đế Quân

Hàng năm, Miếu Quan Thánh Đế diễn ra lễ vía Ông vào các ngày 13 tháng Giêng (Vía chánh), 13 tháng 5 và 24 tháng 6, là nơi đến của đông đảo đồng bào Việt - Hoa ở thành phố Tân An, các hội Miếu Quan Thánh lân cận, thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân địa phương. Tuy ban đầu miếu do người Hoa thành lập nhưng trong quá trình giao thoa văn hóa đã thu hút cộng đồng người Việt đến thắp hương... thể hiện sự giao lưu giữa đời sống tâm linh và cuộc sống hàng ngày của hai tộc người. Trong tâm thức người dân, đây là tiêu biểu cho những giá trị tinh thần tốt đẹp cũng như thể hiện tính bao dung, cởi mở trong tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Việt. Mặt khác, không chỉ là những khách hành hương, người Việt còn nằm trong Ban Quản trị, là ông từ trực tiếp trông coi, sớm chiều hương khói, chung tay góp sức với người Hoa cùng nhau thờ tự, giữ gìn miếu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt - Hoa trên mảnh đất Long An.

Ngày nay, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa lẫn nhau giữa người Việt và người Hoa ngày càng trở nên mạnh mẽ, các yếu tố văn hóa Việt,  văn hóa Hoa tồn tại đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Ví như trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người Việt không phân biệt rạch ròi giữa miếu, miễu và chùa thường gọi lẫn lộn. Trong khi đó, miếu, miễu là nơi thờ Thần, còn chùa là nơi thờ Phật, nhưng đối với Miếu Quan Thánh Đế của người Hoa, người Việt thường gọi là Chùa Ông... Qua đó cho thấy, sự giao lưu văn và tiếp biến hóa giữa người Việt - Hoa được diễn ra một cách hòa hợp vì giữa hai nền văn hóa có nhiều yếu tố tương đồng, giống nhau. Tuy là miếu Hoa nhưng vẫn thấy được văn hóa Việt, đó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Long An nói riêng. Bởi văn hóa là hòa bình, không bao giờ phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay thể chế chính trị - kinh tế - xã hội.

Do đó, việc xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với Miếu Quan Thánh Đế là cần thiết, nhằm bảo tồn và giữ gìn được di sản văn hóa của tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung, góp vào nguồn lực phát triển văn hóa vùng đất Nam Bộ trong hiện tại cũng như trong tương lai./.

Hồng Nhung

25/11/2019 7:00 CHĐã ban hànhApproved
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh gặcPhó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh gặc

Nhân kỷ niệm 66 năm ngày Thương binh liệt sỹ, ngày 27/7/2013, Phó Thủ tướng Chính phủ - Vũ Văn Ninh cùng Đoàn công tác Chính phủ đã đến làm việc với tỉnh Long An và thăm các gia đình chính sách ở thành phố Tân An và huyện Châu Thành. Đoàn cũng đã đến thăm và trồng cây lưu niệm tại công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc tại Phường 5, thành phố Tân An.

Sau đây là một số hình ảnh của Đoàn công tác tại khu công viên tượng đài  Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc:

 Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng lãnh đạo tỉnh Long An thăm công viên tượng đài Long An
Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc

 

 Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng lãnh đạo
tỉnh Long An thắp hương tưởng niệm trước
tượng đài Long An Trung dũng kiên cường,
 toàn dân đánh giặc

 

  Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh
trồng cây lưu niệm

Tin: Hồ Phan Mộng Tuyền
Ảnh: Văn Ngọc Bích

05/08/2013 12:10 SAĐã ban hànhApproved
Bộ sưu tập hạt chuỗi vỏ nhuyễn thể ở di chỉ khảo cổ học An SơnBộ sưu tập hạt chuỗi vỏ nhuyễn thể ở di chỉ khảo cổ học An Sơn

Di chỉ khảo cổ học An Sơn tọa lạc bên bờ trái sông Vàm Cỏ Đông, cách bờ sông khoảng 280m. Đây là một gò nổi hình bát úp có diện tích khoảng 10.000 m2. Các dấu tích văn hóa cổ được tìm thấy tập trung trên gò và khu vực chân gò phía Đông và Đông Bắc, bao gồm các khu vực cư trú và mộ táng. Di chỉ đã được học giả người Pháp, Henry Parmentier, phát hiện và đào thám sát lần đầu tiên vào năm 1938. Từ sau 1975, Bảo tàng Long An đã cùng với các cơ quan, trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, phối hợp tổ chức tổng cộng 5 đợt khai quật tại di chỉ này (vào các năm 1978, 1997, 2004, 2007, 2009).

An Sơn là một trong những di chỉ lớn, có tầng văn hóa dày vào bậc nhất ở Nam bộ và cả Việt Nam. Các hố khai quật năm 1978 và 1997 trên đỉnh gò đã làm xuất lộ tầng văn hóa của di chỉ dày gần 5m. Hiện vật tìm thấy ở đây rất đặc sắc và đa dạng, bao gồm: công cụ đá có vai và không vai (rìu, cuốc, đục, dao…); công cụ (mũi nhọn, lưỡi câu, mũi giáo) và đồ trang sức (hạt chuỗi, vòng tay) chất liệu xương sừng; nhiều đồ đựng chất liệu gốm còn nguyên vẹn (bình, nồi, bát, bát mâm bồng, chậu, ly có chân cao…) cùng hàng vạn mảnh gốm vỡ với loại hình, chất liệu và hoa văn trang trí vô cùng phong phú.

Trong số những di vật kể trên thì bộ sưu tập hạt chuỗi bằng vỏ nhuyễn thể là loại một loại hình hiện vật rất đặc trưng của di chỉ An Sơn, được tìm thấy ở hầu hết các đợt khai quật, cả trong tầng văn hóa và trong mộ táng. Đặc biệt, trong đợt khai quật năm 2004, hơn 2000 hạt chuỗi đã được phát hiện trong một ngôi mộ của một người đàn ông, được đeo ở các vị trí cổ, tay trái và tay phải.

          
 Hạt chuỗi phát hiện trong Mộ 1 của đợt khai quật An Sơn năm 2004  Hạt chuỗi hình ống lớn phát hiện ở An Sơn trong đợt khai quật năm 2004 và 2007
Hạt chuỗi hình ống nhỏ phát hiện trong đợt khai quật năm 2004, 2007 và 2009  Hạt chuỗi hình ovan phát hiện trong đợt khai quật năm 2004 
 Hạt chuỗi hình đĩa phát hiện trong các đợt khai quật năm 1997, 2004, 2007 và 2009 Nét tương đồng giữa hạt chuỗi An Sơn và hạt chuỗi tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ học ở Thái Lan 

                                                                                   Bài và ảnh: Trần Thị Kim Quý

14/05/2013 1:30 SAĐã ban hànhApproved
Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 2: Sân khấu cải lương Long An qua những bước thăng trầm Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 2: Sân khấu cải lương Long An qua những bước thăng trầm

Dù khiêm tốn so với bề dày lịch sử 100 năm cải lương, sân khấu cải lương Long An đã hòa quyện vào dòng chảy chung để lại những dấu ấn nghệ thuật không thể nào quên, góp phần vào sự phát triển của bộ môn nghệ thuật dân tộc trải qua nhiều bước thăng trầm này.

1. Thời hoàng kim

Khi sân khấu cải lương chính thức ra đời ở Mỹ Tho (15/3/1918), Long An chưa có gánh cải lương nào, chỉ có vài gánh hát bội, nhưng như một số tỉnh, có xây rạp cải lương tại tỉnh lỵ (thành phố Tân An ngày nay) để đón các đoàn cải lương của Sài Gòn về. Dù vậy, do chiến tranh, từ những năm 1940, nhiều nghệ sĩ tài danh của Long An rời quê lên Sài Gòn hoạt động, như các đại danh cầm Văn Vĩ, Hai Biểu, Tư Huyện, Bảy Hàm, Ba Tu..., các nghệ sĩ Út Bạch Lan, Minh Vương, Mỹ Châu... đóng góp vào sự phát triển rực rỡ của cải lương miền Nam.

Tuy nhiên, sân khấu cải lương trong chiến khu cách mạng thì khá phát triển, khi từ năm 1960 đã có đoàn văn công tỉnh, đến năm 1963 có nhiều đoàn huyện làm nhiệm vụ "tay đờn, tay súng", phục vụ bộ đội và nhân dân vùng giải phóng, khi có giặc thì chiến đấu như một đơn vị vũ trang. Đến giữa năm 1972, phân nửa lực lượng Văn công tỉnh ra miền Bắc tập huấn chuyên môn, lực lượng còn lại phục vụ kháng chiến đến ngày giải phóng miền Nam năm 1975.

