Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 258699
 
Thông tin Văn Hóa - Hội thi, hội diễn
 
​Hội thi Phụ nữ duyên dáng huyện Cần Đước lần thứ XVII năm 2020 do Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ huyện Cần Đước phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện tổ chức, đã diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo khán giả đến xem và cổ vũ, góp phần tạo nên không khí vui tươi trong những ngày Tết cổ truyền.Phần thi trang phục tự chọn và trang phục áo dài của các thí sinhPhần thi năng khiếuKhác ... 
 
​Hội thi chưng mâm ngũ quả và bình bông thờ cúng gia tiên do Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức mừng Xuân Canh Tý 2020 đã góp phần giữ gìn nét truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.Tham gia hội thi, các xã, thị trấn đã mang đến những tác phẩm nhiều màu sắc, có sự sáng tạo, độc đáo trong cách trình bày và lựa chọn nguyên liệu. Những loại trái cây quen thuộc tượng trưng cho thàn... 
 
​Thiết thực chào mừng kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2020), Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức Hội thi Văn nghệ quần chúng, chủ đề Mừng Đảng mừng Xuân Canh Tý 2020 với sự tham gia sôi nổi của các thí sinh đến từ các xã, thị trấn và các cơ quan trong huyện.Tiết mục song ca của đơn vị xã Tân TrạchVới 3 thể loại tân nhạc, cổ nhạc và múa, 38 tiết mục dự thi... 
 
​Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Hòa phối hợp với Huyện đoàn, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Liên đoàn Lao động huyện tổ chức Hội thi Giọng hát hay Bolero "Giai điệu mùa Xuân" Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý huyện Đức Hòa lần III năm 2020.Quang cảnh hội thiTham gia hội thi có 55 thí sinh đến từ các cơ quan, trường học, xã, thị trấn và người dân trên địa bàn huyệ... 
 
​Trong 2 ngày 12 và 13/01/2020, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Huệ phối hợp với Liên đoàn Lao động huyện và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi Tiếng hát công nhân, viên chức, lao động mừng Đảng mừng Xuân Canh Tý năm 2020. Tham gia hội thi có 39 thí sinh là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đến từ 44 công đoàn cơ sở trên địa bàn huyện.Hội thi gồm 2 ... 
 
​Vừa qua, huyện Đức Hòa tổ chức Hội thi hát Karaoke chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 tại Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện.Hội thi được chia ra làm 2 bảng với 40 tiết mục đơn ca, song ca, tốp ca tham gia. Trong đó, bảng A là khối cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, trường học và bảng B là khối xã, thị trấn. Các tiết mục dự thi là những ca khúc cách mạng, ca ngợi Bác Hồ, truyền thốn... 
 
​Ngày 22/8/2019, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Bến Lức phối hợp với Huyện đoàn, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi "Rung chuông vàng kiến thức lịch sử" năm 2019 cho 100 thí sinh đến từ các trường trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện.Tham gia hội thi, các thí sinh trải qua 2 lượt thi, mỗi lượt trả lời 10 câu hỏi, thời gian mỗi câu trả lời là 20 giây ... 
 
​Ngày 08/8/2019, Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Long An tổ chức Lễ khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực VIII – Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 24 năm 2019. Đến dự có ông Phạm Tấn Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An; ông Trần Khánh Chương, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam; cùng đại diện các sở, ban, ngành tỉnh Long An và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật các tỉnh, thành trong khu vực Đồng... 
 
​Từ ngày 29 đến ngày 31/7/2019, tại Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội thi Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An năm 2019 với chủ đề "Xây dựng nông thôn mới". Tham gia hội thi có 150 thí sinh, tài tử đờn, tài tử ca đến từ các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh. Thí sinh nhỏ tuổi nhất là em Lý Nguyễn Khánh Băng, 11 tuổi, ở huyện Thạnh H... 
 
​Ngày 25/7/2019, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Huệ tổ chức Liên hoan Văn nghệ quần chúng huyện Đức Huệ năm 2019. Liên hoan thu hút hơn 100 diễn viên không chuyên của 11 đội văn nghệ thuộc Trung Tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng đồng các xã, thị trấn và ban, ngành, đoàn thể huyện.Tiết mục tham gia liên hoanCác đội tham gia liên hoan với một chương trình văn nghệ xuyên ... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)

    Đầu năm 1859, sau khi vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, thực dân Pháp bỏ dở cuộc tấn công Đà Nẵng để kéo quân vào đánh chiếm Nam Kỳ. Ngày 19/2/1861, thành Gia Định thất thủ, triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương làm Thống đốc quân vụ đại thần vào Nam xây dựng đại đồn Chí Hòa để ngăn chặn quân Pháp, không cho chúng đánh ra lục tỉnh Nam Kỳ. Ngày 24/2/1861, Pháp tăng cường lực lượng phá vỡ đại đồn Chí Hòa rồi tiến quân đánh chiếm Mỹ Tho, Tân An, Cần Giuộc, Gò Công, Rạch Kiến. Để bảo vệ tấc đất ngọn rau mà cha ông đã dày công khai phá, nhân dân phủ Tân An đã dựng cờ kháng chiến dưới sự lãnh đạo của các thân hào, nhân sĩ địa phương như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phạm Tuấn Phát…Ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu L’Espérance tại Vàm Nhựt Tảo, mở đầu cho những trận công kích vào giặc Pháp ở Nam Kỳ. Đêm rằm tháng mười một năm Tân dậu (16/12/1861), nghĩa quân đồng loạt tấn công vào các đồn giặc ở Cần Giuộc, Gò Công và Tân An. Tại Cần Giuộc, nghĩa quân đã đánh úp đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình, đốt nhà thờ, giết viên tri huyện người Pháp và một số lính Mã-tà, Ma-ní. Giặc Pháp phải huy động tàu chiến đến sông Cần Giuộc bắn đại bác dữ dội lên đồn mới đẩy lui được nghĩa quân. Trong trận này, 15 nghĩa quân đã hy sinh, trong đó phần nhiều là người làng Mỹ Lộc (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc). Thi hài của các nghĩa sĩ này được chôn cất tại khu lau sậy sầm uất gần chợ Trường Bình (nay là khu vực Hồ nước Cần Giuộc). Nhân dân còn xây một miếu nhỏ để làm nơi thờ phượng các nghĩa sĩ trận vong nhưng nói tránh đi là Miếu Cô hồn để thực dân Pháp khỏi dòm ngó. Về sau, giặc Pháp biết được nên bắt dân phá miếu, đào mồ mã, nạo vét thành hồ nước.

    Xúc động trước tấm lòng dũng cảm và sự hy sinh oanh liệt của những người nghĩa sĩ nông dân, Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên áng văn bất hủ”Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Với lời lẽ vô cùng bi tráng, thống thiết, kiệt tác văn chương này đã làm rung động mãnh liệt tâm hồn, tình cảm của nhân dân cả nước. Bằng ngòi bút tài hoa với những hình tượng văn học độc đáo, mỹ lệ của Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên, người nông dân chân lấm tay bùn, rất mực bình thường, chỉ biết ‘cui cút làm ăn” bổng trở thành những anh hùng cứu nước. Đây chính là tượng đài lịch sử mà ông đã dựng lên để tôn vinh tinh thần yêu nước quên mình của những người “dân ấp, dân lân” cho sự sống còn của dân tộc và Tổ quốc. Những nghĩa sĩ này, thời bình là người nông dân, chưa bao giờ biết tới cảnh chiến tranh, máu lửa. Nhưng tiếng súng giặc đã vang rền trên bầu trời Gia Định, gót giày đinh của giặc đang giày xéo mồ mả cha ông nên họ phải đứng lên kháng chiến để bảo vệ ngọn rau, tấc đất mà bao thế hệ đi trước đã dày công khai phá. Những người “dân ấp, dân lân” này chỉ với một manh áo vải, một ngọn tầm vông đã dám đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh, có trong tay nhiều tàu to, súng lớn. Họ chiến đấu với một tinh thần dũng cảm mà muôn đời sau phải cúi đầu kính ngưỡng:

Chi nhọc quan quản đánh trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc như không.

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã-tà, Ma-ní hồn kinh.

Bọn hè trước, lũ ó sau, nào sợ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”.

Là những người trọng nghĩa, luôn nhớ câu “Kiến nghĩa bất vi” của thánh hiền, họ sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chiến đấu tới cùng vì chân lý “Chết vinh hơn sống nhục”:

Thà chết mà đặng câu địch khái, theo cùng tổ phụ cũng vinh.

Hơn sống mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Tinh thần ấy, khí tiết ấy của những người nghĩa sĩ nông dân còn mãi với thời gian, dù trận công đồn Tây Dương đã “một trận khói tan” nhưng vẫn “ngàn thu tiết rỡ”. Có thể nói rằng, cùng với ánh trăng rằm tháng 11 năm xưa, tấm lòng son của người nghĩa sĩ nông dân mãi mãi sáng soi trong tâm hồn của biết bao thế hệ tiếp nối. Cũng từ đó, hình tượng của những nghĩa sĩ nông dân này đã trở thành một tượng đài sừng sững trong lòng của mỗi người dân nước Việt.

Kế tục truyền thống chống ngoại xâm của những người nghĩa sĩ nông dân ấy, nhân dân Long An đã viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, thà chết vinh hơn sống nhục của cha ông năm xưa đến hôm nay được làm sáng tỏ thêm bởi  chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của thời đại Hồ Chí Minh và được người Long An phát huy cao độ thành truyền thống “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”. Với ý nghĩa ấy,  trận công đồn Tây dương đêm rằm tháng 11 năm Tân dậu cùng với tinh thần và khí phách của người Nghĩa sĩ Cần Giuộc xứng đáng được  thệ hệ hôm nay và mai sau, kế thừa, phát huy hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

14/12/2011 7:30 SAĐã ban hànhApproved
BẢO TÀNG - THƯ VIỆN TỈNH LONG AN TIẾP NHẬN HIỆN VẬT QUÝ TỪ NHÀ SƯU TẬP NGUYỄN NGỌC ẨN BẢO TÀNG - THƯ VIỆN TỈNH LONG AN TIẾP NHẬN HIỆN VẬT QUÝ TỪ NHÀ SƯU TẬP NGUYỄN NGỌC ẨN

Những ngày cuối năm 2018, chúng tôi những người làm công tác ở Bảo tàng - Thư viện tỉnh vui mừng đón nhận hàng trăm hiện vật quý trao tặng từ nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Ẩn - người được mệnh danh là "vua đồ cổ" xứ biển Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn (áo bông) cùng đoàn công tác Bảo tàng - Thư viện tỉnh.JPG

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn (áo bông) cùng đoàn công tác Bảo tàng - Thư viện tỉnh

Vượt qua gần 300 cây số, không khó đoàn công tác đã tìm đến nhà ông Ẩn, đón chúng tôi trong tâm trạng vui vẻ, thoải mái, thăm hỏi nhau đôi chút về công việc, gia đình và sau đó ông bắt đầu tìm kiếm, lựa chọn trong "kho báu" cổ vật của mình, tận tay trao tặng hàng trăm hiện vật quý cho đoàn. Trải qua 5 ngày làm việc, chiêm ngưỡng 555 hiện vật, ông Ẩn kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện hấp dẫn về những hiện vật quý giá ấy: đó là sự trang trí cầu kỳ của những chiếc bình (gốm Lái Thiêu, Sài Gòn), bộ chén - dĩa - tô (cuối thế kỷ XIX - XX), những chiếc vòng mã não xinh xắn, sự óng ánh của những vòng tay đồng, hoa tai vàng, cùng những chuỗi tay, chuỗi cổ của dân tộc Mạ, những chiếc nhẫn Mư ta ân tình của dân tộc Chăm, những đồng tiền xu thời xa xưa của các vị vua Đồng Khánh, Bảo Hưng, Thành Thái, Thiệu Trị, Minh Mạng… Mỗi hiện vật đều có một công năng, một giá trị, một giai đoạn lịch sử cụ thể thật sinh động. Tất cả đã được thu thập, ghi nhận làm cơ sở khoa học, pháp lý cho hiện vật đưa vào bảo tàng lưu trữ, trưng bày. Kết thúc những câu chuyện ấy là những lời cám ơn chân thành, những cái bắt tay và cái ôm thấm thía nói lời chào tạm biệt… Đó là một chuyến đi tìm về những cổ vật thật trọn vẹn và đầy ý nghĩa.

Bình có vòi, đầu thế kỷ XX.jpg

Bình có vòi, đầu thế kỷ XX

Bình gốm Lái Thiêu.jpg

Bình gốm Lái Thiêu

Khuyên tai lò xo của người Mạ.jpg

Khuyên tai lò xo của người Mạ

Vòng tay của người Mạ.jpg

Vòng tay của người Mạ

Tạm biệt "vua đồ cổ" xứ biển Mũi Né, trên đường về, tôi thầm nghĩ vui Xuân Kỷ Hợi 2019, vẫn không quên nhiệm vụ sẽ tiếp tục hoàn thiện linh hồn cho 555 hiện vật quý mà ông Ẩn trao tặng, để Bảo tàng - Thư viện tỉnh tổ chức lễ tiếp nhận, bàn giao, bảo quản, lưu giữ, và trưng bày ra mắt công chúng nhân kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019) và Quốc tế lao động 1/5./.

Tin: Th. Lan

Ảnh: Kim An

01/02/2019 8:00 SAĐã ban hànhApproved
CÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG ANCÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG AN

Nông cụ là những dụng cụ để làm nghề nông, phong phú và đa dạng nhất là các loại nông cụ sử dụng trồng lúa thủ công. Từ xa xưa, với tập quán canh tác lúa nước, lưu dân người Việt trong hành trình mở cõi về phương Nam đã mang theo những nông cụ truyền thống của quê nhà đến vùng đất mới. Đất mới trù phú nhưng vẫn còn hoang vu rậm rạp, muốn khai phá có hiệu quả, lưu dân đã phải thay đổi, chế tác thêm các nông cụ mới cho phù hợp với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng… Rồi dần về sau, hệ thống nông cụ ấy đã được bổ sung, chỉnh sửa, cải tiến để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất. Quá trình ấy trải qua hàng trăm năm thủ công, nên các nông cụ ngày nay mang tính truyền thống, nông cụ truyền thống là vậy.