Sau năm 1975, thực hiện hình thức quản lý tập thể (ngành văn hóa cử cán bộ phụ trách tổ chức và chính trị, nghệ sĩ phụ trách nghệ thuật) và quốc doanh (nhà nước quản lý) các đoàn cải lương tư nhân giải thể hoặc sáp nhập vào đoàn cải lương tập thể, năm 1976, Đoàn cải lương Tân Dạ Lý - một đoàn cải lương tư nhân không mấy tên tuổi đang đăng ký hoạt động ở Long An, được sáp nhập thành Đoàn Cải lương Vàm Cỏ với lực lượng đào kép và ban lãnh đạo đoàn được giữ nguyên từ Tân Dạ Lý chuyển sang, đến năm 1980 thì đổi tên là Đoàn cải lương tập thể Long An II, do cán bộ Ty Văn hóa - Thông tin (Nguyễn Minh Tuấn) làm trưởng đoàn. Lực lượng đào kép có thêm nhiều gương mặt mới, nhiều vở có cả nghệ sĩ tài danh Minh Vương về cộng tác. Kịch mục lúc đó là những vở như Bên cầu dệt lụa, Lâm Sanh - Xuân Nương, Người đẹp trong tranh, Tiếng gọi núi sông...

Năm 1977, Đoàn Tiếng ca Trung Hiếu (thuộc Bộ Nội vụ) về đăng ký hoạt động ở Long An (vì Bộ Nội vụ không có chức năng quản lý đoàn cải lương) với danh nghĩa là Đoàn cải lương tập thể Long An I (Quyết định số 1523/ UB-QĐ-77 ngày 20/9/1977), là một đại bang chuyên nghiệp. Trong giai đoạn rực rỡ nhất của lịch sử cải lương miền Nam và cả nước (1975-1990), Đoàn cải lương tập thể Long An I với cơ sở vật chất trang thiết bị qui mô, mỗi khi Đoàn lưu diễn phải có từ 5-7 chiếc xe vận tải, nhiều xe con đưa đón đào kép và nhiều ngôi sao, nghệ sĩ tài danh đương thời như Út Bạch Lan, Minh Vương, Linh Vương, Lệ Trinh, Phương Tùng, Thanh Tâm, Kiều Lệ Tâm... do nghệ sĩ Năm Vui làm trưởng đoàn, soạn giả tài danh Hoa Phượng làm Phó trưởng đoàn kiêm soạn giả thường trực, nghệ sĩ Phương Tùng là Phó trưởng đoàn chỉ huy biểu diễn. Với những vở diễn ăn khách lâu dài như Trận tuyến thầm lặng, Khách sạn Hào Hoa, Tình ca biên giới, Bão tố cuộc đời, Dòng sông và đầm lầy... Đoàn cải lương tập thể Long An I là một trong những đơn vị cải lương tập thể mạnh nhất nhì ở miền Tây Nam Bộ, có doanh thu cao, được khán giả đồng bằng mến mộ.

Năm 1989, hai Đoàn cải lương tập thể Long An I và II sáp nhập thành một mang tên Đoàn cải lương Quốc doanh Long An. Nhiều nghệ sĩ tài danh rời Đoàn nhưng có số khác về như Ánh Hồng và Hữu Lộc (Phó trưởng đoàn cải lương Tây Ninh), nhìn chung lực lượng đào kép vẫn còn nhiều ngôi sao tài danh như Út Bạch Lan, Ánh Hồng, Đoàn Dự, Phương Tùng, Lệ Trinh, Thanh Tâm, Bảo Thanh, Như Phượng, Thúy Quyên, Minh Lắng, Minh Vũ, Tuyết Hoa, Thanh Long... Những vở diễn như Trà Hoa Nữ, Đất và hoa, Cánh hoa trong bão táp, Bạch Viên - Tôn Cát, Dệt gấm, Ánh sáng phù du, Hoàng tử và tên ăn mày... Đoàn diễn doanh thu chủ yếu ngoài tỉnh, tự thu tự chi cho biểu diễn, được mệnh danh là "Anh hùng miền Trung".

2. Bước sang giai đoạn mới

Tuy hoạt động khá tốt và giữ vững doanh thu nhưng Đoàn phục vụ không nhiều cho nhân dân tỉnh nhà; danh nghĩa là quốc doanh nhưng cán bộ lãnh đạo hưởng lương, lực lượng còn lại tự thu tự chi, diễn viên tên tuổi hưởng theo suất diễn. Từ đó, năm 1993, lãnh đạo tỉnh giải thể Đoàn cải lương quốc doanh, thành lập Đoàn nghệ thuật cải lương Long An thuộc Nhà nước, nhằm phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ chính trị của tỉnh nhà, do Sở Văn hóa – Thông tin Long An trực tiếp quản lý, Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Hữu Lộc làm Trưởng đoàn. Đoàn bắt đầu có kế hoạch trẻ hóa đội ngũ bằng cách tìm kiếm nhân tố mới ở cơ sở, tuyển sinh và đào tạo tại chỗ, mời những thầy nghề nổi tiếng như Nghệ sĩ nhân dân (NSND) - đạo diễn Huỳnh Nga, NSND - đạo diễn Trần Ngọc Giàu, đạo diễn Thanh Hạp... về giảng dạy, mời NSƯT - danh cầm Hoàng Huệ làm nhạc trưởng. Đến cuối năm 1994, Đoàn đào tạo và sở hữu đội ngũ đào kép thanh xuân ra đời trong tình hình mới với khoảng 20 diễn viên ca diễn đồng đều như Nguyên Tâm, Vương Tuấn, Ngân Cường, Tấn Hùng, Vương Sang, Duy Thanh, Kim Ngà, Huyền Châu, Kim Phụng, Thùy Trang, Thanh Thủy... bên cạnh một thế hệ nghệ sĩ dày dặn nghề nghiệp như Hữu Lộc, Ánh Hồng, Đoàn Dự, Phương Tùng, danh cầm Hoàng Huệ. Nhiều kịch bản mới ra đời có nội dung ca ngợi đất và người Long An trong kháng chiến và xây dựng Tổ quốc như Hãy yêu nhau thật lòng, Lửa thần, Ánh sáng phù du, Trà hoa nữ, Cánh hoa trong bão táp, Người đánh rơi hạnh phúc, Bà mẹ vùng ven... Từ đây, Đoàn nghệ thật Cải lương Long An bám vào mục tiêu nhiệm vụ chính là là phục vụ khán giả tỉnh nhà.

Trong bối cảnh tình hình cải lương cả nước đang trên đà tuột dốc, ngay cả như trung tâm cải lương là Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều đoàn lớn cũng thất thu, một số tạm ngừng hoạt động... để đi tìm hướng đi mới trong quá trình chuyển giao, thì Long An là đơn vị đi đầu.

 Từ năm 1998 về sau, Đoàn luôn có nhiều nỗ lực nâng cao chất lượng nghệ thuật phục vụ nhân dân, có thêm nhiều đào kép chính như Tuyết Ngân, Thanh Dũng, Bảo Thanh, Mỹ Thu, Mai Thắm, Hồng Hạnh... dàn nhạc ngoài nhạc sĩ Hoàng Huệ có thêm Văn Đuộc, Lê Kiệt, Quốc Tú, Thanh Nguyệt, ngoài những vở diễn cũ nay có thêm Vụ án chàng Trương, Võ Văn Tần một dấu son, Hồn đàn, Hương tràm, Nghĩa sĩ Cần Giuộc... Thời điểm này Đoàn còn phục vụ miễn phí mỗi năm từ 60-80 suất phục vụ nhân dân vùng sâu vùng xa và từ năm 2000, Đoàn diễn không doanh thu hoàn toàn với 120-150 suất diễn/năm với mục đích ý nghĩa "đền ơn đáp nghĩa". Ngoài nhiệm vụ chính trị tỉnh giao, Đoàn còn được đầu tư cho những cuộc Liên hoan, Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, nhiều cá nhân đoạt huy chương vàng, bạc và có người trưởng thành, nghề vững vàng như Hồ Ngọc Trinh, Nguyên Tâm, Vương Sang, Vương Tuấn... Từ năm 2005, Đoàn tiếp tục được bổ sung nhiều diễn viên triển vọng được đào tạo chính qui như Mai Thắm, kế đó là Chí Thanh, Hoàng Oanh, Trần Minh, Khánh Quỳnh, Phương Nhi, Trọng Tánh... để tiếp tục duy trì hai thế hệ, tiếp tục khẳng định là một trong những đơn vị nghệ thuật mạnh, thanh xuân của khu vực phía Nam. Về nghệ thuật, Đoàn còn được rộng rãi khán giả biết đến qua màn ảnh nhỏ của nhiều đài truyền hình phía Nam như Đài Phát thanh và Truyền hình Long An, Đài truyền hình Cần Thơ (VTV), Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh... với những vở Người đánh rơi hạnh phúc, Lửa thần, Nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bà mẹ vùng ven, Võ Văn Tần một dấu son, Trở lại chiến trường xưa, Hồi xuân dược, Hãy yêu nhau thật lòng...