Long An- vùng đất trù phú về các sản phẩm nông nghiệp trong đó có đặc sản nổi tiếng gạo nàng thơm Chợ Đào với hạt gạo trắng ngần, cơm ngon thơm dẻo. Nhưng mỗi khi ăn bát cơm ấy có mấy ai hiểu hết được hạt gạo làm ra từ đâu, bằng cách nào và bằng cái gì? Một điều chắc chắn rằng không thể thiếu đôi chân lấm, tay bùn của người nông dân cùng những cái cày, cái bừa, cái phảng, cái cộ... Đến Bảo tàng Long An, xem sưu tập nông cụ truyền thống mà ở đó mỗi nông cụ gắn với những chuyện kể về đặc điểm, cách sử dụng cũng như kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân ở địa phương.

 Sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng có trên 40 công cụ, bài viết này chỉ đề cập đến 5 nhóm nông cụ chủ yếu được sử dụng để dọn cỏ, làm đất, gieo cấy, đưa nước vào ruộng và thu hoạch lúa.

PhangCoCo.jpg

Phảng, cù nèo- nông cụ dọn cỏ hữu hiệu.

Cây phảng là nông cụ đặc dụng ở vùng ruộng bưng, có nước sâu, nhiều cỏ. Tùy theo hình dáng của phảng mà người ta đặt tên gọi: phảng cổ lùn thích hợp với ruộng có ít nước, phảng cổ cò phổ biến ở vùng Đồng Tháp Mười, phảng giò nai được nông dân vùng Cần Đước, Cần Giuộc sử dụng, phảng gai được dùng chủ yếu để chặt, chém hay phát cỏ bờ, cỏ ruộng. Tùy theo tính chất chuyên dùng và kinh nghiệm của người sử dụng thì cây phảng mới có thể phát huy được công năng của nó: nếu phát cỏ bờ thì hai tay cầm phảng, đưa lên cao để lấy đà và chặt xuống mép bờ bên trái, vừa chặt vừa lùi dần. Còn khi phát cỏ ruộng thì vung phảng và khom lưng sao cho lưỡi nằm ngang dưới nước, song song với mặt nước, lia lưỡi phảng nương theo nước, lướt tới mà không nghiêng lưỡi để bị nước cản, hạn chế lực của nhát chém. Theo ghi nhận của Trịnh Hoài Đức thì ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XIX với lối làm ruộng trên ruộng cỏ (thảo điền) có bùn sâu, không dùng trâu cày mà chỉ "phát chặt năn lác, cào cỏ đắp bờ rồi cấy" (1). Điều này cũng phù hợp với công năng của chiếc phảng được các lão nông ở Cần Đước khẳng định: trước đây, chiếc phảng cổ cò được dùng để phát cỏ, dọn đất sạch trước khi cấy. Khi ấy, ruộng chỉ làm lúa một vụ và cho đến khi làm hai vụ thì cây cỏ ít có điều kiện phát triển nên cái phảng cũng đã nhường chỗ cho cái cày trong khâu làm đất.

Nhắc đến cây phảng phát cỏ, thì nó phải đi kèm với cây cù nèo móc cỏ. Cù nèo có cán bằng gỗ, nối với cổ và lưỡi bằng sắt, vòng lưỡi như lưỡi liềm (lưỡi hái). Tay phải dùng phảng phát một nhát thì tay trái cầm cù nèo móc số cỏ đã đứt lìa gốc, kéo gom một chỗ cho trống chân cỏ để tiếp tục phát nhát phảng kế tiếp.

CayDoi.jpg

Cày, bừa, trục- nông cụ làm đất.

Con trâu đi trước, cái cày đi sau là hình ảnh thân quen thường xuất hiện trên những cánh đồng quê Việt Nam. Sự hiện diện của cái cày đã giải phóng phần nào sức lực cho con người. Để có thể làm ruộng trên vùng đất có địa hình, thổ nhưỡng phức tạp như vùng đất Long An, người nông dân đã tiếp nhận và sử dụng nhiều loại cày có công năng kỹ thuật khác nhau. Đó là kết quả của nhiều năm cải tạo đất, giao lưu văn hóa với các vùng miền để có được chiếc cày phù hợp. Vùng Cần Đước và Đồng Tháp Mười (Long An) thường sử dụng loại cày đỏi, cày đoạn... để xới đất, lật các lớp trên của đất, đem chất dinh dưỡng mới lên bề mặt và chôn lấp cỏ dại để chuẩn bị bước đầu cho gieo sạ. Với chiếc cày đỏi, nông dân Cần Đước thường dùng người mà không dùng trâu để kéo, vì đất quá lầy lội, sụp lún trâu rất khó đi nhưng nhờ đất mềm nên có thể dùng năm sáu người để kéo thì có hiệu quả hơn (2).

Bừa có đặc điểm chung là kết cấu đơn giản, chất liệu chủ yếu bằng gỗ và tre và thường do người nông dân tự làm. Đây là nông cụ để làm tơi những luống đất mà cái cày lật lên trước khi sạ lúa.

 Trục là nông cụ dùng để cán, nhận cỏ ruộng hoặc dùng để băm nhuyễn đất cày. Giống như nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất Long An thường sử dụng loại trục khía (trục trái khế ) và trục chông. Theo kinh nghiệm của các lão nông nơi đây thì với ruộng bùn sâu có thể dùng kỹ thuật trục nhận, trục đi trục lại nhiều lần để nhấn cỏ chìm sâu khỏi mặt đất, rồi mới cấy lúa.

Ván mạ, nọc chày - nông cụ gieo cấy.

Ván mạ là một tấm ván chuyên dùng được nối với cái cày và ách đôi cho trâu kéo để chở mạ (thay vì gánh mạ) rải đều trên ruộng. Khi xếp mạ lên ván người ta thường xếp quay đầu bó mạ vào trong và đưa rễ ra ngoài, xếp cao hơn đầu người và chỉ cần 4 ván mạ là đủ số mạ cấy cho 1 mẫu đất. Ngày trước, khi làm lúa mùa, tép mạ lớn, bó mạ to và nặng nên phần lớn nông dân không gánh mà dùng ván cho trâu kéo về ruộng. Ngày nay, nông dân áp dụng kỹ thuật sạ lúa và trồng lúa ngắn ngày (tép mạ thấp, bó nhỏ và nhẹ) nên ván mạ hầu như không còn sử dụng.

Nọc cấy gắn liền với đời sống của người nông dân Nam Bộ vào những năm đầu khai phá đất hoang, phát cỏ xong, đất vẫn còn gốc cỏ, rễ cây mọc tua tủa và bén ngót nên không thể dùng tay để cấy mà dùng nọc tạo lỗ rồi cắm mạ xuống. Vùng Đồng Tháp Mười (Long An), ruộng có nước sâu, mạ tốt nên nông dân sử dụng loại nọc cổ bồng để chọc lỗ cấy, còn vùng Cần Đước sử dụng loại nọc chày và nọc nhánh. Nọc chày có cán dài nối liền với phần nọc to ra và đầu nhọn để chọc lỗ cấy ở nơi đất rẫy, lầy lội. Người chọc lỗ cấy thường là nam sẽ đi giật lùi, chọc lỗ theo hàng ngang để người đi sau cấy vào lỗ. So với đồng bằng sông Cửu Long, Cần Đước là nơi mà cây nọc cấy có hình dáng khá đẹp: dài, có cán cong vút, đầu nọc khá cầu kỳ, mang tính thẩm mỹ cao (3).

GauVai.jpg

Gàu giai, xa quạt nước- nông cụ đưa nước vào ruộng.

Gàu giai được đan bằng tre, có 4 thanh tre kẹp ở miệng, đáy và hai bên cho cứng, 4 đoạn dây được nối ở 2 bên miệng và đáy gàu. Tác nước bằng gàu giai phải có 2 người cùng cầm 2 đoạn dây và hạ gàu xuống rồi múc nước, kéo lên đổ vào ruộng.

Xa quạt nước có cấu tạo là một trục gỗ dài, mỗi đầu trục gắn các chân đạp, ở giữa trục có 8 cánh quạt. Bộ phận dẫn nước đặt dưới trục gồm 2 thanh gỗ đặt song song có gắn chân và mang theo môt cái ống để hứng nước.  Dùng xa quạt để dẫn nước vào ruộng phải có 2 người, đứng trên chân đạp ở 2 đầu trục, đi giật lùi làm cho trục quay, đưa nước vào lồng máng.

BoDapLua.jpg

Vòng hái, bồ đập lúa- nông cụ thu hoạch.

Vòng hái được làm bằng loại gỗ nhẹ và chắc, có cán dài, trên thân khoét một cái rãnh để cắm lưỡi hái. Lưỡi hái cấu tạo theo dạng răng chấu rất bén. Vòng hái phù hợp việc gặt lúa mùa, thân cao. Khi nông dân chuyển sang trồng lúa ngắn ngày, thân thấp, bụi nhỏ thì chỉ cần sử dụng phần lưỡi hái để cắt lúa. Sau đó là đến lưỡi liềm, với lưỡi dài hơn lưỡi hái cũng được người nông dân sử dụng trong việc cắt lúa. Lưỡi hái, lưỡi liềm thay thế vòng hái, lúa cắt trên đồng được rãi thành hàng, người nông dân không phải cộ lúa về nhà mà đã có cách lấy hột lúa ngay tại ruộng, và bồ đập lúa đã xuất hiện.

Bồ đập lúa cấu tạo có 2 chân để trượt trên đồng cùng phần che 3 phía để lúa khỏi văng ra ngoài khi đập, bộ phận bàn đập là những thanh gỗ tròn song song. Khi đập lúa, người đập nắm chặt bó lúa nhỏ bằng cái kẹp đập mạnh vào bộ phận bàn đập sao cho hạt lúa văng vào bồ.

Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, canh tác nông nghiệp đang từng bước chuyển sang cơ giới hóa, máy móc đã được thay thế sức người, sức vật, sức kéo. Từ đó, các nông cụ thô sơ bị mai một, thậm chí đang dần biến mất khỏi đời sống nông thôn. Có thể rồi mai đây cây phảng khẩn hoang, chiếc nọc cấy của vạn hò… sẽ đi vào dĩ vãng, còn chăng chỉ được tìm thấy trong sách báo, tranh ảnh, trong các nhà bảo tàng. Vì vậy, sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng Long An là rất quý, có ý nghĩa về văn hóa, xã hội. Bộ sưu tập chính là những kỷ vật gắn bó với người nông dân trên vùng đất Long An nói riêng, Việt Nam nói chung một thời lam lũ, làm nên hạt gạo, củ khoai nuôi sống cả dân tộc. Đây là di sản văn hóa của cha ông phải được bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị để nó không bị chìm sâu vào dòng chảy của cuộc sống hiện đại./.

                                                                              Bài, ảnh:  Đỗ Thị Lan

                                                                                                           (Bảo tàng LA)

(1) Gia Định thành thông chí, Sản vật chí, sđd, tờ 3b.

(2) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.121.

(3) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.140.

15/10/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
TÂN THẠNH: TẬP HUẤN NÂNG CAO NGHIỆP VỤ VỀ LĨNH VỰC VĂN HÓA, QUẢNG CÁO NĂM 2020 TÂN THẠNH: TẬP HUẤN NÂNG CAO NGHIỆP VỤ VỀ LĨNH VỰC VĂN HÓA, QUẢNG CÁO NĂM 2020

Ngày 06/10/2020, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tân Thạnh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa, quảng cáo và hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch cho các thành viên Đội kiểm tra liên ngành văn hóa, thông tin và truyền thông cấp huyện, xã, thị trấn và các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo trên địa bàn huyện.

6-10-2020 tap huan van hoa quang cao nam 2020.jpg

Tại buổi tập huấn, các đại biểu được nghe ông Nguyễn Văn Tâm, Phó Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Quảng cáo năm 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực văn hóa, quảng cáo. Trong đó, tập trung nhấn mạnh những nội dung sửa đổi bổ sung và những quy định mới trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo như: Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối vối một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Nghị định số 54/2019/NĐ-CP  ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Đồng thời, triển khai quán triệt Quyết định số 5015/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 của UBND tỉnh Long An về việc ban hành Quy định quản lý hoạt động "nhạc sống" trên địa bàn tỉnh và các Chỉ thị của UBND tỉnh về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo, kinh doanh trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh và Quyết định của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phân cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn tỉnh.

Qua hội nghị tập huấn nhằm bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác văn hóa, thể thao, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý lĩnh vực văn hóa, quảng cáo trên địa bàn huyện. Đặc biệt là nâng cao nhận thức và chấp hành pháp luật của các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo trên địa bàn, góp phần đảm bảo tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tân Thạnh./.

Duy Thanh

07/10/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020 TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020

Chiều ngày 03/11/2020, Ban Tổ chức cuộc thi đọc sách tìm hiểu "Đức Huệ quê hương tôi" tổ chức trao giải cho 10 cá nhân đạt giải nhất, nhì, ba và khuyến khích; 3 tập thể đạt giải nhất, nhì, ba do có số lượng bài tham gia nhiều và đạt chất lượng nhất tại cuộc thi. Thí sinh Tô Ngọc Thuận đến từ Công đoàn cơ sở (CĐCS) Khối Đảng đã xuất sắc đạt giải nhất cuộc thi.

4-11-2020 Thi sinh To Ngoc Thuan - CDCS dat giau nhat.JPG

Thí sinh Tô Ngọc Thuận, CĐCS Khối Đảng đạt giải nhất (áo dài vàng)

Đây là cuộc thi do Liên đoàn Lao động huyện Đức Huệ phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện tổ chức dành cho tất cả cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện. Qua gần 2 tháng phát động, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được 103 bài dự thi của các công đoàn viên thuộc 27 CĐCS trên địa bàn huyện. Mỗi bài dự thi phải trả lời đầy đủ 10 câu hỏi trắc nghiệm và viết tự luận bằng văn xuôi không quá 2.000 từ. Phần viết tự luận, thí sinh được phép viết tay hoặc đánh máy, trình bày rõ ràng, sạch đẹp, có tranh ảnh, minh họa và những tài liệu dẫn chứng liên quan đến bài thi. Ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện, Trưởng ban Tổ chức cuộc thi cho biết: Theo nhận xét của Ban Tổ chức cuộc thi thì đa số các bài dự thi đều có sự nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin liên quan đến nội dung thi và thể hiện được sự cảm nhận của bản thân về khó khăn của huyện Đức Huệ ngày xưa và sự chuyển mình, phát triển của huyện nhà ngày hôm nay và trong tương lai.

Mục đích của cuộc thi nhằm xây dựng và phát triển phong trào đọc sách trên địa bàn huyện, hướng tới xây dựng một xã hội học tập, một nét đẹp trong đời sống xã hội để tôn vinh giá trị của sách cũng như khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập… Điều quan trọng nhất là thông qua cuộc thi giúp cho cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện nghiên cứu, tìm hiểu sự phát triển của huyện nhà trong thời gian qua, đồng thời thể hiện sự quyết tâm đóng góp sức mình vào công cuộc đổi mới, phát triển của huyện nhà, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Đức Huệ lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025./.

Tiến Anh

04/11/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Cần Đước tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc Cần Đước tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc

Thiết thực chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018), huyện Cần Đước tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thu hút đông đảo người dân tham gia, tạo khí thế thi đua sôi nổi.

Ngày 14/10/2018, tại UBND xã Long Hòa tổ chức ngày hội văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao với chương trình Hội thi giọng hát hay lần VI năm 2018 thu hút 13 thí sinh đến từ các ấp và các trường học trên địa bàn xã tham gia với nhiều tiết mục hấp dẫn, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, sự đổi mới của quê hương... Song song với việc tổ chức Hội thi giọng hát hay, Ban tổ chức còn tổ chức Hội thi nấu ăn với chủ đề "Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương" thiết thực chào mừng kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10. Tám đơn vị tham gia là 08 mâm cơm được trưng bày bắt mắt với những món ăn chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng. Các đơn vị thể hiện sự khéo léo, không chỉ đẹp về thẩm mỹ, ngon về chất lượng mà còn mang đậm nét truyền thống, mỗi món ăn đều có những ý tưởng độc đáo riêng, thể hiện sự ấm áp và tình yêu thương lan tỏa thông qua bữa cơm gia đình, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc. Ngoài ra để sự giao lưu đoàn kết trong thanh niên của xã, giải bóng đá cũng được tổ chức song song với các hoạt động trên. Tham gia giải có 08 đội bóng ở các ấp và các trường học trên địa bàn xã. Với sự cổ vũ sôi nổi của khán giả, các vận động viên tham gia ngày hội thi đấu nhiệt tình, tạo nên không khí vui tươi góp phần thành công chung cho ngày hội.

17-10-2018 Tiet muc hoi thi van nghe tai ngay hoi.JPG

Tiết mục văn nghệ

17-10-2018 cac thi sinh tham gia phan thi nau an tai ngay hoi.JPG

 Hội thi nấu ăn

17-10-2018 thi dau bong da mini tai ngay hoi.JPG

Thi đấu bóng đá

Ngày hội văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao là một trong những nét đặc trưng của huyện Cần Đước cổ vũ phong trào rèn luyện thân thể và được các xã tổ chức hằng năm nhằm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức và nhân dân địa phương vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khỏe. Đây cũng là hoạt động thiết thực chào mừng 62 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2018), 88 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2018) và 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)./.

Cẩm Tú - Phan Lắm

(Phòng VH, TT và TT Cần Đước)

22/10/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Hướng dẫn trang trí điểm bầu cửHướng dẫn trang trí điểm bầu cử

HUongDanTrangTriDiemBauCu.jpg

HuongDanTrangTriBauCu22.jpg 

HUongDanTrangTriDiemBauCu3.jpg 

HuongDanTrangTriBauCu3.jpg

13/05/2016 5:00 CHĐã ban hànhApproved
CHĂM SÓC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA NHÀ TỔNG THẬN -  BÀI HỌC “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” CHĂM SÓC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA NHÀ TỔNG THẬN -  BÀI HỌC “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN”

Vừa qua, Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Tân An phối hợp với Phường 1, Phường 7 và các xã An vĩnh Ngãi, Lợi Bình Nhơn, Hướng Thọ Phú thực hiện chăm sóc, dọn vệ sinh Khu di tích lịch sử - văn hóa Nhà Tổng Thận, nơi ghi ấn thời kỳ lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của tỉnh Long An.

7-10-2020 thanh nien cham soc di tich lich su nha Tong Than hinh 2.jpg

Nhà Tổng Thận là tư gia của Cai tổng Trần Khắc Thận, quê quán tỉnh Quảng Nam, được xây dựng từ năm 1892. Sau khi giành chính quyền thành công tại tỉnh lỵ Tân An vào ngày 22/8/1945, Nhà Tổng Thận được chọn làm trụ sở công khai của Tỉnh ủy Tân An. Nơi đây, Tỉnh ủy tổ chức 3 cuộc hội nghị để bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng về xây dựng chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám ở Tân An. Cuối tháng 10/1945, quân Pháp tấn công Tỉnh ủy Tân An, để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, Tỉnh ủy rút khỏi Nhà Tổng Thận về Mộc Hóa.

Di tích lịch sử - văn hóa Nhà Tổng Thận có ý nghĩa quan trọng về giá trị văn hóa và lịch sử, với những hình ảnh, tư liệu, hiện vật trưng bày trong di tích sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hoạt động của Tỉnh ủy trong cách mạng; lối sống, văn hóa của tầng lớp trung lưu tại Tân An vào cuối thế kỷ XIX. Đồng thời, nơi đây chính là một "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ biết được quá trình đấu tranh cùng những khó khăn, vất vả mà thế hệ cha anh đã trải qua để giành lại độc lập cho nước nhà.

7-10-2020 thanh nien cham soc di tich lich su nha Tong Than hinh 1.jpg

Chăm sóc các di tích lịch sử là hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị xã, phường, các trường học trên địa bàn thành phố, nhằm thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của quân và dân thành phố Tân An nói riêng, tỉnh Long An nói chung. Qua đó, nhắc nhở đến các thế hệ trẻ chúng ta phải nhớ ơn các vị anh hùng dân tộc, các liệt sĩ đã hy sinh xương máu để hôm nay Thành phố Tân An được khoác lên mình một diện mạo mới tốt đẹp hơn./.

Phòng VH và TT Tân An

07/10/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
Kỷ niệm 70 năm chiến thắng trận Mộc Hóa (18/8/1948 - 18/8/2018). Kỳ 1: Bề dày lịch sử - văn hóa vùng đất bưng biền Kỷ niệm 70 năm chiến thắng trận Mộc Hóa (18/8/1948 - 18/8/2018). Kỳ 1: Bề dày lịch sử - văn hóa vùng đất bưng biền

Cách đây 70 năm, chiến thắng trận Mộc Hóa (18/8/1948) - bản anh hùng ca của "Nam Bộ thành đồng, đi trước về sau" đi vào lịch sử như là một trong những điểm son chói lọi nhất trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Vùng đất của chiến công này có một bề dày truyền thống với tên đất, tên người đi vào lịch sử.

10-9-2018 Dong chi Le Duan ve tham Long An 3-1978.jpg

Đ/c Lê Duẩn (áo trắng, ngồi giữa) về lại căn cứ xưa, thăm cơ sở cách mạng
ở xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh trong lần về thăm Long An (tháng 3/1978).
Người ngồi bên phải đ/c Lê Duẩn là má Tám (Nguyễn Thị Thay)

1. Có phải là vùng đất mới?

Tất nhiên là vùng đất mới trong dòng chảy hàng nghìn năm của dân tộc nhưng nơi đây đã có lịch sử lâu đời.

Dù đã sáng rõ hơn nhưng địa danh Đồng Tháp Mười vẫn còn là một ẩn số chưa có giải đáp thỏa đáng. Ngọn tháp canh thứ 10 do Thiên Hộ Dương dựng lên để canh phòng chống giặc Pháp (1864-1866)? Hay ngọn tháp thứ 10 sau 9 tháp khác của vua chúa Khmer dựng lên làm trạm xá? Trên đường khẩn hoang đầu thế kỷ 18, lưu dân người Việt đã gặp tháp cổ đổ nát nhưng còn vết tích biểu hiện của công trình có 10 bậc thang (kiểu như tam cấp)? Hiện người ta nghiêng về lý giải rằng đây là tên gọi chung cho toàn vùng "đất bưng", vùng "trạch" thuộc địa phận tỉnh Định Tường xưa, đã có từ trước và được sử dụng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến của Võ Duy Dương, người Pháp sử dụng chính thức trên Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp, ngày 17/4/1866.

Đã có những di tích khảo cổ học để có thể khẳng định có con người sinh sống ở thời tiền sử muộn trên các gò đất phù sa cổ cho thấy nơi đây từng là địa bàn của một nền văn minh Óc Eo một thời rực rỡ, để rồi sau đó tàn lụi trong lòng châu thổ thấp. Và trước khi lưu dân người Việt đến khẩn hoang lập ấp, nơi đây đã trải qua giấc ngủ dài trong sự hoang vắng không bóng người hàng nhiều thế kỷ mà Châu Đạt Quan, sứ thần Trung Hoa trong Chân Lạp phong thổ ký, thế kỷ XIII, rồi Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, thế kỷ XVI đã ghi lại điều đó.

Trong dòng chảy Nam tiến, do khả năng vật chất, trình độ kỹ thuật và điều kiện nhân lực lúc bấy giờ, ông cha ta đến đây muộn hơn những nơi khác trong tỉnh, nhưng theo Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, đến thời Gia Định phủ (1698-1802), nơi đây gọi là Đầm (Chằm) Mãng Trạch, thuộc dinh Trấn Định, dưới sự thống quản của Gia Định trấn, đã có người buôn bán qua Rạch Chanh, một ít làm ruộng theo lối "đao canh hỏa nậu" ở Bát Đông, giao dịch thổ sản ở bờ sông Bát Chiêng (Kiến Tường).

Sau Bắc Chiêng (sử triều Nguyễn ghi là Bát Chiêng) mà có người cho rằng là được nói trại từ từ ngữ Khmer, rồi đến tên gọi Mộc Hóa thuần Việt hơn cũng chưa có lời giải thích thỏa đáng nhưng chính thức xuất hiện đầu tiên là trên Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp với tư cách là một đơn vị cấp tổng, tổng Mộc Hóa, năm 1867 sau khi Pháp chiếm các tỉnh miền Tây Nam Kỳ, xóa ranh hành chính cũ của Nam triều và thiết lập cơ chế hành chính kiểu tham biện (inspection), đến năm 1916 thì nâng lên thành quận, thuộc tỉnh Tân An, rồi tỉnh Mộc Hóa (SL. số 21/NV năm 1956), sau đổi thành tỉnh Kiến Tường (SL. số 143/NV ngày 20-10-1956 của tổng thống VNCH). Sau ngày giải phóng miền Nam, tháng 2-1976, tỉnh Kiến Tường cũ trở thành một huyện của tỉnh Long An mới với tên gọi có từ trước là Mộc Hóa, rồi được chia nhỏ sau nhiều lần tách ra lập các huyện mới Vĩnh Hưng (30-3-1978), Tân Thạnh (19-9-1980), Thạnh Hóa (26-6-1989) và hiện nay là hai đơn vị hành chính mới là thị xã Kiến Tường và huyện Mộc Hóa (18-3-2013).

Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, từ khi ông cha ta đến vùng đất này trong dòng chảy Nam tiến cho đến khi Mộc Hóa - Kiến Tường trở thành những đơn vị hành chính cấp huyện như ngày nay là một tiến trình kết tinh của mồ hôi, xương máu, trí tuệ của nhiều thế hệ tiền nhân. Từ những ngày đầu mang trong mình một hành trang tinh thần bất khuất, vượt chông gai, thử thách vì niềm tin ở vùng đất mới, trải qua thăng trầm lịch sử của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ hào hùng, các thế hệ như dòng nước chảy xuôi của lịch sử, kế tục dần dần để cung cấp những sinh lực mới về mặt chí khí và phong tục tập quán, đã tạo nên những nét độc đáo, phong phú về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội cho vùng đất này. Các thế hệ nơi đây hoàn toàn có thể vinh dự và tự hào khi sống trên mảnh đất có một bề dày lịch sử, từng xuất hiện con người hàng nghìn năm trước, trải qua nền văn minh Óc Eo rực rỡ, tạo lập cơ đồ trong thời đại Hồ Chí Minh, và sẽ vĩnh viễn sống trong lịch sử dân tộc không chỉ vì quá khứ mà còn bắt đầu tự khẳng định đúng là kẻ kế thừa tinh anh của quá khứ từ hôm nay.

2. Truyền thống đánh giặc của cha ông

Ngay từ cuộc chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh, vùng gò nổng rộng lớn Ba Giồng nằm giữa hai huyện Kiến Đăng và Kiến Hưng, Định Tường từng là nơi tụ nghĩa của đảng Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn.

Do là trung tâm Đồng Tháp Mười, giáp Campuchia, Mộc Hóa có vị trí chiến lược tiền tiêu nên từ thời triều Nguyễn đã cho đặt ở đây một đồn lũy để trấn giữ biên giới, gọi là thủ sở Tuyên Oai. Pháp xâm lược, Thiên hộ Dương - Đốc binh Kiều lập căn cứ kháng chiến ở Đồng Tháp Mười, cho xây đồn Tuyên Oai ở Gò Bắc Chiêng (chợ Kiến Tường ngày nay), là một trong những đồn lũy quan trọng nhất của phong trào này trong những năm 1864-1866, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, góp phần làm cho Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười hội nhập trọn vẹn hơn vào dòng chảy lịch sử dân tộc mà còn là kinh nghiệm đầu tiên về xây dựng căn cứ địa cho hoạt động kháng chiến về sau ở vùng đất bưng biền.