Kể từ khi Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An ổn định cơ cấu tổ chức và thanh xuân hóa lực lượng (1994) đến nay, Đoàn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tỉnh giao, được các cấp chính quyền, ngành từ Trung ương đến địa phương tặng nhiều bằng khen, giấy khen cho tâp thể và cá nhân; tham dự nhiều lần Liên hoan, Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, giành nhiều huy chương vàng, bạc, đồng. Đặc biệt, Đoàn đã có 8 nghệ sĩ được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT là các nghệ sĩ Ánh Hồng (Huy chương Vàng giải Thanh Tâm, 1962), Hữu Lộc, Đoàn Dự, Mỹ Thu, Hồ Ngọc Trinh, Phương Tùng, Tuyết Ngân và Nguyên Tâm.

Nhưng thành công lớn nhất và đáng quí nhất của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An chính là đã để lại tình cảm, dấu ấn sâu đậm trong lòng công chúng nhân dân tỉnh nhà. Vắng Đoàn bà con nhắc, Đoàn đến bà con mừng, Đoàn đi bà con luyến tiếc. Đó chính là thành tựu lớn lao của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An tạo dựng nên dù phải trải qua những bước thăng trầm của cải lương cả nước nói chung./.

            Nguyễn Tấn Quốc

(Còn tiếp)


Kỳ 3: "Cải cách hát ca theo tiến bộ"

12/09/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Làng trống Bình An đón TếtLàng trống Bình An đón Tết

    Thập niên 50 của thế kỷ trước, trống Bình An đã nổi tiếng khắp Nam Bộ và lan xa đến miền Trung... Những ngày chuẩn bị đón tết Nhâm Thìn, không khí lao động ở Bình An rộn rịp hẳn lên vì tín hiệu vui: trống Bình An đã có dịp xuất sang nước ngoài như: Mỹ, Pháp, Úc, Singapore, Trung Quốc, Anh, Campuchia, Hàn Quốc…

    Từ trong nước đến xuất khẩu

    Làng trống Bình An thuộc ấp Bình An xã Bình Lãng, huyện Tân Trụ, Long An. Từ trung tâm huyện, phải đi bộ  băng qua cánh đồng lúa mênh mông hàng trăm hécta chín vàng mơ, đi vào con đường bê tông nhỏ khoảng 1 cây số là đến làng trống. Ông Nguyễn Văn Mến (Năm Mến), một nghệ nhân có thâm niên làm trống cho biết có 20 loại trống, từ trống Sư tử 1,3 triệu đồng  đến 1,5 triệu đồng đến trống Cơm 2,4 triệu đồng, tùy theo kiểu dáng, kích cỡ.

   Ông Năm vừa chỉ các loại trống vừa giải thích cặn kẽ. Đây là loại trống cổ bồng xưa, đít bằng sành, bịt nhựa giống đờn độc huyền, vỗ ra nhiều chữ. Kia là chiếc trống cơm cũ, người ta tiếc rẻ nên thuê bịt lại.

    Năm Mến khoe: “Cái trống khá to do ông cùng nhóm thợ làm ròng rã gần 20 ngày công mới giao cho khách hàng ở tận Cà Mau lên, trị giá 6 triệu đồng. Những loại trống này mỗi tháng làm hàng chục cái là chuyện thường. Cách đây mấy tháng, tôi làm cái trống cao 2,5m; mặt rộng 1,5m; trị giá 25 triệu đồng, mới là cái trống lớn kỷ lục!”

    Chúng tôi nhìn lên tường thấy treo Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng cho ông Năm, một nghệ nhân có nhiều thành tích.

    Năm Mến nhớ lại lời ba ông kể hồi nhỏ, nghề trống ra đời cách đây khoảng 150 năm, do ông cố của ông là Nguyễn Văn Ty khởi xướng. Thời đó, ông Ty có ghe chài chuyên đi mua bán nước mắm từ Long An sang các tỉnh miền Tây.

    Trong quá trình đi buôn, ông Ty phát hiện dọc sông Vàm Cỏ nhiều người làm thịt trâu bỏ da. Thấy vậy, ông mang da trâu về phơi khô rồi mày mò làm trống. Do chưa có kinh nghiệm và thiếu đồ nghề nên trống làm ra tiếng kêu không được thanh và nhỏ xíu. Ngoài gia đình ông Năm Mến, còn những hộ làm trống lâu đời như: Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Văn Tùng…, tất cả đều dòng họ Nguyễn.

     Sau khi ông Ty qua đời, truyền sang ông nội của Năm Mến là Nguyễn Văn Tịnh, sau đó cha ông là Nguyễn Văn Tình, sang đời ông và các con ông: Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn An (đặt tên ghép để nhớ kỷ niệm làng trống Bình An) đã là năm đời làm trống. Riêng ông Năm Mến, làm trống từ năm 16 tuổi đến nay đã 63 xuân.

     Năm Mến cho biết: “Những thợ làm trống mày mò và sáng chế ra phương pháp dùng giàn chò, giàn giáo… để làm công cụ bịt trống; thân trống được làm bằng gỗ Sao rất tốt đảm bảo độ bền cao. Trống được sơn màu đỏ và thiết kế bề ngoài khá đẹp nên rất được ưa chuộng.”

     Làm trống có trên 20 công đoạn. Để làm được trống chất lượng, đảm bảo tiếng kêu tốt và độ bền cao, phải tìm cho được loại da trâu già, vừa mới làm thịt, tuyệt đối không dùng da trâu đã ngâm muối. Sau đó mang da trâu về căng ra phơi khô, lấy cỡ mặt trống, cắt da tròn rồi mới bịt…

     Địa chỉ mua da trâu tươi thường là các lò mổ Phú Thọ (Chợ Lớn), Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh được các nghệ nhân đưa về Long An, dùng gỗ Sao hay Lồng Mứt đốt lửa uốn ngay rồi căng phơi.

     Làng trống Bình An có 26 hộ, hầu hết là nông dân, trong đó có đến 19 hộ ở ấp Bình An, sau đó các anh chị này lập gia đình, đem nghề truyền lại cho các gia đình ở Bình Tịnh, Lạc Tấn và Mỹ Bình.

     Để tồn tại và phát triển, các cơ sở sản xuất trống ở Bình An liên tục thay đổi mẫu mã, hình thức, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Nếu như mấy năm trước, tất cả các công đoạn hầu như chỉ làm bằng phương pháp thủ công truyền thống, hai năm trở lại đây, các nghệ nhân cải tiến từ dụng cụ thủ công chuyển một số công đoạn sang cơ giới hóa và điển khí hóa như: khoan điện, bào, sơn tĩnh điện, chà giấy nhám…

     Ông Năm Mến giải thích thêm: “Tùy theo từng loại trống mà có cách làm da và bịt khác nhau, như trống lân thì làm da dày và bịt thẳng để kêu bong tiếng; trống nhạc lễ thiết kế khi đánh lên nghe tiếng âm dương, cao thấp; rồi trống trường, trống đình, chùa… mỗi loại đều có tiếng kêu riêng biệt”.  Độ bền của trống Bình An kéo dài từ 20- 30 năm mới lủng, sau đó bịt lại mặt và tiếp tục sử dụng.

     Ông Nguyễn Tấn Thành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Lãng, phấn khởi báo tin: “Vừa qua các hộ làm trống được vay 300 triệu đồng từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm. Mỗi hộ được vay từ 12 đến 15 triệu đồng trong 2 năm, lãi suất 0,65%/tháng, nếu có nhu cầu sẽ được đáo hạn. Ngoài ra, Sở Khoa học Công nghệ Long An còn hỗ trợ trên 50 triệu đồng đầu tư cơ giới hóa .” 