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940), lực lượng khởi nghĩa ở Tân An, Chợ Lớn, Gia Định lên khu vực kinh Bo Bo, Mớp Xanh thuộc các làng Thạnh Lợi, Bình Thành, Bình Hòa (bắc Thủ Thừa), trấp Rùng Rình (làng Phong Phú, Mộc Hóa) tiếp tục bắt liên lạc với lực lượng của Cai Lậy, Châu Thành (tỉnh Mỹ Tho) và bộ phận nghĩa quân của Chợ Lớn - Gia Định rút lên Truông Mít (Tây Ninh) trở về, thống nhất thành lập căn cứ Mớp Xanh (hay còn gọi căn cứ Bo Bo) trên một địa bàn rộng khoảng 35km, dài 70 km, nằm giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây tiếp tục duy trì hoạt động, chuẩn bị khởi nghĩa lần hai. Hoạt động của nghĩa quân sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Căn cứ Mớp Xanh (Bo Bo) là tiền đề chuẩn bị cho giai đọan tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám 1945 và vùng đất này trở thành "chiến khu bưng biền" trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược.

Tiền sảnh Bảo tàng Long An có đặt một khẩu thần công nhưng không nhiều người biết nó có một hành trình gắn liền với lịch sử vùng đất Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười, do Chi đội 14 Vệ quốc đoàn tìm được ở Đốc Vàng (Đồng Tháp) - vùng căn cứ xưa của nghĩa quân Thiên hộ Dương - Đốc binh Kiều, nên các chiến sĩ gọi là "Cà nông Minh Mạng".

Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, báo hiệu cuộc xâm lược nước ta lần hai. Cùng với Nam Bộ, Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười "đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến". Đầu năm 1946, quân Pháp theo sông Vàm Cỏ Tây tiến đánh Mộc Hóa. Đồng chí Trần Văn Trà chỉ đạo Chi đội 14 tổ chức đánh địch tại Vàm rạch Cả Nổ (nay thuộc xã Tân Thành, huyện Mộc Hóa). Khoảng 4 giờ sáng ngày 16/5/1946, đoàn tàu Pháp khoảng 12 chiếc từ Tân An kéo lên Mộc Hóa lọt vào trận địa, khi dừng lại nhổ sào chướng ngại vật để mở đường, khẩu thần công được lệnh làm nhiệm vụ khai hỏa, phát duy nhất trúng mục tiêu làm móp tàu, ta đồng loạt nhả đạn. Địch nổ súng loạn xạ, thoát khỏi trận địa về hướng Mộc Hóa. Ta rút lui về kinh Dương Văn Dương an toàn. Đồng chí Lương - pháo thủ (bộ đội Chi đội 14) hy sinh do bị súng thần công giật trúng người, được nhân dân chôn cất tại chỗ và qui tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện Mộc Hóa năm 1978. Khẩu thần công được nhận chìm tại Vàm Cả Nổ ngay sau trận đánh, sau đó được vớt lên đưa về binh công xưởng ở xã Tân Hòa (thuộc huyện Tân Thạnh ngày nay) vào cuối năm 1946, rồi chôn giấu sau đình chiến (1954). Năm 1959, có người chỉ điểm, địch đào súng lên đưa về quận lỵ Kiến Bình, rồi tỉnh lỵ Kiến Tường, đặt tại công viên chỗ đền thờ Đốc binh Kiều, xây bệ hướng nòng súng ra bờ sông Vàm Cỏ Tây. Đầu năm 1978, Ty Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tiếp nhận súng đưa về đặt ở trụ sở UBND tỉnh, sau đó giao Phòng Bảo tồn bảo tàng - Thư viện tỉnh và cuối là Bảo tàng tỉnh lưu giữ cho đến nay.

Đáng giặc trong thời hiện đại bằng súng thần công đầy chất bi hùng có lẽ chỉ có ở vùng đất này. Đó là phát súng mở màn 9 năm kháng chiến chống Pháp trên vùng Đồng Tháp Mười anh dũng - và có lẽ cũng là tiếng súng cuối cùng của những khẩu thần công lịch sử ở nước ta.

Cho đến trước khi chiến thắng trận Mộc Hóa (18-8-1948), Mộc Hóa từng là một trong những căn cứ địa đầu tiên của Nam Bộ. Sau khi Pháp càn vào Bình Hòa, 5-1946 (nay thuộc xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ), đồng chí Lê Duẩn chỉ thị các cơ quan Xứ ủy, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Tổng hành dinh Khu 7 và các đơn vị bộ đội rút về vùng Bắc Chan, quận Mộc Hóa (nay thuộc xã Tuyên Thạnh, thị xã Kiến Tường) lập căn cứ, trước khi rút về khu vực kinh Dương Văn Dương (7-1946), góp phần làm nên một "Việt Bắc miền Nam" - thủ đô kháng chiến lừng danh của Nam Bộ thành đồng như ý trong thơ của nhà thơ Tố Hữu:

"Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp

Việc Bắc miền Nam, mồ ma giặc Pháp"

(Ta đi tới, Tập thơ Việt Bắc, 1954)

Bề dày truyền thống lịch sử của Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười hun đúc nên một chiến thắng Mộc Hóa lừng lẫy về sau này trong cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp./.

            Nguyễn Tấn Quốc

(Còn tiếp)


Kỳ 2: "Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang"

12/09/2018 12:00 CHĐã ban hànhApproved
THỦ THỪA TIẾP TỤC ĐOẠT GIẢI NHẤT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ THỦ THỪA TIẾP TỤC ĐOẠT GIẢI NHẤT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ

Sau 3 đêm tranh tài, Hội thi Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An lần thứ 2 thành công tốt đẹp. Chung kết diễn ra vào đêm 31/7.

31-7-2020 Hội thi Đòn ca tài tử (28).JPG

Ban Tổ chức tặng hoa cho các nghệ nhân đờn tại Hội thi

Các tiết mục dự thi năm nay được đánh giá phong phú và có nâng cao về chất lượng, được chuẩn bị chu đáo. Thí sinh thể hiện tốt năng lực nghệ thuật của mình, nhiều bài bản truyền thống, bài bản tổ được thể hiện khá tốt. Đặc biệt, số lượng tài tử đờn tham gia phần thi độc tấu tăng cao. Các thí sinh tham gia đa dạng về độ tuổi, có nhiều nhân tố trẻ.

31-7-2020  Hội thi Đòn ca tài tử (21).JPG

Tiết mục độc tấu đoạt giải nhất tại Hội thi

Hội thi năm nay có sự tham gia của 160 thí sinh với 138 tiết mục đờn, ca về chủ đề ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh liệt sĩ cũng như những thành tựu về kinh tế, xã hội, phong trào xây dựng nông thôn mới. Sau thời gian tranh tài, Ban giám khảo chọn ra 33 tiết mục vào đêm chung kết.

31-7-2020 Hội thi Đòn ca tài tử (3).JPG

Ban Tổ chức trao giải cho các tiết mục độc tấu

Kết thúc hội thi, huyện Thủ Thừa đoạt giải Nhất toàn đoàn. Ban Tổ chức cũng trao 2 giải Nhất, 3 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi Bài bản tài tử; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi độc tấu; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi nhịp 16; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba cho phần thi vọng cổ nhịp 32; 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 2 giải Ba cho phần thi các bài Ngự.

Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao giải cho các tiết mục chủ đề Nông thôn mới, chủ đề về Mẹ, Bác Hồ, thương binh liệt sĩ,… cùng các giải dành cho thí sinh nhỏ tuổi nhất, lớn tuổi nhất và tác phẩm sáng tác về nông thôn mới hay nhất./.

Theo Báo Long An Online

http://baolongan.vn/thu-thua-tiep-tuc-doat-giai-nhat-hoi-thi-don-ca-tai-tu-a99679.html

01/08/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Sông Bảo Định xưa và naySông Bảo Định xưa và nay

Mỗi khi nhắc đến Long An, dù gần hay xa, du khách thường nghĩ ngay đến một Long An trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc, nhớ đến  dòng Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đi vào thơ ca, nhạc họa. Nhưng ít người biết đến một dòng sông có lịch sử lâu đời, được vua Gia Long đặt tên và cũng là con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới - chiếc xáng múc. Đó  là  sông Bảo Định.

Sông Bảo Định tục gọi là kênh Vũng Gù, là thủy lộ nối liền rạch Vũng Gù (Tân An) với rạch Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang. Kênh do Nguyễn Cửu Vân - danh tướng, triều thần đời chúa Nguyễn Phúc Chu (nhà Hậu Lê) - chỉ huy đào năm 1705 nhằm mục đích giao thông và phòng vệ. Sau một thời gian dài, con kênh dần bị bồi lấp, thuyền lớn phải đợi nước đầy mới đi được. Vì vậy, ngày 28 tháng giêng (âm lịch) năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long đã sai quan trấn thủ Định Tường là Bửu Thiện hầu Nguyễn Văn Phong lo việc nạo vét và nới rộng dòng chảy con kênh này.

Theo sử liệu, ngoài Nguyễn Văn Phong còn sự trợ giúp của Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý và vài viên quan khác nữa đã huy động 9.679 dân tráng trong trấn, chia làm ba tốp, thay nhau nạo vét. Dân phu làm thì được cấp cho mỗi người một quan tiền và một vuông gạo để chi dùng trong một tháng

Công trình cải tạo con kênh được tiến hành trong khoảng hơn ba tháng, khởi công ngày 23 tháng 2 năm 1819 và kết thúc ngày 28 tháng 5 năm 1819. Bảo Định trở thành con kênh đào đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long, được vua Gia Long đặt tên là Bảo Định hà (sông Bảo Định) và cho phép Huỳnh Công Lý được dựng bia ghi công ở bên bờ kênh gần chợ Thang Trông. Năm Ất Tỵ (1835), vua Minh Mạng cho đổi tên lại là Trí Tường giang (sông Trí Tường), có tạc bia đá dựng nơi bờ sông thôn Phú Kiết. Đời vua Thiệu Trị, không rõ năm nào, lại đổi tên thành sông An Định.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, sông Bảo Định trở thành nơi ghi dấu sự kiện lịch sử “Bảo Định hà lưu huyết”. Cuối tháng 3/1861, quân Pháp từ Vũng Gù theo kinh Bảo Định đánh chiếm thành Định Tường. Nguyễn Trung Trực - người hoạt động trong đạo quân đồn điền của Trương Định ngay từ buổi đầu tiên, lúc bấy giờ giữ chức Quyền Sung Quản Binh Đạo, hoạt động kháng Pháp tại địa bàn Phủ Tân An - đã chỉ huy nghĩa quân chặn đường hành quân của giặc Pháp, diệt tên chỉ huy là trung tá Bourdais và 30 lính. Paulin Vial, trong tác phẩm Historie de la Cochichine đã viết: “ Chưa có cuộc hành quân nào ở Nam Kỳ mà mệt nhọc và bị nhiều người chết chóc bằng cuộc hành quân này...”

Đến năm 1867, quân Pháp đã dùng máy xáng để mở rộng kênh này và cho đổi tên là Arroyo de la Poste (kênh Bưu Điện). Bảo Định trở thành con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới là chiếc xáng múc. Toàn bộ con sông dài 22km, nối liền sông Vàm Cỏ Tây khu vực thành phố Tân An với sông Mỹ Tho, riêng đoạn nằm trên địa phận Long An dài 7km.

Kể từ khi hoàn thành, sông Bảo Định luôn giữ một vai trò quan trọng về các mặt: quân sự, thủy lợi, giao thông và cung cấp một phần nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng.

Hơn 3 thế kỷ đã trôi qua, sông Bảo Định đã có nhiều thay đổi. Đoạn nối liền sông Vàm Cỏ Tây - khu vực thành phố Tân An - không còn cảnh trên bến dưới thuyền mà thay vào đó, hai bên bờ sông phố xá đông đúc, dân cư sinh hoạt, buôn bán tấp nập. Dọc theo bờ sông là các công trình văn hóa, công viên, khu vui chơi giải trí, khu hành chánh …và di tích lịch sử Nhà Tổng Thận – trụ sở công khai đầu tiên của Tỉnh ủy Tân An sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Với người dân Tân An, tự bao giờ sông Bảo Định đã gắn bó như một phần máu thịt. Và tin rằng không chỉ người dân Long An truyền tai nhau những câu chuyện gắn liền với kênh Vũng Gù - Bảo Định hà - Trí Tường giang – sông An Định – kênh Bưu Điện…, mà còn rất nhiều người biết và muốn biết về một dòng sông được ghi chép nhiều trong sách sử bởi những điều đặc biệt của nó - sông Bảo Định./.

   

Cầu dây Tân An bắt qua sông Bảo Định 

Một góc sông Bảo Định

Di tích lịch sử Nhà Tổng Thận nằm bên dòng Bảo Định

Bảo Định hà lưu huyết (trong Chống Xâm Lăng của Trần Văn Giàu)

   

Cầu Phú Kiết bắt qua dòng Bảo Định tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Chợ Phú Kiết (khu vực chợ Thang Trông xưa)- xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Công trường xây dựng cống Tân An trên sông Bảo Định

Cống Tân An trên sông Bảo Định khi hoàn thành

Bài và ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

27/06/2012 2:55 SAĐã ban hànhApproved
KIỂM TRA PHONG TRÀO TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TẠI HUYỆN CẦN GIUỘC KIỂM TRA PHONG TRÀO TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TẠI HUYỆN CẦN GIUỘC

Chiều ngày 08/5/2020, Đoàn kiểm tra tỉnh do ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm Trưởng đoàn đến huyện Cần Giuộc kiểm tra phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (TDĐKXDĐSVH) và việc triển khai thực hiện các danh hiệu văn hóa trên địa bàn huyện.

11-5-2020 Quang cảnh buổi kiểm tra PTTDDKXDDSVH.png

Quang cảnh buổi kiểm tra

Năm 2019, phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền cổ động luôn hướng về cơ sở. Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao như: Nhà văn hóa, sân bóng đá, sân quần vợt, hồ bơi... đã được xây dựng rộng khắp, làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Phong trào TDĐKXDĐSVH, trọng tâm là nâng cao chất lượng việc xây dựng gia đình văn hóa, ấp, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa, xã văn hóa nông thôn mới, thị trấn văn minh đô thị được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả, tạo nên sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cộng đồng dân cư về vai trò của văn hóa, thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Hoạt động của các Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Học tập cộng đồng, Nhà văn hóa, Khu thể thao ấp, khu phố hoạt động phong phú và đa dạng. Hiện toàn huyện có hơn 44.500 gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 97,5%; 78/79 ấp, khu phố văn hóa; 114/136 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; 11/15 xã, thị trấn đạt chuẩn xã văn hóa nông thôn mới, phường, thị trấn văn minh đô thị.

Đời sống văn hóa được nâng lên đã tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội; chính trị ổn định, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Qua đó, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của người dân đối với việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa ngày càng tốt đẹp như: Tình làng nghĩa xóm, giúp nhau phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Anh Dũng, Trưởng đoàn kiểm tra phát biểu kết luận: Ban Chỉ đạo Phong trào TDĐKXDĐSVH huyện cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục về ý nghĩa, tầm quan trọng của phong trào TDĐKXDĐSVH. Quan tâm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về văn hóa, trong đó chú trọng thực hiện tốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, phòng chống các tệ nạn xã hội. Huyện quan tâm công tác vệ sinh môi trường, xử lý rác thải; duy trì, xây dựng phát triển các thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở; chú trọng đánh giá chất lượng phong trào, phúc tra công nhận mới hoặc công nhận lại ấp, khu phố văn hóa, xã văn hóa nông thôn mới, phường, thị trấn văn minh đô thị; kiên quyết không công nhận lại các danh hiệu chưa đạt chuẩn theo tiêu chí qui định đã ban hành./.

Phương Cảnh, Thất Huy

12/05/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Huỳnh Văn Gấm, người đại biểu Quốc hội tài hoaHuỳnh Văn Gấm, người đại biểu Quốc hội tài hoa

        Cách đây 65 năm, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được tiến hành trong cả nước vào ngày 6/1/1946. Tỉnh Tân An có 2 đại biểu trúng cử. Tỉnh Chợ Lớn có 5 đại biểu trúng cử. Do nhiều lý do lúc bấy giờ, chỉ có 3 đại biểu là Huỳnh Văn Gấm, Tống Đức Viễn (Tân An) và bác sĩ Nguyễn Văn Cương (Chợ Lớn) ra Trung ương nhận chức. Nếu như Tống Đức Viễn là một nhân sĩ có tài hùng biện thì Huỳnh Văn Gấm là một họa sĩ tài hoa, có nhiều đóng góp cho mỹ thuật kháng chiến. Ông tiếp tục là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa II (1960-1964) và khóa III (1964-1971).

 

        Hoạ sĩ Huỳnh Văn Gấm sinh ngày 10/3/1922 trong một gia đình trung lưu tại xã Bình Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tân An (nay thuộc thành phố Tân An, tỉnh Long An), là sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa VI (1941-1945), cùng khóa với các họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Tạ Thúc Bình...

        Tháng 5-1945, ông tham gia hoạt động Thanh niên Tiền phong và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 6-1945. Cách mạng tháng 8/1945, ông tham gia cướp chính quyền, phụ trách Ban Quân sự Tỉnh ủy rồi sau đó giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Mặt trận Việt Minh, Trưởng Ban Tuyên truyền tỉnh Tân An. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I tháng 1/1946. Sau chuyến ra Hà Nội dự khóa họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông trở lại quê nhà cùng nhân dân chiến đấu chống giặc. Ông lần lượt giữ các cương vị và trọng trách như Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh (1947), Giám đốc xưởng in tín phiếu cho chiến trường Nam Bộ (1949). Mặc dù bận rộn với công tác lãnh đạo, ông vẫn tranh thủ cùng các họa sĩ vẽ phác thảo mẫu giấy bạc, sáng tác, tiêu biểu là bức tranh sơn dầu Cánh tay chỉ đạo và bộ “tứ bình” Xuân Hạ Thu Đông được cả Nam Bộ ưa thích. Sau Hiệp định Giơ- ne -vơ, Huỳnh Văn Gấm tập kết ra Bắc, giữ nhiều nhiệm vụ khác nhau như tham gia vẽ giấy bạc cho Ngân hà ng Việt Nam, trong Ban lãnh đạo Hội Mỹ thuật Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Mỹ thuật... Trên cương vị nào, ông cũng mang hết nhiệt tình ra làm việc, đào tạo cán bộ, xây dựng phong trào. Sau ngày miền Nam giải phóng, ông trở về Nam, làm đại diện cho Hội Mỹ thuật Trung ương tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 10/2/1987, để lại niềm thương tiếc trong đồng chí, bạn bè và đồng nghiệp.

 

Họa sĩ Huỳnh Văn Gấm và phu nhân trong thời gian tập kết ra miền Bắc


            Về mặt sáng tác hội họa, bằng sự nhạy cảm về chính trị và năng lực tìm tòi sáng tạo, với nhiều thể loại, nhiều chất liệu, ông đã sáng tác và để lại nhiều tác phẩm giá trị như Chống bắt lính ở miền Nam, Nam kỳ khởi nghĩa 1940, Đọc sách, Trái tim và nòng súng, Họp Công hội đỏ, Bác Hồ thời thơ ấu, Ngô Gia Tự, Võ Thị Sáu, Cô Liên, Ngày Chủ nhật... Trong số ấy, nhiều tác tác phẩm đoạt giải thưởng cao trong và ngoài nước, được chọn trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội.

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Huỳnh Văn Gấm đã thể hiện một cách nhất quán và kiên định quan điểm “nghệ thuật phục vụ đại chúng, phục vụ cách mạng”. Cống hiến của ông đã góp phần có ý nghĩa vào di sản nghệ thuật của dân tộc mà như đánh giá của Hội Liên hiệp nghệ thuật Việt Nam trong bức điện chia buồn khi ông mất là: “người nghệ sĩ tài năng để lại nhiều tác phẩm xuất sắc trong kho tàng  nghệ thuật dân tộc”. Huỳnh Văn Gấm là một trong 18 nghệ sĩ tạo hình Việt Nam được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

        Ý thức được vai trò lịch sử cũng như đóng góp của Họa sĩ Huỳnh Văn Gấm, trong những năm qua, ngành Văn hóa-Thông tin (nay là VH,TT và DL) tỉnh nhà đã cho tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, sưu tầm tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của họa sĩ Huỳnh Văn Gấm để trưng bày phục vụ cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng ở địa phương. Kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhân dịp cuộc triển lãm Mỹ thuật khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 12 được tổ chức tại tỉnh Long An, tháng 12/2007, Ban Thường vụ Hội Mỹ thuật Việt Nam quyết định tặng tượng chân dung họa sĩ  Huỳnh Văn Gấm có chất liệu bằng đồng cho quê hương của họa sĩ, tỉnh Long An. Bức tượng ấy cùng với những tư liệu, hình ảnh của họa sĩ Huỳnh Văn Gấm hiện đang được đặt tại một vị trí trang trọng trong phòng trưng bày Bảo tàng Long An.

        Cùng với việc tên ông đã được đặt cho một con đường ở thị xã Tân An (nay là thành phố Tân An), những hoạt động trên thực sự là sự tôn vinh xứng đáng với những gì người đại biểu Quốc hội tài hoa này đã cống hiến cho nền mỹ thuật cách mạng nói riêng, sự nghiệp cách mạng nói chung./.

                                                                                Bài và ảnh Nguyễn Tấn Quốc

 

31/10/2011 2:28 SAĐã ban hànhApproved
Khánh Hậu - Vấn đề bảo tồn và phát triểnKhánh Hậu - Vấn đề bảo tồn và phát triển

Văn hóa Việt Nam được hình thành bởi ba trụ cột, đó là gia đình - làng - nước, trong đó làng xã là nơi nuôi dưỡng mạch ngầm văn hóa, nơi sáng tạo, duy trì và chuyển giao kho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng và hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng cư dân các làng xã và của cả dân tộc. Có thể khẳng định rằng, dù trong hoàn cảnh nào, làng xã vẫn là những thực thể văn hóa đặc biệt, có đóng góp xứng đáng vào diện mạo và bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó là:

- Những cộng đồng lãnh thổ, do tất cả các thành viên góp phần khai phá, xây dựng.

- Những cộng đồng kinh tế bền vững, là đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp trên cơ sở nền nông nghiệp lúa nước.

- Những cộng đồng văn hóa, cùng nhau sáng tạo những giá trị văn hóa đặc sắc và lại cùng nhau bảo vệ, giữ gìn và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống từ đời này sang đời khác.

Di sản văn hóa làng cần được xem xét như một chỉnh thể thống nhất không tách rời giữa di tích động sản và bất động sản; di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, môi trường thiên nhiên và môi trường nhân tạo. Theo quy định của Luật di sản văn hóa của nước ta, di sản văn hóa được phân chia ra hai thành tố cơ bản là: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, với các bộ phận cấu thành như sau:

- Di sản văn hóa phi vật thể gồm: Các hình thức biểu diễn truyền khẩu; các hình thức trình diễn nghệ thuật; các phong tục tập quán; nghi thức và lễ hội; quan niệm, hiểu biết về thiên nhiên và thái độ ứng xử với thiên nhiên.

- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.

Từ góc độ di sản văn hóa làng, chúng ta nhận thấy rằng văn hóa vật thể được thể hiện dưới các dạng thức có tính phổ quát như: Môi trường sinh thái - nhân văn, khung cảnh thiên nhiên thuộc về địa bàn cư trú - sản xuất của cộng đồng làng xã; các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng (đình, chùa, đền, miếu…), các công trình kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống; các di vật là công cụ lao động, phương tiện vận chuyển và các sản phẩm của quá trình lao động sáng tạo - đặc biệt là các sản phẩm lao động thủ công ở các làng nghề truyền thống.

Tham gia chương trình Khảo sát, đánh giá hiện trạng và đề xuất hướng phát triển kiến trúc nông thôn khu vực Khánh Hậu - do Hội Kiến Trúc Sư Long An tổ chức, tác giả trình bày một số nhận thức ở góc độ bảo tồn và phát triển khu vực văn hóa đặc sắc này.

1. Lịch sử hình thành: Khoảng đầu và giữa thế kỷ XVII, lưu dân người Việt đến đồng bằng sông Cửu Long, bởi nhiều động lực thúc đẩy khác nhau về chính trị, kinh tế, tôn giáo, quân sự và xã hội. So với tiến trình lập cư ở đồng bằng sông Hồng và sông Mã thì tốc độ di dân lập cư ở đồng bằng sông Cửu Long đã diễn ra rất nhanh, chỉ trong thời gian hơn hai thế kỷ rưỡi; đồng thời mạng lưới làng xã cũng đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp theo cương vực châu thổ. Chính khối dân cư giàu tính năng động đến lập nghiệp mới ở đây, sẽ dần dần xây dựng các làng xã với những cơ cấu kinh tế, xã hội, chính trị và tinh thần hoàn chỉnh hơn, theo trình độ và khả năng chủ quan của họ cũng như các điều kiện khách quan và cụ thể khác của môi trường bên ngoài.

Về cơ bản trong bối cảnh truyền thống, lưu dân vẫn là những nông dân, do đó trong sinh hoạt kinh tế của họ chủ yếu vẫn dựa trên nông nghiệp. Lao động trực tiếp để khai phá đất hoang và một phần nào kế thừa những thành quả khai thác của người bản địa, là hai nguồn gốc chủ yếu cho tiến trình sở hữu ruộng đất của lưu dân tại đồng bằng sông Cửu Long.

Những lưu dân xưa, khi đến vùng đất Ba Giồng- Khánh Hậu ngày nay, cũng không ngoài hoàn cảnh ấy. Ở Gia Định vào thế kỷ XVII- XVIII có những loại tổ chức làng xã mang tên như thuộc, trại, bãi, nguồn, cửa, nậu, trường, điếm, sở, súc… chưa ổn định và chưa thống nhất ở mỗi địa phương, một phần nào đó có các chức năng tương đương với các thôn làng truyền thống. Cơ cấu tinh thần truyền thống của làng xã ở đây thể hiện rõ nét nhất ở các tập tục tín ngưỡng đình làng, nơi đây còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng thường trực của dân làng, ở Khánh Hậu thuở ấy, sau khi hình thành hai thôn Tường Khánh và Nhơn Hậu, nhân dân cũng lập nên 2 ngôi đình Tường Khánh (nay là đình Khánh Hậu) và Nhơn Hậu (thế kỷ XVIII).

Khi họ Nguyễn chạy vào đất Gia Định, sau cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn, tổ chức cơ chế quyền lực làng xã được quan tâm tổ chức, nhằm tạo điều kiện chống lại Tây Sơn trong 14 tổng, thuộc 3 dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Long Hồ và đạo Trường Đồn. Theo truyền thống, làng xã được ở Nam Bộ vào lúc này thường được điều khiển bởi một Hội Đồng Kỳ Mục hay Hương Chức gồm các hương chức lớn và các chức dịch nhỏ phụ tá. Các hương chức được chọn trong số những người có địa sản, hay có uy tín và khả năng. Công việc chung trong làng được bàn bạc trong hội làng, được tổ chức tại đình làng vào mùa xuân và mùa thu trong năm.

Trong những năm thế chiến thứ hai, làng mạc ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung được Việt Minh hỗ trợ để tổ chức các hoạt động kháng chiến chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Năm 1945, sau khi người Nhật rút khỏi Việt Nam, chính quyền Việt Minh nắm quyền lực và thay đổi các hội đồng làng- xã truyền thống bởi những Ủy ban hành chánh, do nhân dân bầu cử .

Tuy nhiên, khi thực dân Pháp trở lại Việt Nam vào năm 1946, họ đã phục hồi Hội đồng hương chức truyền thống và tái lập chính quyền thuộc địa tại Đông Dương. Thời kỳ tiếp theo, 1946- 1954, là thời gian của sự bất ổn lớn đã được lưu ý từ trước đó, nhưng điều này chỉ được giảm thiểu một phần bởi Hiệp định Geneva được ký kết vào tháng 7 năm 1954. Tiếp theo là thời kỳ của chế độ Sài Gòn cũ, đã đề ra nhiều thay đổi lớn trong chính quyền làng - xã cùng với những nỗ lực hoạt động nhằm giới thiệu một số cải cách về kinh tế và những hoạt động kích thích nền kinh tế phát triển, nhưng các chương trình ấy vẫn không có sự thành công cần thiết, trong đó trường hợp xã Khánh Hậu là một thực tế.