Ông Năm Mến giới thiệu trống với khách hàng

     Thương hiệu cho làng trống

     Tân Trụ là huyện nghèo nhất tỉnh. Nhiều cơ sở sản xuất trống “ăn nên làm ra” vươn lên khá giả. Như gia đình anh Ba Khía, không có tấc đất cắm dùi, nhờ nghề làm trống mà anh xây được nhà kiên cố và nuôi 4 con học lên đại học. Rồi ông Năm Mến, nuôi 7 người con có cuộc sống ổn định cũng từ nghề trống mà ra. Hộ ông Nguyễn Văn Lương, ông Hai Phú… cũng sống nhờ vào trống. Theo tổng hợp của địa phương, hiện tại đa phần các nghệ nhân làm trống đều có nhà tường khang trang  và mua sắm nhiều phương tiện nghe nhìn, hon da, điện thoại đủ đầy…

     Để nhân rộng nghề làm trống và mở thêm thị trường xuất khẩu, chính quyền địa phương đã phối hợp cùng các cơ sở thành lập Tổ hợp tác sản xuất trống nhằm tăng cường nguồn vốn, trao đổi tay nghề và mở rộng thị trường hướng đến xuất khẩu phát triển bền vững…

     Sắp tới, các ngành chức năng ở huyện Tân Trụ đang xúc tiến xây dựng thương hiệu độc quyền cho “trống Bình An”.

     Ông Nguyễn Kỳ Đức, Phó Chánh văn phòng UBND tỉnh Long An, cho biết ngoài các làng chiếu Bến Lức, Cần Đước và Tân Trụ-Long An hiện nay địa chỉ làng trống Bình An đang được UBND tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn đưa vào danh mục điểm du lịch trong tua chính phục vụ du khách khi đến tham quan Long An.

     Hiện tại, làng trống Bình An đang tất bật vào mùa sản xuất phục vụ nhu cầu tết Nguyên đán. Có điều da trâu tươi tăng lên 70%, với giá từ 14 ngàn đồng tăng lên đến 27 ngàn đồng/ký.

     Dù hút hàng nhưng giá trống bán ra vẫn giữ như cũ hoặc nhích lên chút ít. Giá mỗi cái trống trung bình từ 200 ngàn đồng đến hơn 20 triệu đồng (tùy lớn nhỏ), trống lân có giá 3,5-4 triệu đồng/cái, trống múa sư tử, múa rồng giá hơn 1 triệu đồng/cái, trống chầu, trống trường giá 4,8 triệu đồng/cái. Trừ chi phí cơ sở sản xuất còn lời 10%-20%. Riêng thợ làm trống được trả công 150.000đ/ngày, cao hơn nhiều so với làm những nghề khác.

     Theo ông Nguyễn Văn Ngọt, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Du lịch Long An, sắp tới tỉnh đang có kế hoạch xúc tiến đầu tư, mời gọi các doanh nghiệp liên kết phát triển làng nghề gắn kết với du lịch để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước một sản phẩm độc đáo truyền thống của địa phương.

                                                                                       Bài và ảnh: Hùng Cường
                                                         (Chi hội Văn nghệ dân gian thành phố Cần Thơ)

05/03/2012 1:14 SAĐã ban hànhApproved
Huyện Tân Hưng thực hiện Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóaHuyện Tân Hưng thực hiện Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

Thực hiện Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 22/01/2014 của UBND huyện Tân Hưng về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH) huyện Tân Hưng. Trong thời gian qua, BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH huyện đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng về nội dung và phương thức hoạt động, thực hiện đạt được những kết quả nhất định

Về thực hiện nhiệm vụ của BCĐ và cơ quan thường trực BCĐ:

- Hoạt động của BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH nhằm chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH ngày càng sâu rộng, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về văn hóa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. 

- Hàng năm, đề ra kế hoạch hoạt động với các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể và các giải pháp để thực hiện có hiệu quả, nhất là công tác tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH.

- BCĐ huyện thường xuyên được kiện toàn khi có thành viên BCĐ thay đổi do chuyển công tác khác, có phân công thành viên phụ trách từng xã, thị trấn. Thực hiện hội họp theo định kỳ và tổ chức sơ kết hàng năm, tổng kết theo giai đoạn khi có sự chỉ đạo của BCĐ tỉnh. Tổ chức kiểm tra, phúc tra phong trào theo định kỳ 6 tháng, năm đối với cơ sở để kịp thời hỗ trợ, tìm các giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện phong trào. Tổ chức xét thi đua khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, có đóng góp cho phong trào.

- Quan tâm chỉ đạo các xã, thị trấn thường xuyên kiện toàn BCĐ, ban hành Quy chế làm việc và xây dựng kế hoạch hoạt động với các chỉ tiêu cụ thể để phấn đấu thực hiện có hiệu quả.

Quang cảnh buổi làm việc.JPG

Quang cảnh buổi làm việc

Về thực hiện nhiệm vụ của thành viên BCĐ:

- Thành viên BCĐ dự họp đầy đủ, tham gia tốt các đoàn kiểm tra, phúc tra phong trào xây dựng đời sống văn hóa hàng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu, tich cực tham gia góp ý xây dựng phong trào.

- Chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các tiêu chí của phong trào TDĐKXDĐSVH thuộc ngành, lĩnh vực mình phụ trách. Định kỳ báo cáo về Thường trực BCĐ theo yêu cầu hoặc đột xuất.

Về thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thành viên BCĐ:

- Các cơ quan thành viên của BCĐ phụ trách các mô hình, phong trào cụ thể lồng ghép vào việc thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH, cụ thể như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện chủ trì thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Liên đoàn Lao động huyện chủ trì thực hiện phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa, Công an huyện chủ trì thực hiện phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc", Phòng Giáo dục và Đào tạo chủ trì phong trào "Trường học thân thiện, học sinh tích cực"

- Hàng năm các ngành thành viên và cơ sở xây dựng kế hoạch hoạt động, bám sát vào nhiệm vụ chuyên môn, các ngành thành viên đeo bám tiêu chuẩn ngành mình phụ trách để tham gia thực hiện phong trào. Định kỳ có kiểm tra kết quả thực hiện và báo cáo với cơ quan thường trực.

- Công tác phối hợp với cơ quan thường trực cũng như giữa các ngành thành viên huyện với cơ sở được thực hiện thường xuyên, liên tục như: Hỗ trợ cơ sở tổng vệ sinh môi trường, tập trung nguồn lực đầu tư theo lộ trình xây dưng xã đạt chuẩn văn hóa.

- Công tác tuyên truyền vận động từng bước được thực hiện và được nhiều tầng lớp nhân dân ủng hộ tham gia phong trào và mang lại hiệu quả.

Về chế độ làm việc của BCĐ:

BCĐ huyện đã thực hiện tương đối tốt chế độ làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, Trưởng BCĐ trực tiếp lãnh đạo, điều hành hoạt động của BCĐ. Thường trực BCĐ và các thành viên BCĐ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, tuân thủ theo sự phân công của Trưởng ban.

BCĐ hội họp theo định kỳ 03 tháng một lần, trong trường hợp cần thiết, có thể họp bất thường.

Tổ chức kiểm tra, phúc tra phong trào TDĐKXDĐSVH mỗi năm 02 lần, riêng đối với các xã đang trong lộ trình xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa thì Thường trực BCĐ cùng với một số ngành thành viên thường xuyên kiểm tra, hỗ trợ việc thực hiện phong trào.

Nguyên nhân đạt được:

- Các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện phong trào được triển khai kịp thời, phù hợp với thực tế ở địa phương, cơ sở và được sự đồng thuận trong xã hội.

- Công tác lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp được kịp thời, công tác kiểm tra đánh giá hiệu quả phong trào được duy trì theo hướng không ngừng nâng cao chất lượng phong trào. Từ đó, tạo được lòng tin trong nhân dân.

- Các ngành và cơ sở có sự phối hợp thực hiện phong trào, có đề ra kế hoạch thực hiện, có kiểm tra, đánh giá kết quả theo từng thời gian.

- Công tác tuyên truyền, vận động phong trào từng bước đi vào chiều sâu, làm cho người dân thấy được hiệu quả cũng như lợi ích của phong trào.

- Ban chỉ đạo các cấp được kiện toàn theo đúng qui định, đảm bảo được quy chế hoạt động, từng thành viên có trách nhiệm với phong trào và tham gia thực hiện.

Hạn chế, tồn tại:

- Công tác tuyên truyền chưa đi vào chiều sâu, còn nhiều người dân chưa nắm hết được nội dung tiêu chí của gia đình văn hóa, ấp, khu phố văn hóa. Thành viên BCĐ có lúc, có nơi chưa bám sát nhiệm vụ thành viên của mình tham gia phong trào nên chưa chủ động trong chỉ đạo thực hiện các tiêu chuẩn của ngành, lĩnh vực mình phụ trách.

- Còn nhiều ngành thành viên chưa xây dựng được kế hoạch hoạt động của ngành mình thực hiện phong trào mà chủ yếu lồng vào kế hoạch chuyên môn của ngành, lĩnh vực mình phụ trách nên hiệu quả hoạt động đạt được chưa cao.

- Công tác phối hợp giữa các ngành thành viên với nhau và với cơ sở có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thông tin thiếu kịp thời. Tính chủ động thực hiện phong trào ở một số ngành thành viên và cơ sở còn nhiều hạn chế.

- Công tác tham gia hội họp BCĐ, sơ kết phong trào, công tác phúc tra đời sống văn hóa hàng năm cũng như tham gia đoàn kiểm tra đột xuất phong trào vẫn còn một số thành viên cử nhân viên đi thay chưa nắm hết nội dung lĩnh vực mình phụ trách nên chưa phát huy được trách nhiệm của ngành mình thực hiện phong trào.

Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại:

- Công tác lãnh, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, nhất là ở cơ sở có lúc, có nơi chưa thật chặt chẽ, thiếu thường xuyên.

- Do công việc chuyên môn nhiều nên nhiều ngành thành viên chưa đeo bám phong trào, có thành viên Ban chỉ đạo huyện ít đi cơ sở để hỗ trợ cho phong trào.

- Kinh phí hoạt động của BCĐ huyện và cấp xã còn hạn chế chủ yếu phục vụ hội họp, kiểm tra, sơ kết, các khoảng kinh phí để phục vụ phong trào như công tác tuyên truyền, khen thưởng, in ấn giấy công nhận các danh hiệu văn hóa còn gặp  khó khăn.

Một số giải pháp thực hiện trong thời gian tới:

- Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Quy chế hoạt động của BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH cho phù hợp với thực tế, phân công phân nhiệm cụ thể từng thành viên BCĐ. Kiện toàn lại thành viên BCĐ huyện, hướng dẫn kiện toàn thành viên BCĐ các xã, thị trấn.

- Đảm bảo các văn bản chỉ đạo của cấp trên đều được triển khai kịp thời, đúng qui định.

- Tập trung hơn nữa cho công tác tuyên truyền, vận động, kịp thời nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, khen thưởng, động viên kịp thời, tạo sức lan tỏa phong trào trong mọi tầng lớp nhân dân. Đài truyền thanh huyện duy trì,  nâng cao chất lượng tiết mục xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

- Từng ngành thành viên từ huyện tới cơ sở phải có kế hoạch cụ thể thực hiện phong trào, thường xuyên phối hợp với cơ sở để có các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Định kỳ và thường xuyên kiểm tra kết quả trên từng tiêu chí mà ngành mình phụ trách, có giải pháp duy trì và nâng cao chất lượng.

- Từng ngành thành viên và cơ sở đảm bảo chế độ báo cáo theo đúng qui định về cơ quan thường trực, công tác tham mưu, đề xuất phải kịp thời, đúng qui định. Đảm bảo chế độ hội họp, phân công, phân nhiệm rõ ràng, quy rõ trách nhiệm trên từng lĩnh vực gắn với đánh giá cán bộ, đảng viên, công chức cuối năm.

- Từng thành viên BCĐ từ huyện đến các xã, thị trấn phải bám sát địa bàn, định hướng xây dựng phong trào phù hợp với từng địa bàn; lắng nghe, thấu hiểu nhân dân, xác định nhiệm vụ cần làm để phát động phong trào đảm bảo hiệu quả và được nhân dân đồng thuận.

- Mặt trận Tổ quốc, các ngành, đoàn thể cần phát động sâu rộng trong nhân dân các mô hình thực tế như đường làng, ngõ xóm không rác thải, nhà nhà có hàng rào, cây xanh, từng hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, nhà đạt 3 sạch "sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ".

- Đảm bảo bố trí kinh phí cho hoạt động phong trào trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả./.

Bài, ảnh: Nguyễn Thị Liễu

 Phòng VH và TT huyện Tân Hưng.

28/04/2017 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Di tích Khu lưu niệm Nguyễn ThôngDi tích Khu lưu niệm Nguyễn Thông
  Về xứ thanh long huyện Châu Thành, bạn đứng quên ghé thăm nơi chôn nhau cắt rốn của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông. Từ thành phố Tân An, theo con đường mang tên ông đi về ấp Bình Trị II, xã Phú Ngải Trị khoảng 8 km là bạn đến di tích, nhân dân địa phương thường gọi là “Khu lưu niệm Nguyễn Thông”.

        Về xứ thanh long huyện Châu Thành, bạn đứng quên ghé thăm nơi chôn nhau cắt rốn của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông. Từ thành phố Tân An, theo con đường mang tên ông đi về ấp Bình Trị II, xã Phú Ngải Trị khoảng 8 km là bạn đến di tích, nhân dân địa phương thường gọi là “Khu lưu niệm Nguyễn Thông”.

        Long An thuộc đất Gia Định xưa là vùng đất có bề dày lịch sử-văn hóa, truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, là nơi đã sản sinh ra nhiều nhân vật lịch sử mà cuộc đời đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp lớn lao, có nhiều danh nhân đỗ đạt của cả nước, trở thành niềm tự hào chung cho các thế hệ sau. Nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông là người con ưu tú của đất Long An như thế.

        Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am, sinh năm 1827 trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Bình Thanh, tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, Gia Định (nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An). Ông thi Hương đổ cử nhân năm 22 tuổi, khi thi Hội bài vấy mực nên bị đánh hỏng. Ông bắt đầu cuộc đời quan trường năm 1851 với chức Huấn đạo Phú Phong tỉnh An Giang. Suốt 35 năm làm quan với nhiều chức vụ như  đốc học Vĩnh Long, Bố chánh Quảng Ngãi, An sát Khánh Hòa, Doanh điền sứ Bình Thuận, Tư Nghiệp Quốc Tử Giám…., hoạt động trên nhiều lĩnh vực thủy lợi, kinh tế, sử học, văn học, văn hóa, giáo dục,… Nguyễn Thông  tỏ ra là một nhà lãnh đạo có tài, luôn đấu tranh và đem lại quyền lợi cho nhân dân, một trí thức lớn, một nhà thơ yêu nước thương dân…. Năm 1859 thực dân Pháp đánh thành Gia Định,tro ng khi vua quan triều đình Tự  Đức bất lực, ông không do dự tòng quân vào Nam chiến đấu và trở thành  trợ thủ đắc lực của Thống đốc quân  vụ Tôn Thất Hiệp. Sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ (2.1861) ông về Tân An hoạt động chống Pháp trong phong trào Trương Định cùng với các thủ lĩnh nghĩa quân địa phương như Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị.Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ,ông đề đạt nhiều ý tưởng và kế hoạch độc đáo trong việc đồn khẩn vùng tây bắc Bình Thuận để kháng Pháp lâu dài,nhưng triều đình Huế bạc nhược đã ngăn cản kế hoạch trên.

        Sau nhiều năm hoạt động gian khổ và tâm huyết cùng bao u uất trước vận nước lúc bấy giờ, ngày 27.8.1884 Nguyễn Thông mất tại Ngọa du sào- Phan Thiết (Bình Thuận), nơi sau này các con ông là Nguyễn Quý Anh và Nguyễn Trọng Lội đã tiếp nối truyền thống, thành lập Dục Thanh học hiệu (1) mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh) đã ghé dạy học (3.1909) khi trên đường vào Nam tìm đường cứu nước.

        Về mặt trước tác, Nguyễn Thông để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên công độc, Ngọa du sào văn tập, Việt sử cương giám khảo lược.Theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong “Nghiên cứu lịch sử” số 221, Nguyễn Thông còn là tác giả sách “Kỳ Xuyên thi sao” mới tìm thấy ở miền Nam.

Cuộc đời hoạt động và trước tác của Nguyễn Thông để lại đã khẳng định ông là một nhà hoạt động văn hóa lớn, một trí thức lớn đã thể hiện tấm lòng yêu nước một cách trọn vẹn trong thời kỳ lịch sử đầy biến động ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX.

Nguyễn Thông (1827-1884)

Bia đá Nguyễn Hanh (thân sinh cụ Nguyễn Thông) do Nguyễn Thông lập năm 1868 tại khu di tích Khu lưu niệm Nguyễn Thông.