Ngày nay, dưới ngọn cờ cách mạng, cùng cả nước đi lên theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã Khánh Hậu ngày xưa - nay là phường Khánh Hậu và phường Tân Khánh, thuộc thành phố Tân An có hệ thống chính trị vững chắc, gồm Đảng bộ cơ sở, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân với sự giúp việc của các ban ngành và sự phối hợp của các tổ chức đồn thể chính trị - xã hội cùng hoạt động điều hành các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và xã hội của địa phương ngày càng phát triển trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

2. Đặc trưng văn hóa và cư dân: Cư dân Khánh Hậu là hậu duệ của những lưu dân Nam tiến, đa số có nguồn gốc từ vùng ngũ Quảng. Họ đã kế thừa truyền thống văn hóa nơi cố hương và biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của người Hoa, người Chân Lạp, người Chăm để tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mình. Về phong tục của huyện Kiến Hưng, trong đó có đất Ba Giồng, Trịnh Hoài Đức có viết: “Huyện Kiến Hưng nửa cày ruộng, nửa đất trồng, mọi người làm nghề cày ruộng, trồng dâu, có nhiều người dũng cảm tiết nghĩa”. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng có viết: “Phong tục giống như Gia Định nhưng vật lực có hơn nên cũng ham vui và thích chơi nhiều hơn. Phục sức cũng xa xỉ hơn, phụ nữ nuôi tằm dệt lụa cũng hơn mà nhà nông cày cấy, làm ăn cũng hơn. Lại hay tin quỷ thần, hay mời đồng cốt để họ múa hát làm vui. Chưa đổi hết được phong tục Ba Giồng, rất thượng võ và thích diễn võ nghệ. Đó là di tập của quân Đông Sơn xưa”.

Qua đó ta thấy rằng đặc trưng trong tính cách và phong tục tập quán của người dân Ba Giồng là : dũng cảm, tiết nghĩa; làm ra làm, chơi ra chơi; có tinh thần thượng võ và ham chuộng võ nghệ. Qua đó ta có thể hiểu được vì sao nhân dân Khánh Hậu xưa và nay đều rất sùng kính Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức- một con người nổi tiếng về nghĩa khí và võ nghệ của giồng Cái Én.

Ở Khánh Hậu, người Việt là thành phần chủ yếu trong cộng đồng dân cư nên ở đây chủ yếu là tín ngưỡng của người Việt. Bên cạnh đó, ta còn thấy một số yếu tố tín ngưỡng của người Hoa, cộng đồng người có mặt ở đất Ba Giồng từ rất sớm. Ở những dòng họ đầu tiên đến khai phá Khánh Hậu, có lễ cúng Việc Lề hoặc giỗ Hội. Mỗi kiến họ có nghi thức và thời gian cúng Việc Lề khác nhau. Lễ cúng Việc Lề thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với tổ tiên đã có công khai cơ, mở đất và kết chặt tình thân giữa người trong cùng một dòng họ.

Sự ra đời của đình làng đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng của cư dân Khánh Hậu trong quá trình khẩn hoang lập ấp. Đình làng là nơi thờ vị thần của làng (Thành Hoàng bổn cảnh), các vị tiền hiền, hậu hiền và cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân. Khánh Hậu ngày nay còn lưu giữ hai ngôi đình là Tường Khánh và Nhơn Hậu, được xây dựng từ cuối thế kỷ XVIII. Đình Tường Khánh hiện còn lưu giữ 6 đạo sắc của 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức phong tặng. Hai ngôi đình ở Khánh Hậu hằng năm đều tổ chức cúng 4 kỳ vào các lệ: kỳ yên, thượng điền, hạ điền và cầu bông. Lệ kỳ yên ở đình Tường Khánh còn có thêm lễ tống phong, được dân làng tổ chức một cách trọng thể. Những lễ nghi nông nghiệp này thể hiện nguyện vọng của quần chúng nhân dân về một cuộc sống sung túc, đầy đủ, mùa màng tươi tốt, quốc thới dân an. Vào dịp được mùa, cứ đáo lệ 3 năm một lần, vào lễ kỳ yên dân làng còn được thưởng thức nghệ thuật hát bội ở võ ca đình làng. Tiếc rằng nét đẹp văn hóa này đã bị mai một vài chục năm nay và chưa được phục hồi.

Ở Khánh Hậu còn có một thiết chế tín ngưỡng dân gian đặc biệt là lăng miếu Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức (nay thuộc khu phố Giồng Dinh, phường Khánh Hậu). Nhân dân ở đây coi ông như là một vị tiền hiền có công khai cơ, mở đất và là một vị thần tiêu biểu cho lòng trung nghĩa nên đã cùng gia tộc tổ chức trọng thể lễ Chu Niên của ông vào 3 ngày mồng bảy, mồng tám, mồng chín tháng chín âm lịch hàng năm. Truyền thống này được kéo dài gần 200 năm, bắt đầu từ năm 1820 (sau khi ông qua đời một năm).

 

Di tích đền thờ và lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức

Chánh điện đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức

Bình phong lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức

Lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức

Ngoài ra, tại Khánh Hậu còn hiện diện một thiết chế tín ngưỡng đặc trưng của người Hoa, đó là chùa Ông ở khu phố Nhơn Hậu, phường Tân Khánh.

Về tôn giáo, ở Khánh Hậu có hai đạo chính là Phật giáo và Cao Đài. Phật giáo đã theo chân những lưu dân Nam tiến đến Khánh Hậu từ thời kỳ khai phá và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cư dân nơi đây. Đa số cư dân ở Khánh Hậu đều chịu ảnh hưởng bởi triết lý nhân quả, luân hồi, tứ diệu đế... của đạo Phật. Một số phong tục, tập quán như: cúng rằm, ăn chay, kiêng kỵ sát sinh, đi chùa lễ Phật cũng bắt nguồn từ tôn giáo này. Hiện tại, trên địa bàn Khánh Hậu có 3 ngôi chùa là: Diêu Quang tự (Chùa Cây Trôm, khu phố Quyết Thắng, phường Khánh Hậu, Thiên Phước tự (khu phố Nhơn Cầu 1, phường Tân Khánh), Khánh Điền tự (Khu phố Nhơn Cầu 1, phường Tân Khánh).

Đạo Cao Đài tuy ra đời muộn (1926) nhưng khá phát triển ở Khánh Hậu. Người theo đạo Cao Đài ban đầu đa số là hương chức, điền chủ… thuộc tầng lớp trung lưu của xã hội. Sau này, con cháu họ theo truyền thống của gia đình, cũng theo đạo Cao Đài. Hiện tại, ở Khánh Hậu có 3 cơ sở hành lễ của đạo Cao Đài gồm: Tam Thanh bửu điện (khu phố Giồng Dinh, phường Khánh Hậu), thánh thất Quyết Thắng (khu phố Quyết Thắng, phường Khánh Hậu), thánh thất Thủ Tửu  (khu phố Thủ Tửu 1, phường Tân Khánh).

Ngày nay, thực hiện chủ trương lớn của Nhà nước về phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, bộ mặt văn hóa ở Khánh Hậu thêm phần khởi sắc với hệ thống giao thông, cơ quan, xí nghiệp, nhà cửa đều khang trang hơn; bên cạnh đó là những hình thức sinh hoạt văn hóa như các lễ hội cổ truyền, câu lạc bộ thơ - ca, câu lạc bộ đờn ca tài tử diễn ra ngày càng sinh động và phong phú.  Những yếu tố lịch sử và văn hóa cùng với những đặc trưng kiến trúc truyền thống của người Việt, thông qua kết quả nghiên cứu bước đầu của chương trình khảo sát - điều tra mà chúng ta thảo luận hôm nay đã hình thành nên một khu vực văn hóa truyền thống giữa lòng thành phố mới.

3. Vấn đề bảo tồn và phát triển khu vực Khánh Hậu: Hiện nay đất nước ta đang chuyển mạnh trên con đường hội nhập và phát  triển kinh tế, thu nhập của người dân đang gia tăng và các hoạt động thương mại và dịch vụ cũng tấp nập hơn. Khu vực Khánh Hậu của thành phố Tân An cũng đang ở trong xu thế ấy, do vậy, để thực hiện mục tiêu bảo tồn các di sản văn hóa ở đây, chúng ta cùng xem xét những nội dung cơ bản nhằm thảo luận, tham khảo ý kiến nhân dân, đề xuất lãnh đạo tỉnh và thành phố cùng các ngành chức năng có chính sách cho việc bảo tồn và phát triển khu vực một cách bền vững.

Mục tiêu của việc bảo tồn khu vực Khánh Hậu là phải nhằm nâng cao mức sinh hoạt và môi trường sống của người dân. Để làm được điều này phải bảo đảm được ba yếu tố chủ yếu như sau:

- Bảo tồn di sản văn hóa.

- Duy trì cải tạo môi trường sống.

- Phát triển kinh tế, xã hội.

Trong đó, có những mâu thuẫn không dễ giải quyết, bởi lẽ:

- Phát triển kinh tế thì rất khó bảo tồn được di sản văn hóa, ngược lại bảo tồn di sản thì khó có thể phát triển được kinh tế. Do vậy, rất cần thiết phải tạo được một cấu trúc kinh tế thúc đẩy việc bảo tồn di sản văn hóa. Mặt khác cũng có thể tách rời việc phát triển kinh tế đối với việc bảo tồn trong những trường hợp đặc biệt.

- Nếu quá nhấn mạnh những lý luận về di sản văn hóa thì sẽ gây ra nhiều bất tiện trong sinh hoạt thường nhật cũng như việc tu sửa, cải tạo nhà cửa của người dân theo nhu cầu và khuynh hướng phát triển xã hội, nhưng nếu theo đuổi hiện đại hóa sinh hoạt và nơi ở thì không phải không có ảnh hưởng đến di sản văn hóa. Từ đó, chúng ta cần nghiên cứu và định hướng sao cho những ngôi nhà truyền thống phù hợp với sinh hoạt hiện đại, đồng thời tổng thể kiến trúc của khu vực vẫn giữ được bản sắc không gian văn hóa làng Khánh Hậu xưa, trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay.

Cho dù chúng ta nói đến “bảo tồn di sản văn hóa”, “xây dựng một cuộc sống lành mạnh sung túc”, “thực hiện sự phát triển kinh tế - xã hội” thì vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, cấp thốt nước, thủy lợi… là vấn đề cơ bản nhất cần được đặt lên hàng đầu, việc thực hiện các công trình này cần được quy hoạch tránh tác động đến khu vực bảo tồn và các di tích lịch sử - văn hóa.

Vẻ đẹp của Khánh Hậu là làng mạc, đồng quê, đối lập với những khu phố trong đô thị sầm uất. Phong cảnh đồng ruộng rất quan trọng. Do vậy, bên cạnh việc bảo tồn di tích kiến trúc truyền thống, cần bảo tồn những khu vực hiện nay là ruộng lúa, đồng thời nhất thiết phải có quy chế và quy hoạch sử dụng đất cho việc phát triển ngoại vi khu vực bảo tồn một cách hợp lý.

Chúng ta cũng cần xác định ranh giới giữa các cộng đồng, đặc biệt là giữa khu vực mang tính lịch sử và khu quy hoạch mới, cần có những vùng chuyển tiếp giữa khu cũ và mới. Những thảm ruộng lúa có thể đóng vai trò là ranh giới chuyển tiếp lý tưởng cho hai khu vực nêu trên. Bên cạnh đó là việc bảo vệ cảnh quan tự nhiên của hệ thống sông rạch trong vùng, bảo tồn những loại cây cổ thụ cũng cần được quy hoạch.

Việc quy định chiều cao và số tầng các công trình kiến trúc mới cũng cần được quan tâm nhằm hạn chế ảnh hưởng của chúng đối với các kiến trúc cổ trong khu vực. Bên cạnh đó, việc sử dụng vật liệu xây dựng cũng như màu sắc của các công trình kiến trúc mới trong khu vực bảo tồn cũng cần được nghiên cứu và thể hiện nhằm tạo nên sự hài hòa trong không gian khu vực bảo tồn.

Về mặt phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh việc phát triển kinh tế khu vực Khánh Hậu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thương mại dịch vụ theo tuyến Quốc lộ I, đầu tư sản xuất nông nghiệp tại chỗ và ở cơ sở 2 (vùng Đồng Tháp Mười) chúng ta còn có triển vọng định hướng phát triển kinh tế khu vực này trên cơ sở khai thác khu vực văn hóa truyền thống đặc sắc ở đây, đó là việc tổ chức Khánh Hậu thành một bảo tàng di sản văn hóa làng mà chủ thể hoạt động là cộng đồng cư dân địa phương; đối tượng hoạt động là di sản văn hóa làng, bao gồm môi trường sinh thái nhân văn, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán và lễ hội… nhằm mục đích giữ gìn, trao truyền di sản văn hóa, khai thác di sản văn hóa làng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, mang lại lợi ích vật chất và tinh thần cho cư dân địa phương. Trong điều kiện thực tiễn ở Long An, khu vực Khánh Hậu có thể trở thành điểm đến quan trọng trong một chương trình tham quan du lịch chuyên đề, bao gồm một số điểm chính như sau:

- Làng nghề dệt chiếu Long Định (Cần Đước).

- Làng nghề nấu rượu Gò Đen (Bến Lức).

- Làng nghề làm trống Bình An (Tân Trụ).

- Bảo tàng Long An.

- Khu vực Khánh Hậu.

Việc khai thác đúng mức văn hóa ẩm thực dân gian cũng như nghệ thuật đờn ca tài tử, với những nét riêng của Long An sẽ là những mối dây liên kết làm tăng thêm sự hài hòa và đa dạng của diện mạo văn hóa tỉnh nhà, trong đó công việc của nhà chuyên môn về quy hoạch,  kiến trúc và xây dựng trong việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững, ngày càng được tôn vinh. Bởi lẽ, “Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”./.