 Bia do Sở VH-TT Long An lập tại di tích năm 1984

 Mộ cụ Nguyễn Thông ở thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

   

Gươm lịnh và thước của cụ Nguyễn Thông, do cháu cố là bà Nguyễn Thị Minh Trinh đang lưu giữ và thờ tự tại Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Gian thờ cụ Nguyễn Thông của con cháu tại Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

        Nguyễn Thông an nghĩ vĩnh viễn trên quê hương thứ hai Bình Thuận, nhưng nơi sinh ra ông, tên ông đã thành tên đường, tên trường học. Khu vườn nhà ông nay là khu lưu niệm. Đó là một quần thể (rộng 543m2) gồm công trình bia lưu niệm (xây dựng năm 1984 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Thông), nền nhà cũ, mộ phần của bà nội và song thân của Nguyễn Thông bằng đá ong (laterit). Đặc biệt tại đây còn một bia đá cẩm thạch do chính ông tạo lập năm 1868, loại bia một mặt có kiểu dáng và trang trí mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn. Nội dung bia xác định vị trí các ngôi mộ, năm sinh ,năm mất và một bài minh ca ngợi công đức thân sinh ông là Nguyễn Hanh. Ngày nay, “Khu lưu niệm Nguyễn Thông” là địa điểm tham quan, thăm viếng, là địa chỉ về nguồn của học sinh,sinh viên. Bia đá do ông lập là di sản quí ở địa phương, là tư liệu góp phần tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Thông.

        Năm 2001” Khu lưu niệm Nguyễn Thông “ được Bộ văn Hóa & Thông tin công nhận là di tích Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT ngày 19-01-2001).

        Từ sau khi có Nghị quyết Trung ương V khóa 8 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy, trong những năm qua, tỉnh đã triển khai Dự án trùng tu tôn tạo di tích lịch sử-văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông với tâm huyết sao cho xứng tầm với giá trị của di tích.

        Ngày 26/8/2011, Khu lưu niệm Nguyễn Thông được khởi công trùng tu, xây dựng với các hạng mục: khuôn viên mộ, khuôn viên nhà, bia mộ, san nền. Đây là những hạng mục rất quan trọng trong nhiều hạng mục của dự án nhằm bảo tồn, trùng tu những di tích gốc của khu di tích. Theo kế hoạch, các hạng mục này sẽ được hòan thành trong vòng 90 ngày.

        Với lòng kính trọng và tình cảm sâu sắc đối với thế hệ tiền nhân, việc trùng tu xây dựng Khu lưu niệm Nguyễn Thông việc làm hết sức ý nghĩa trong việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho nhân dân, vừa đáp ứng  nguyện vọng của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà, đặc biệt là của huyện Châu Thành-là nơi sinh ra nhà trí thức yêu nước tiêu biểu của Long An và Nam Bộ thế kỷ XIX. Đây là bước đầu của việc hình thành khu di tích này trong tương lai, sẽ góp phần giáo dục truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh của cha ông trên đất Long An, mà còn là điểm tham quan học tập, góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn mới ở xã Phú Ngãi Trị đang trên đà phát triển, cùng với các di tích trọng điểm khác ở huyện Châu Thành đang được trùng tu, xây dựng sẽ tạo nên bộ mặt văn hóa của huyện nhà, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương./.

                                                                                     Bài, ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

(1) Cùng với Liên Thành thư xã và Liên Thành thương quán là 3 cơ sở hoạt động yêu nước và tiến bộ ở miền Nam lúc bấy giờ.

02/12/2011 7:31 SAĐã ban hànhApproved
VANG MÃI “BẢN GIAO HƯỞNG” PHƯƠNG NAM VANG MÃI “BẢN GIAO HƯỞNG” PHƯƠNG NAM
Khi nước lũ bắt đầu tràn đồng và nông dân nơi đồng bằng sông Cửu tạm gác lại những ngày mùa cũng là lúc quê biển Kiên Giang bắt đầu đón các tỉnh, thành Nam Bộ về dự Liên hoan Đờn ca tài tử (ĐCTT). Như mọi năm, Liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang lần 2 năm 2013 là dịp những tri âm, tri kỷ so lại phím đàn, cất vang điệu hát. Điều này không những bảo tồn loại hình nghệ thuật dân gian mà qua đây, “bản giao hưởng” Phương Nam sẽ ngân mãi điệu đàn réo rắt cùng lời ca ngọt lịm…

6.JPG

TIẾT MỤC THAM DỰ LIÊN HOAN CỦA ĐỘI ĐCTT LONG AN

Tiếng lòng phương Nam

Cùng với 17 đội tham dự liên hoan, Đội ĐCTT tỉnh Long An đem đến cho khán giả một bữa tiệc đơn sơ nhưng đậm nét tao nhã dân gian. Với bối cảnh là buổi sinh hoạt Câu lạc bộ ĐCTT ở phường diễn ra tại nhà của Chủ nhiệm – một gia đình có 3 thế hệ đam mê và chung thủy với ĐCTT, các tải tử đờn, ca đã chuyển tải khá trọn vẹn tiếng lòng của người Phương Nam với quê hương đất nước. Đó là âm điệu vui tươi, khoan khoái khi ca ngợi về tiết nghĩa, chí khí của người Anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực qua tiết mục Hòa đờn ca điệu Lưu thủy trường “Sáng mãi ngọn lửa hồng” mà Nghệ sĩ ưu tú Đoàn Dự đã thể hiện.

Chương trình tham dự liên hoan còn là những tiết mục nói về nỗi lòng người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Với “chất” bi thiết, oán hờn của điệu Phụng cầu, lòng khán giả như tê tái khi nghe tài tử ca Hồng Cúc cất lên tiếng hát buồn “Nghe mưa ngâu là thương cách trở…” hay “Bởi chiến chinh mà bao chinh phụ đợi chinh phu” trong bài “Mưa ngâu”. Ngoài ra, tiếng lòng người Phương Nam trong từng điệu đờn, câu hát còn thể hiện qua những âm vang ngợi ca và sẻ chia nỗi đau của đất nước, người mẹ. Khán giả đã “bắt gặp” điều này qua cái buồn ảo não của điệu Nam ai trong bài “Quê hương và mẹ” và bài Vọng cổ nhịp 32 “Nỗi lòng của mẹ” do Hoàng Oanh, Hồng Cúc trình bày. Ngoài ra,  trong ĐCTT, ngoài song tấu, độc tấu, tiếng đàn, lời ca và các nhạc khí luôn hòa quyện vào nhau như bạn tri kỷ, tri âm. Vì vậy, cùng với các tiết mục Hòa đờn ca đã “trình làng”, Đội ĐCTT Long An vẫn không quên mang đến liên hoan những âm hưởng Hòa tấu điệu xàng xê – một tiết mục mà Nghệ sĩ ưu tú Thiện Vũ, thành viên Ban Giám khảo nhận xét “đúng lớp xề hơi hạ và nghe rất “đã””.

Tuy nhiên, không đợi đến liên hoan ĐCTT thì khúc nhạc lòng mới trỗi lên. Ngược lại, những nỗi niềm tâm sự được gửi gắm vào ĐCTT luôn hiện diện thường xuyên trong đời thường của người dân miền sông nước. Như anh Nguyễn Minh Vương, ngoài tiết mục vọng cổ nhịp 16 “Tâm sự Cao Văn Lầu” tham dự liên hoan, anh còn sáng tác rất nhiều bản ca gắn với cuộc sống hằng ngày. Là nông dân “rặc”, những lúc làm vườn ở Tây Ninh, mở bản đờn đã lưu trong điện thoại, anh lại hát 20 câu Nam Xuân “Nhớ cha” hay vọng cổ Tình mẹ tình quê; Nỗi niềm… “Từ những câu chuyện, hình ảnh, tâm sự của mình trong đời sống, tôi viết những lời ca ấy để nhớ về người thầy đã dạy tôi học nhịp và để nổi nhớ về quê nhà Đức Huệ, bạn bè trải dài theo lời ca… Hơn nữa, hát lúc làm vườn cũng giúp tôi quên mệt nhọc”. Anh Vương tâm sự.

Niềm tin vào lớp trẻ

Nhạc sư Nguyễn Quang Đại đã an giấc nghìn thu nhưng loại hình ĐCTT mà ông khai sáng vẫn được kế thừa, phát huy đến tận hôm nay trên đất Long An. Đặc biệt, “hậu duệ” của nhạc sư hôm nay đã có những gương mặt trẻ xuất hiện tại Liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang. Đó là bé Nguyễn Ngọc Hoàng Oanh – Lớp 10, Trường Trung học phổ thông Tân An vốn say mê ĐCTT từ năm 6 tuổi chỉ vì lý do - “đây là nét đặc sắc văn hóa của dân tộc nghe ngọt bùi, mộc mạc chân quê và dễ đi vào lòng người”. Đã thích thì phải theo nên em đăng ký học ĐCTT để biết nhịp, cách nhấn nhá, luyến láy. Và muốn tiến bộ, ngoài những giờ học trên lớp, Hoàng Oanh còn sắp xếp thời gian tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ ĐCTT ở phường, thành phố Tân An. Suốt mấy năm ròng “đeo đuổi” loại hình nghệ thuật dân gian, niềm vui nhất với Hoàng Oanh chính là những lần “ẫm” giải thưởng tại các cuộc liên hoan. Trong Liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang lần 2 năm 2013, Nghệ sĩ nhân dân Bạch Tuyết đã nhận xét: “Hoàng Oanh dù nhỏ tuổi nhưng giọng ca đầy đặn như người lớn”. Lời nhận xét ấy là tín hiệu vui cho nghệ thuật ĐCTT khi vẫn còn đó những tài tử trẻ như Hoàng Oanh.