                                                                                Bài và ảnh: Vương Thu Hồng

Tài liệu tham khảo 

  1. Mạc Đường, chủ biên, 1995, Làng xã ở châu Á và ở Việt Nam. NXB thành phố Hồ Chí Minh.
  2. James B. Henry, 1964, The small world of Khanh Hau. Aldine/ Chicago (Mỹ).
  3. Vương Thu Hồng, 2004, Làng Khánh Hậu - xưa và nay, tiểu luận, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Nguyễn Văn Huyên, 1996, Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  5. Thạch Phương- Lưu Quang Tuyến (đồng chủ biên), 1989, Địa chí Long An,  NXB Khoa học Xã hội và NXB Long An.
  6. Cục Di sản văn hóa, 2007, Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập I, NXB Thế giới, Hà Nội. 

28/02/2012 9:16 SAĐã ban hànhApproved
KHU LƯU NIỆM TRUYỀN THỐNG TIỂU ĐOÀN 261 - GIRON, NƠI THẮM ĐƯỢM TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CUBA KHU LƯU NIỆM TRUYỀN THỐNG TIỂU ĐOÀN 261 - GIRON, NƠI THẮM ĐƯỢM TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CUBA

Ngày 16/6/2020, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định số 2008/QĐ-UBND xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron, xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

25-8-2020 Bằng xếp hạng di tích “Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron”.jpg

Bằng xếp hạng di tích Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron

Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron là nơi minh chứng cho cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã thực hiện ở Việt Nam. Đây cũng là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của quân và dân Thạnh Hóa nói riêng, tỉnh Long An nói chung, xứng đáng với danh hiệu tám chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" mà Long An đã được phong tặng. Đặc biệt, đây còn là nơi lưu niệm mối quan hệ hữu nghị đoàn kết, gắn bó khắng khít giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như xây dựng đất nước và cho đến hôm nay.

Ngược dòng lịch sử, sau chiến thắng Đồng Khởi năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời đã phản ánh thắng lợi của phong trào. Quân giải phóng chính thức là bộ phận trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường. Quân khu 8 lúc đó gồm 7 tỉnh: Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang cũng tiến hành thành lập các đơn vị chủ lực của mình nhằm đáp ứng kịp thời với tình hình mới. Liền sau đó, vào ngày 02/01/1961 tại khu vực Trấp Tre, Kiến Tường (nay thuộc xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa), đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân khu 8 đã được thành lập, đó là Tiểu đoàn 261.

Tiểu đoàn 261 ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và toàn Đảng bộ khu 8, cho thấy được ý chí quyết tâm làm chủ tình hình, xây dựng lực lượng vững mạnh, cùng các tỉnh trong quân khu và toàn miền Nam tiến hành chống "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - Diệm. Biên chế ban đầu của tiểu đoàn gồm hai đại đội (I, II) và một trung đội trợ chiến là bộ đội địa phương và du kích của các tỉnh thuộc Quân khu 8. Quân số ban đầu của tiểu đoàn chỉ khoảng 300 đồng chí, theo biên chế thì còn thiếu nhiều nhưng tinh thần chiến đấu và khí thế rất mạnh mẽ.

Với khẩu hiệu "Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm", Tiểu đoàn 261 đã cùng với bộ đội địa phương tham gia nhiều trận đánh ở các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre và Đồng Tháp, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, góp phần cùng khu 8 và cả nước giành thắng lợi hoàn toàn. Trong đó, tiêu biểu là chiến thắng lịch sử Ấp Bắc vào ngày 02/01/1963, không những gây tiếng vang trong nước mà còn chấn động cả thế giới. Trận Ấp Bắc bước đầu báo hiệu "chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, phượng hoàng bay, phượng hoàng vồ mồi…" của Mỹ - Nguỵ bị phá sản sau một năm tung hoành trên bầu trời của khu 8 nói chung và Nam Bộ nói riêng. Chiến thắng Ấp Bắc đã mở ra một trang mới, một hướng đi mới cho lực lượng vũ trang trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta. Sau trận Ấp Bắc, tháng 4/1963, Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã phát động phong trào "Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" trên toàn miền Nam.

25-8-2020 Bia lưu niệm tại khu di tích.jpg

Bia lưu niệm tại khu di tích với khẩu hiệu"Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm"
của Tiểu đoàn 261 - Giron

Trước đó, vào ngày 19/4/1961, tại bãi biển Giron của nước Cuba, quân và dân Cuba đã đánh tan cuộc đổ bộ của hơn một ngàn tên giặc Mỹ xâm lược. Để tỏ lòng đoàn kết với nhân dân Việt Nam và khâm phục tài nghệ của Tiểu đoàn 261 đã đánh thắng chiến thuật "trực thăng vận, thiết xa vận" của Mỹ - Ngụy trong trận Ấp Bắc, vào ngày 02/01/1964, Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba do Chủ tịch Nhà nước Cuba – Fidel Castro gởi tặng tiểu đoàn lá cờ có dòng chữ "Giron" và khẩu súng ngắn Col 12 ly mà quân đội Cuba đã lấy được trên bãi biển Giron ngày đánh tan quân xâm lược Mỹ; đồng thời, lấy tên Ấp Bắc đặt cho một địa phương và cho xây dựng Tượng đài Chiến thắng Ấp Bắc ngay trên đất nước Cuba. Bởi vì, Cuba xem chiến thắng Ấp Bắc có giá trị và tầm quan trọng như chiến thắng Giron của nhân dân Cuba. Kể từ đó, Tiểu đoàn 261 chính thức có tên Tiểu đoàn 261 - Giron, tên gọi thắm tình hữu nghị Việt Nam - Cuba, trở thành biểu tượng chiến thắng của cả hai dân tộc trước kẻ thù chung. Hai hiện vật này đã từng được trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng vũ trang Quân khu 9. Sau khi vinh dự được mang tên mới, Tiểu đoàn 261 - Giron đã ghi vào lịch sử chống Mỹ trên vùng đất khu 8 xưa rất nhiều chiến công huy hoàng, lừng lẫy. Đó cũng là lý do tại sao Tiểu đoàn 261 - Giron đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều quân công, chiến công các hạng: Quân công hạng 3, Huân chương Chiến công và đặc biệt là ba lần được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

25-8-2020 Bà Indira Lopez Arguelles.jpg

Bà Indira Lopez Arguelles - đại diện Tổng Lãnh sự Cuba tại Thành phố Hồ Chí Minh
 phát biểu trong Lễ công bố quyết định và đón nhận bằng xếp hạng
di tích Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 – Giron

Hiện nay, được sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp, Khu lưu niệm truyền thống Tiểu đoàn 261 - Giron đã được xây dựng xong phần thô của hạng mục nhà bia cùng một số công trình phụ và đang tiếp tục xây dựng hạng mục nhà trưng bày và các hạng mục khác nhằm làm cho nơi đây hứa hẹn là một điểm đến hấp dẫn, một địa chỉ đỏ của tỉnh trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, khu lưu niệm còn là nơi thắt chặt quan hệ ngoại giao, tình đoàn kết, gắn bó của hai nước Việt Nam - Cuba./.

Hồng Nhung

28/08/2020 2:00 CHĐã ban hànhApproved
CẦN GIUỘC: TRAO GIẢI CUỘC THI GIỚI THIỆU SÁCH TRỰC TUYẾN NĂM 2020 CẦN GIUỘC: TRAO GIẢI CUỘC THI GIỚI THIỆU SÁCH TRỰC TUYẾN NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Giuộc phối hợp Huyện Đoàn tổ chức Lễ trao giải cuộc thi giới thiệu sách trực tuyến năm 2020.

23-6-2020 trao giai hoi thi doc sach truc tuyen 2020.png

Cuộc thi giới thiệu sách trực tuyến năm 2020 là hoạt động hưởng ứng Ngày sách Việt Nam với hình thức thi trực tuyến, phù hợp diễn biến tình hình phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Các thí sinh tham gia ở bảng A: Giới thiệu sách về văn hóa xã hội; bảng B: Giới thiệu sách về Bác Hồ. Mỗi thí sinh giới thiệu một quyển sách mình tâm đắc nhất.

Qua một tháng phát động, cuộc thi đã thu hút 38 thí sinh tham dự thi ở hai bảng A và B, với gần 100.000 lượt người xem, 6.000 lượt chia sẻ và hơn 4.600 lượt yêu thích. Đa số các thí sinh tham gia đều nhiệt tình, nghiêm túc, ngoài việc lựa chọn được những tài liệu phù hợp, các thí sinh còn có phần đầu tư rất kỹ từ cách giới thiệu sách, quay ngoại cảnh và lồng ghép nhạc, hình ảnh sinh động. Kết quả, Ban Tổ chức trao giải đặc biệt cho thí sinh Nguyễn Minh Thuật, xã Phước Lại; giải nhất bảng A cho thí sinh Phạm Khắc Phụng, xã Long Thượng; giải nhất bảng B cho thí sinh Phạm Hoàng Tiến, Trường THPT Cần Giuộc.

Sự thành công của cuộc thi đã khẳng định vai trò, giá trị của sách, lan tỏa niềm đam mê đọc sách, khuyến khích cộng đồng cùng chung tay xây dựng văn hóa đọc trong thời đại công nghệ hiện nay./.

Phương Cảnh

24/06/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
KỶ NIỆM 145 NĂM NGÀY HY SINH CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰCKỶ NIỆM 145 NĂM NGÀY HY SINH CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

    Ngày 15-10-2013, tại khu Di tích Lịch sử Vàm Nhựt Tảo xã An Nhựt Tân huyện Tân Trụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng UBND huyện Tân Trụ tổ chức kỷ niệm 175 năm sinh và 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Bí thư Tỉnh ủy – Mai Văn Chính cùng lãnh đạo UBND tỉnh, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, các ban ngành đoàn thể và hàng ngàn lượt người dân trong và ngoài tỉnh đến dâng hương, tưởng niệm.

 

Bí thư Tỉnh ủy – Mai Văn Chính cùng lãnh đạo UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh dâng hương
 tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực
 


    Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo là nơi gắn liền với sự kiện  đốt cháy tàu Ésperance Pháp của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực vào tối ngày 10-12-1861. Khu di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia có diện tích trên 6 hécta, gồm:
Đền Tưởng niệm - nơi khách tham quan thắp hương tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; Nhà Trưng bày - nơi trưng bày những hiện vật, hình ảnh, tài liệu khoa học về thân thế và sự nghiệp Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, trong đó tái hiện chiến công lững lẫy “Hỏa hồng Nhựt Tảo”; Nhà bia - nơi khắc ghi văn bia ca ngợi Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực cùng chiến thắng Vàm Nhựt Tảo. Đây không chỉ là nơi ghi nhớ chiến công oanh liệt của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực mà còn đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân Long An; tạo cảnh quan để thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan; tạo địa điểm cho sinh viên, học sinh du khảo về nguồn và thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Lãnh đạo tỉnh tham quan Khu Di tích Lịch sử Vàm Nhựt Tảo

    Lễ kỷ niệm 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là hoạt động tưởng nhớ công ơn với bậc tiền nhân. Qua đây, giáo dục lòng yêu nước, hướng về nguồn cội cho thế hệ hôm nay.

                                                                                                 Bài, ảnh: THÙY HƯƠNG

21/10/2013 9:32 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC HƯỞNG ỨNG HOẠT ĐỘNG “ÁO DÀI - DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM” CẦN ĐƯỚC HƯỞNG ỨNG HOẠT ĐỘNG “ÁO DÀI - DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM”

Hưởng ứng hoạt động "Áo dài - Di sản văn hóa Việt Nam" do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động, Liên đoàn Lao động huyện Cần Đước phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện tổ chức phát động, thực hiện tuần lễ mặc áo dài từ ngày 02-06/3/2020.

10.1 Chị em phụ nữ mặc áo dài chào cờ đầu tháng 3.2020.JPG

Tuần lễ mặc áo dài được phát động đến các cấp công đoàn cơ sở và các cấp hội phụ nữ trong huyện gắn với các hoạt động chào mừng kỷ niệm 110 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (08/3/1910 - 08/3/2020), 1980 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và 8 năm Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3/2012 - 20/3/2020). Hoạt động này khuyến khích cán bộ, hội viên, phụ nữ mặc trang phục áo dài trong các hội nghị, sự kiện của quê hương, đất nước và trong các sự kiện của gia đình, cộng đồng; vận động mặc áo dài trong ngày làm việc phù hợp với đặc thù nghề nghiệp, thuận tiện, an toàn lao động nhằm lan tỏa vẻ đẹp của chiếc áo dài truyền thống tại nơi làm việc và nơi sinh sống. Ông Đặng Văn Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện cho biết: "Đây là đợt phát động có ý nghĩa nhằm hưởng ứng chào mừng Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, qua đó khơi dậy truyền thống của phụ nữ Việt Nam, tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ Việt".

10.2 Phụ nữ mặc áo dài truyền thống hưởng ứng hoạt động “Áo dài-di sản văn hóa Việt Nam”_.JPG

Tuần lễ mặc áo dài nhằm khẳng định giá trị của áo dài trong đời sống xã hội, tôn vinh vẻ đẹp và vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Đồng thời khơi dậy niềm tự hào, trách nhiệm giữ gìn và phát huy di sản văn hóa áo dài Việt Nam trong mỗi người dân./.

Cẩm Tú - Hồng Phong  

06/03/2020 5:00 CHĐã ban hànhApproved
Những chiếc rìu đá thời tiền sử vừa phát hiện ở Long AnNhững chiếc rìu đá thời tiền sử vừa phát hiện ở Long An
Thực hiện chương trình điều tra, thám sát khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Long An năm 2010, Bảo tàng Long An đã ghi nhận thêm 3 địa điểm phát hiện công cụ bằng đá trên 3 vùng sinh thái đặc trưng ở Long An. Phát hiện này đã được tác giả báo cáo tại Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 46 tại Hà Nội (29-30/9/2011).

Thực hiện chương trình điều tra, thám sát khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Long An năm 2010, Bảo tàng Long An đã ghi nhận thêm 3 địa điểm phát hiện công cụ bằng đá trên 3 vùng sinh thái đặc trưng ở Long An. Phát hiện này đã được tác giả báo cáo tại Hội nghị thông báo Khảo cổ học lần thứ 46 tại Hà Nội (29-30/9/2011).