Còn với “tay đờn” Tấn Khoa, hơn 40 năm làm bạn với tiếng đờn kìm, đờn cò, những âm thanh réo rắt, du dương khi khoan, khi nhặt ấy như một phần hơi thở trong đời sống của ông. Yêu tiếng đàn, “say” nghệ thuật ĐCTT  nhưng tuổi ngày cao nên mỗi khi nghĩ đến “tương lai” của nghệ thuật dân tộc,  ông lại chạnh buồn. Ông sợ, nếu mai này, tiếng đờn dần lùi vào dĩ vãng thì ĐCTT  cũng sẽ “đuối sức”. Bởi, tiếng đờn là một phần không thể thiếu, tạo nên cảm hứng cho tài tử ca. Ông Khoa bảo rằng: “ Nghệ thuật đờn đã khó nhưng trong ĐCTT, điệu đờn còn khó hơn. Tâm tấu nguời chơi đờn phải lão luyện để thể hiện tính sáng tạo. Ngoài ra, câu rao phải chín chắn và phù hợp với thể điệu. Chính vì cái khó và bản sắc nghệ thuật riêng ấy, tôi e, lớp trẻ bây giờ khó lòng mặn mà với nó”. Ông Khoa bộc bạch.

Nhưng không, ĐCTT sinh ra vốn là “đặc sản” của Nam Bộ nên đâu dễ mất đi. Dù có khó, vẫn có những tài tử đờn quyết tâm tìm hiểu. Và những người con của ông Khoa cùng những cái tên Trung Dung, Quốc Lễ… đã “xuất hiện” ở tuổi đời còn trẻ nhưng “ngón đờn” lại khá điêu luyện. Chính những điệu đờn ấy đã giúp ĐCTT giữ mãi sự tròn trịa cả “hồn” lẫn “sắc” và làm “mát lòng” những người “nặng tình” với loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống. Từ đội ngũ kế thừa giàu sức trẻ và lòng đam mê, nghệ thuật ĐCTT sẽ là bản giao hưởng phương Nam ngân mãi ngàn đời.

BOX:

Kết thúc liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang lần thứ 2 năm 2013, đội ĐCTT tỉnh Long An đạt giải B. Ngoài ra, em Hoàng Oanh đạt giải tài tử trẻ có triển vọng. Tiết mục Hòa tấu Xàng xê đạt giải A; tiết mục Vọng cổ Nhịp 16 “Tâm sự Cao Văn Lầu” do Nguyễn Minh Vương trình bày đạt giải A.

                                                                             Bài, ành: THÙY HƯƠNG​


22/10/2014 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An tham dự Hội nghị Thanh tra chuyên ngànhThanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An tham dự Hội nghị Thanh tra chuyên ngành

       Từ ngày 02-6 đến ngày 03-6-2016, tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT và DL) tổ chức Hội nghị thanh tra chuyên ngành cụm các tỉnh phía Nam, đóng góp ý kiến sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 71/2009/NĐ-CP ngày 28/8/2009 về tổ chức và hoạt động của thanh tra văn hóa, thể thao và du lịch; Nghị định 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo.

        Tham dự Hội nghị có ông Vũ Xuân Thành, Chánh Thanh tra Bộ VH, TT và DL - chủ trì hội nghị, ông Lê Thanh Liêm, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, ông Nguyễn Xuân Hoanh, Phó Giám đốc Sở VH, TT và DL tỉnh Vĩnh Long và đại diện Thanh tra  các Sở VH, TT và DL các tỉnh phía Nam.

QuangCanhHoiNghiThanhTra.JPG

Quang cảnh Hội nghị

        Nghị định 131/2013/NĐ-CP và Nghị định 158/2013/NĐ-CP được xây dựng căn cứ vào các luật, pháp lệnh chuyên ngành về văn hóa, thể thao và du lịch và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, có hiệu lực và qua thực tế  2 năm đi vào cuộc sống, bên cạnh những kết quả đạt được, đã bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót cần được sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan có thẩm quyền xử phạt. Nhiều hành vi mới xuất hiện do có những căn cứ pháp lý mới được ban hành như Nghị định số 15/2016/NĐ-CP ngày 15/3/2016 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật; trình diễn thời trang; thi người đẹp, người mẫu; lưu hành kinh doanh bản ghi âm, ghi hành ca múa nhạc, sân khấu; Nghị định 181/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo… Một số hành vi vi phạm có mức độ nghiêm trọng nhưng mức phạt tiền còn thấp, vì vậy không đảm bảo tính răn đe đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm và các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đó. Tuy nhiên, lại có một số hành vi có mức phạt tiền cao không khả thi với thực tế hoặc một số hành vi không được quy định tách bạch khi chủ thể có hành vi vi phạm cần phải được quy định lại và xác định rõ chủ thể của hành vi. Những vấn đề đó cần phải được giải quyết bằng việc xây dựng và ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 131/2013/NĐ-CP và Nghị định 158/2013/NĐ-CP, nhằm giải quyết hai vấn đề cơ bản là giải quyết sự bất cập về các hành vi vi phạm và sự bất cập về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Ông Vũ Xuân Thành (giữa), Chánh Thanh tra Bộ VH, TT và DL chủ trì hội nghị.JPG

Chánh Thanh tra Bộ VH, TT và DL Vũ Xuân Thành (người đứng) chủ trì Hội nghị

      Dự thảo có 7 điều sửa đổi, bổ sung của Nghị định 131/2013/NĐ-CP và 25 điều sửa đổi, bổ sung của Nghị định 158/2013/NĐ-CP. Do tính chất đối tượng điều chỉnh của Nghị định 131/2013/NĐ-CP do cấp Bộ giải quyết nên Hội nghị tập trung đóng góp đối với Nghị định 158/2013/NĐ-CP, trong đó đáng ý là bổ sung  các quy định chế tài đối với một số hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ văn hóa và sinh hoạt vui chơi giải trí gây bức xúc hiện nay như hoạt động trò chơi điện tử, không đảo bảo tiêu chuẩn về mức ồn tối đa cho phép… Riêng đối với Nghị định 71/2009/NĐ-CP, hội nghị thống nhất với dự thảo sửa đổi các điều 13, 14, 15.

      Kết luận hội nghị, Chánh Thanh tra Bộ VH, TT và DL Vũ Xuân Thành tiếp thu các ý kiến đóng góp của các đại biểu các tỉnh phía Nam, cùng với ý kiến đóng góp của các hội nghị đã tổ chức ở 2 cụm phía Bắc và miền Trung – Tây Nguyên là cơ sở thực tế quan trọng để Bộ VH, TT và DL tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh dự thảo các nghị định này, sớm trình Chính phủ ban hành. Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 131/2013/NĐ-CP và Nghị định 158/2013/NĐ-CP sẽ góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý trong lĩnh vực VH, TT và DL, tạo cơ sở đầy đủ để làm căn cứ thực hiện, đảm bảo sự bình đẳng, quyền và nghĩa vụ được thực hiện một cách triệt để  đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động, kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo./.

     Bài: Nguyễn Tấn Quốc

Ảnh: Đặng Hoàng Phong

Thanh tra Sở VH, TT và DL Long An

09/06/2016 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Đoàn Xiếc nhân dân Long An: HÀNH TRÌNH ĐẾN VỚI LIÊN HOAN XIẾC TRẺĐoàn Xiếc nhân dân Long An: HÀNH TRÌNH ĐẾN VỚI LIÊN HOAN XIẾC TRẺ

Những ngày đầu tháng 12 sắp tới, Đoàn Xiếc nhân dân Long An sẽ về thủ đô Hà Nội tham gia cuộc thi tài năng xiếc trẻ 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Đây vừa là niềm vinh dự đối với nghệ thuật xiếc tỉnh nhà vừa là cơ hội để các nghệ sĩ thể hiện tài năng, giao lưu học tập nghệ thuật xiếc với các nước bạn.

Đến với Liên hoan Xiếc trẻ, các nghệ sĩ của Đoàn Xiếc nhân dân Long An sẽ mang đến cho khán giả những phút giây hồi hộp, hấp dẫn qua 5 tiết mục: Đế thống, Tung hứng, Thăng bằng trên chồng ly, Chồng đầu trên đu và Thăng bằng trên thang. Những người "cầm lái" trong các tiết mục này đều là các nghệ sĩ trẻ, có tuổi đời dưới 27. Trẻ tuổi đời, tuổi nghề cũng chưa già dặn nên để các tiết mục đến với liên hoan một cách tốt nhất là một thử thách đối với các nghệ sĩ và đòi hỏi từng người phải tập luyện hăng say, nhuần nhuyễn. Thầy Hà Anh Đông – Giáo viên Trường Trung cấp Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam cho biết "Sau một tháng được mời hướng dẫn tập luyện các tiết mục tham gia liên hoan, các nghệ sĩ của Đoàn có nhiều tiến bộ. Dù các nghệ sĩ có kỹ năng xiếc tốt nhưng kỹ năng trình diễn còn yếu ở những kỹ xảo và nghệ thuật biểu diễn. Nhưng qua tinh thần nhiệt tình, tích cực tập luyện, các hạn chế đã được khắc phục. Bây giờ, các nghệ sĩ đã diễn khá tốt tiết mục của mình".

0316112015.jpg

TIẾT MỤC "THĂNG BẰNG TRÊN CHỒNG LY"

Các tiết mục được chọn tham gia Liên hoan là những tiết mục mà các nghệ sĩ đã từng biểu diễn phục vụ khán giả trong và ngoài tỉnh vào những chuyến lưu diễn. Tuy nhiên, đến với Liên hoan, các tiết mục được nâng cao thêm vài chi tiết khó nên các nghệ sĩ trẻ phải sáng tạo, xử lý nhanh nhạy và tập trung cao khi biểu diễn. Chẳng hạn như tiết mục "Đế thống", nếu trước đây chỉ giữ đế thống thăng bằng trên đầu thì bây giờ được nâng cao với chi tiết bịt mắt. Hay tiết mục " Thăng bằng trên thang", khi biểu diễn phục vụ khán giả, nghệ sĩ trẻ Công Lực chỉ đứng trên đầu thang nhưng khi được chọn tham gia liên hoan, anh phải tập luyện thêm động tác tung hứng trên thang. Nghệ sĩ Công Lực chia sẻ " Mỗi ngày, tôi đều dồn hết tâm sức tập luyện để mang đến Liên hoan tiết mục thật tốt. Để diễn thành thạo các chi tiết nâng cao, bản thân phải nhanh nhạy, linh hoạt trong từng kỹ thuật diễn. Ngoài ra, để tăng độ khó và tạo sự lôi cuốn, người diễn phải biết giao lưu với khán giả trong quá trình biểu diễn".

0216112015.JPG

TIẾT MỤC "CHỒNG ĐẦU TRÊN ĐU"

Bên cạnh đó, khi nhắc đến tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly", những ai đã từng xem Đoàn Xiếc nhân dân Long An biểu diễn sẽ nhớ ngay đến nghệ sĩ trẻ mang tên Thanh Thúy. 10 năm gắn bó với Đoàn Xiếc cũng là ngần ấy thời gian nghệ sĩ Thanh Thúy "thủy chung" với tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly". Tuy nhiên, điều này không làm cho khán giả nhàm chán mà mỗi lần xem nghệ sĩ Thanh Thúy biểu diễn, cảm giác hồi hộp, hứng thú vẫn mới mẻ như lần đầu. Nghệ sĩ Thanh Thúy bộc bạch "khi mới vào Đoàn, tôi được các nghệ sĩ giàu kinh nghiệm, những người thầy trong Đoàn dạy các động tác cơ bản đến khi thành thạo thì tôi diễn tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly"cho đến nay. Dù đây là tiết mục quen thuộc nhưng bản thân chưa bao giờ chủ quan mà luôn tập luyện thường xuyên trong mỗi mùa biểu diễn. Đặc biệt, đến với liên hoan, tôi hy vọng sẽ mang đến cho khán giả một tiết mục đặc sắc với nhiều chi tiết mới".

Thay vì thăng bằng trên 4 tầng ly như trước thì khi tham gia Liên hoan, tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly"  được tăng thêm 5 tầng với các động tác mới như tung hứng, quay khăn, nhảy vòng trên chồng ly. Việc giữ thăng bằng đã khó nhưng vừa thăng bằng trên ly, vừa thực hiện thêm các động tác mới nên nghệ sĩ phải nâng cao kỹ năng xiếc và nghệ thuật diễn như cách giữ thăng bằng lâu, lối diễn tự nhiên, nhẹ nhàng thu hút người xem...

Chỉ còn gần một tháng, các nghệ sĩ trẻ của Đoàn Xiếc nhân dân Long An sẽ đến với Liên hoan Xiếc trẻ 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Xin chúc các nghệ sĩ trẻ thành công để đưa nghệ thuật xiếc tỉnh nhà đến với khán giả trong nước và các nước láng giềng!

                                                                                                   Bài, ảnh: THÙY HƯƠNG

16/11/2015 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặcPhó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc

 
          Ông Đặng Văn Xướng - Chủ tịch HĐND tỉnh, ông Đỗ Hữu Lâm - Chủ tịch UBND tỉnh và ông Mai Văn Chính - Bí thư Tỉnh ủy Long An trò chuyện với  Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại  công viên - tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc

Nhân kỷ niệm lần thứ 66 năm ngày thương binh liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2013), ngày 24/7/2013, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội - Nguyễn Thị Kim Ngân cùng lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đến làm việc tại Long An.

 Đoàn đã dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Long An, trồng cây lưu niệm tại công viên - tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc, thăm các gia đình chính sách, Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh và làm việc với lãnh đạo tỉnh./.

                                                                                                                               Tin: Hồ Phan Mộng Tuyền
 
                                                                                                                                       Ành: Văn Ngọc Bích

02/08/2013 8:20 SAĐã ban hànhApproved
THÀNH PHỐ TÂN AN SƠ KẾT 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI THÀNH PHỐ TÂN AN SƠ KẾT 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI

 Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 41-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) trên địa bàn thành phố Tân An, nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt. Công tác tuyên truyền triển khai Chỉ thị luôn được quan tâm thực hiện từ thành phố đến xã, phường với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng địa phương; công tác vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự, phòng, chống cháy nổ trong lễ hội được thực hiện nghiêm túc; các di tích thường xuyên được đoàn viên, thanh niên, học sinh và nhân dân chăm sóc, bảo quản; công tác trùng tu, sửa chữa các di tích được quan tâm, trong đó đã sửa chữa Di tích Nhà Tổng Thận từ nguồn ngân sách nhà nước gần 1 tỷ đồng và đang trình hồ sơ đề nghị nâng cấp 2 cổng Lăng Nguyễn Huỳnh Đức. Ngoài ra, công tác xã hội hóa cũng được quan tâm thực hiện như vận động xã hội hóa tráng sân trước cổng, xây bồn hoa, gắn 2 camera an ninh Di tích Nhà Tổng Thận và xây dựng cổng Di tích Nhà Vuông với kinh phí 168 triệu đồng.

27-7-2020 hinh so ket 5 nam.jpg

Đoàn viên thanh niên tham gia dọn dẹp vệ sinh tại Di tích Nhà Tổng Thận

Trên địa bàn thành phố hiện nay có 7 di tích, trong đó có 1 di tích cấp quốc gia (Lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức), 6 di tích cấp tỉnh (Nhà Tổng Thận, Nhà thuốc Minh Xuân Đường, Đình Khánh Hậu, Đình Xuân Sanh, Nhà Vuông, Miếu Quan Thánh Đế) và các hoạt động tín ngưỡng (22 đình, 11 miếu) với trên 30 lễ hội khác nhau. Thông qua các hoạt động lễ hội nhằm giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn", tôn vinh người có công với dân, với nước, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế trong hoạt động lễ hội như: Ở một vài nơi vẫn còn tình trạng thắp hương nghi ngút, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của một số người tham gia lễ hội chưa tốt còn xả rác bừa bãi,… trong lễ hội.

Thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý và tổ chức lễ hội; thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh trong hoạt động lễ hội; vận động nhân dân tham gia lễ hội có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích; tăng cường công tác kiểm tra, rà soát địa bàn, kịp thời chấn chỉnh những vi phạm pháp luật về hoạt động lễ hội; phát huy vai trò của lễ hội trong việc bảo tồn và giữ gìn lễ hội truyền thống của địa phương, dân tộc đối với việc hội nhập và phát triển văn hóa của địa phương./.

Minh Liễu

27/07/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​