1. Phát hiện:

Tại Đức Huệ, ông Trần Văn Hiệp - Trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện đã thu hồi và chuyển giao cho Bảo tàng một chiếc rìu đá. Hiện vật đã được phát hiện tại Gò Miếu Ông thuộc ấp 6, xã Mỹ Thạnh Đông huyện Đức Huệ. Đây là một chiếc rìu vai xuôi, thân hình thang, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật, lưỡi thẳng, nhưng phần rìa lưỡi đã vỡ mất. Rìu được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic) màu xám xanh, bề mặt bị patin hóa, có màu xám nhạt. Rìu có chiều dài 9 cm; chuôi dài 3,7 cm; rộng 3,5 cm; bề dày 1,7cm.

 Rìu vai xuôi, phát hiện ở Gò Miếu Ông (Mỹ Thạnh Đông, Đức Huệ, Long An).

Trên vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Long An, Nguyễn Tấn Quốc - cán bộ Bảo tàng đã khảo sát địa bàn và thu hồi 2 hiện vật bằng đá do ông Phạm Văn Xem, người địa phương. Hiện vật đã được phát hiện tại khu vực Đìa Vàng - gần Kênh 61, thuộc xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa. Hiện vật thứ nhất là một chiếc rìu vai xuôi, thân hình thang dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật hơi lồi ở hai cạnh dài, lưỡi cong lồi. Rìu được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic) màu xám đen (quan sát được qua một vết vỡ trên lưỡi), bề mặt bị patin hóa mạnh, tạo nên lớp áo màu xám trắng. Rìu có chiều dài 13 cm; chuôi dài 2,1 cm; rộng 5,8 cm; bề dày 2,1 cm. Hiện vật thứ hai là một chiếc rìu không có vai, thân hình thang dài, mặt cắt ngang thân hình chữ nhật hơi lồi ở hai cạnh dài, lưỡi cong lồi, có một số vết vỡ nơi rìa cạnh. Rìu được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic) màu xám đen, bề mặt bị patin hóa mạnh, tạo nên lớp áo màu xám. Rìu có chiều dài 18 cm; chiều rộng 6 cm; bề dày 1,2 cm.

 Hai chiếc rìu phát hiện ở Đìa Vàng (Tân Hiệp, Thạnh Hóa, Long An).

Tại huyện Cần Giuộc, Văn Ngọc Bích - cán bộ Bảo tàng đã khảo sát địa bàn và thu hồi một chiếc cuốc đá cùng với một số mảnh gốm có kích thước lớn và rất dày trong khu vực Rạch Tràm, thuộc ấp Phước Lý, xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc. Đây là một chiếc cuốc có vai, thân hình thang dài, mặt cắt hình chữ nhật, lưỡi vát một bên, được chế tác bằng đá phiến biến chất (Schiste metamorphic), bề mặt bị patin hóa rất mạnh, toàn bộ hiện vật có màu trắng ngà, lẫn màu nâu nhạt do nhuộm chất oxyd sắt trong lòng đất. Cuốc có chiều dài 22 cm; rộng 5 cm; bề dày 2,3 cm.

 Cuốc đá phát hiện tại Rạch Tràm (Phước Lý, Cần Giuộc, Long An).

2. Nhận thức:

Trên địa bàn tỉnh Long An chỉ có trầm tích phù sa, nằm rất xa những đồi núi đá miền Đông Nam Bộ. Do vậy, cư dân cổ ở đây, khi cần đến những công cụ đá để sử dụng, họ phải đi xa, khai thác nguyên liệu thô để về chế tác hoặc trao đổi sản vật  từ các địa bàn khác. Sự khan hiếm nguyên liệu đá có thể đã tạo nên ảnh hưởng đến cách chế tác và sự tận dụng công cụ bằng đá ở địa phương. Ở vùng xa hơn về phía đông và phía bắc như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh có nhiều lộ điểm đá và một số công xưởng chế tác công cụ đá được phát hiện và nghiên cứu, dẫn đến nhận định rằng có thể một số đồ đá ở Long An có xuất xứ từ những địa bàn trên.

Chiếc rìu vai xuôi phát hiện ở Gò Miếu Ông (Mỹ Thạnh Đông, Đức Huệ) có hình dạng và chất liệu gần gũi với rìu vai xuôi (giai đoạn An Sơn II) phát hiện ở di tích An Sơn (1) Hòa) và chắc hẵn có mối quan hệ rất gần với di chỉ Rạch Heo (Mỹ Thạnh Đông, Đức Huệ, là một di chỉ tiền sử đã được khảo sát năm 1996).

Hai chiếc rìu phát hiện ở Đìa Vàng (Tân Hiệp, Thạnh Hóa) có hình dạng và kích thước gần gũi với rìu đá Lộc Giang(2) (Đức Hòa), thể hiện qua rìa lưỡi cong lồi (hình móng tay) và thường được gọi là bôn hình móng.

Chiếc cuốc đá phát hiện tại Rạch Tràm (Phước Lý, Cần Giuộc) là một hiện vật có hình dạng và kích thước khá đặc biệt so với những công cụ đá từng được phát hiện trước đây ở Long An, kể cả so với bộ sưu tập rìu đá phát hiện ở Cần Giuộc(3) (khai quật năm 1978 và 2002), nhưng rất giống với cuốc đá ở lưu vực sông Đồng Nai.

Như chúng ta đều biết rằng môi trường tự nhiên của Long An khá đa dạng, hoạt động sinh tồn của cư dân cổ ở đây chắc hẵn cũng khác nhau và như vậy, đồ dùng hằng ngày của họ cũng phải có nhiều biến thể để phù hợp với hoạt động trên môi trường riêng của từng cộng đồng. Những hiện vật trên đây đã góp phần cho việc bổ sung danh mục địa điểm có công cụ đá thời tiền - sơ sử trên đất Long An, làm cơ sở cho công tác nghiên cứu khảo cổ học thời tiền - sơ sử ở địa phương trong mối quan hệ với miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới./.

                                                                                 Bài và ảnh: Vương Thu Hồng

Tư liệu dẫn

1. Vương Thu Hồng (2005), Hệ thống niên đại C14 các di tích Tiền- Sơ sử ở tỉnh Long An, Báo cáo tại Hội thảo khoa học trẻ- Đại học KHXH&NV Tp.HCM (tháng 12/2005).

2. Nishimura Masanari (2002), “Chronology of the Neolithic Age in the Southern Vietnam”. Journal of Southeast Asia Archaeology , No.2, pp. 25-57.


(1) Theo tư liệu từ  cuộc khai quật An Sơn (lần thứ II), năm 1997, Tầng văn hóa ở hố H1 dày 4 mét, baogồm 3 lớp  văn hóa diễn biến trực tiếp lên nhau và được chia làm 4 giai đoạn (căn cứ vào diễn biến hình thể của đồ gốm), với các chỉ số niên đại C14 từ sớm đến muộn như sau: 

* Giai đoạn đầu tiên (An Sơn I): lớp L3-5, sâu nhất, có 4 niên đại C14 là: 3.990 ± 190 BP (TKa- 11541); 3.840 ± 40 BP (TKa- 11256); 3.780 ± 120 BP (TKa- 11817) và 3.690 ± 80 BP (TKa- 11816).

* Giai đoạn thứ hai (An Sơn II): lớp L3-4 đến lớp L3-1, có 4 niên đại C14 là: 3.820 ± 70 BP (L3-4: ANU- 10880); 3.310 ± 110 BP (L3-3: TKa- 11823); 3.310 ± 90 BP (L3-2: TKa- 11824) và 3.390 ± 80 (L3-1: TKa- 11822).

* Giai đoạn thứ ba (An Sơn III): lớp L2-21b tới lớp L2-7, có 5 niên đại C14 là: 3.320 ± 130 BP (L2-21b: TKa- 11821); 3.370 ± 80 BP (L2-17: ANU- 10880); 3.310 ± 90 BP (L2-17: TKa- 11820); 3.200 ± 90 BP (L2-14: TKa- 11818) và 3.190 ± 110 BP (L2-12: TKa- 11819).

* Giai đoạn thứ tư (An Sơn IV): lớp L2-7 đến lớp L1-1, không có số liệu niên đại (Nishimura Masanari, 2002: 25-57).

(2) Theo tư liệu từ cuộc khai quật Lộc Giang (1993), đây là một di tích lớn với 2 thời kỳ văn hóa rõ rệt mà tầng văn hóa bên dưới (giai đoạn đầu) thể hiện một di chỉ cư trú và mộ táng thời tiền sử, có các lớp than tro dày, có nhiều màu (đen, vàng , cam, đỏ, trắng) và phần trên đỉnh gò là phế tích kiến trúc bằng gạch nung thuộc giai đoạn văn hóa Óc Eo. Niên đại C14 giám định bởi 2 mẫu than gỗ thu từ đợt khai quật năm 1993 gồm có:

- Mẫu LG93-T-01-H1L14 lấy ở độ sâu 2,25m, nơi tiếp xúc giữa tầng văn hóa sớm nhất với tầng sinh thổ là 3.950 ± 75 năm cách ngày nay.

- Mẫu LG93-T-02-H2L5 ở độ sâu 0,80m nơi tiếp xúc giữa tầng văn hóa tiền sử với tầng đất có sự xáo trộn giữa gốm tiền sử với gốm Óc Eo ở bên trên, có niên đại 1.490 ± 50 năm cách ngày nay.

(3) Theo tư liệu từ cuộc khai quật Rạch Núi lần thứ II (2003), niên đại C14, có 3 chỉ số được phân tích từ các mẫu than gỗ, thu thập trong các lớp văn hóa trong hố khai quật H1 (2003):

- Mẫu thứ nhất: ký hiệu NHK-177/1 lấy ở độ sâu 1,30 m, niên đại là 2.560 ± 130 năm cách ngày nay.

- Mẫu thứ hai: ký hiệu NHK-177/2 lấy ở độ sâu 2,35 m, niên đại là 3.330 ± 100 năm cách ngày nay.

- Mẫu thứ ba: ký hiệu NHK-177/3 lấy ở độ sâu 4,70 m, niên đại là 3.634 ± 85 năm cách ngày nay. 

17/11/2011 8:40 SAĐã ban hànhApproved
Bộ từ khóa 2012 - công cụ làm việc hữu ích cho cán bộ Thư việnBộ từ khóa 2012 - công cụ làm việc hữu ích cho cán bộ Thư viện

Trong công tác nghiệp vụ thư viện, Bộ Từ khóa luôn là công cụ hữu ích cho việc nâng cao chất lượng xử lý tài liệu và hiệu quả tìm tin. Trước sự xuất hiện lượng thuật ngữ mới trong các cơ sở dữ liệu (CSDL) của Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) ngày càng tăng và trong xu hướng hội nhập, tài nguyên thông tin được sử dụng trên phạm vi quốc tế nên Bộ Từ khóa đã được TVQGVN biên soạn, cập nhật và chỉnh lý (năm 1997, 2005 và 2012) cho phù hợp với tình hình hiện tại.

 

Bộ Từ khóa 2012 là phiên bản mới, được phát triển từ Bộ Từ khóa 2005; ra đời trên cơ sở xử lý, lựa chọn và rút ra từ 31.000 từ khóa tự do trong các CSDL sách tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, CSDL luận án tiến sĩ khoa học của TVQGVN; từ 42.000 thuật ngữ của Bảng tra chủ đề của Khung Phân loại DDC 23; đồng thời tham khảo các thuật ngữ đang được sử dụng tại các thư viện chuyên ngành. Bộ Từ khóa 2012 gồm khoảng 35.000 thuật ngữ, chia làm 6 phần chính như sau:

Phần 1. Từ khóa chính: được sử dụng để mô tả đối tượng, phương diện nghiên cứu trong các ngành, lĩnh vực khoa học. Phần này gồm 29.000 từ (bổ sung thêm khoảng 12.000 thuật ngữ mới so với năm 2005).

Phần 2. Từ khóa nhân vật: gần 3.000 tên nhân vật Việt Nam và nước ngoài có kèm theo năm sinh năm mất, nguồn gốc dân tộc của tác giả, lĩnh vực hoạt động để thuận tiện cho việc xác định thời kỳ và nguồn gốc của nhà văn, nhà thơ đối với tác phẩm văn học. Phần này được bổ sung thêm khoảng 1.500 tên nhân vật và tên người Nga được Latin hóa; tên người Âu, Mỹ được tra cứu theo họ tên gốc (không phiên âm sang tiếng Việt).

Phần 3. Từ khóa địa danh: khoảng 2.000 từ, có hiệu chỉnh và bổ sung tên các đơn vị hành chính mới nhất của Việt Nam nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc sắp xếp như Bộ Từ khóa 2005.

Phần 4. Từ khóa viết tắt tên tổ chức: khoảng 300 từ viết tắt tên tổ chức quốc tế, khu vực (bao gồm tên viết tắt – viết đầy đủ).

Phần 5. Bảng phân chia thời kỳ đối với tác phẩm văn học, lịch sử của Việt Nam và Thế giới.

Phần 6. Hướng dẫn sử dụng Bộ Từ khóa: gồm các quy định cụ thể khi sử dụng Bộ Từ khóa.

Sự ra đời có chỉnh lý, bổ sung các gốc từ và thuật ngữ cơ bản của tất cả các lĩnh vực khoa học để đảm bảo sự cân đối, độ đầy đủ của Bộ Từ khóa 2012 trong thời điểm hiện tại đã giúp ích và đáp ứng nhu cầu cấp thiết về công cụ làm việc của cán bộ ngành thư viện.

                                                                                                           AN THANH

30/05/2013 2:42 CHĐã ban hànhApproved
Tác hại của game bắn cáTác hại của game bắn cá

Hiện nay, hoạt động trò chơi điện tử đang rất phổ biến, trong đó có địa bàn huyện Cần Giuộc, nhất là trò chơi game bắn cá, thu hút nhiều người tham gia.

Cách chơi trò chơi này khá đơn giản. Người chơi bỏ ra 100.000 đồng để có 1.000 điểm. Sau khi ngồi vào chỗ của mình, người chơi chỉ cần nhấn vào 2 nút, một nút điều khiển cho nòng súng quay các hướng, nút còn lại dùng để bắn đạn "săn" cá. Thời gian đầu, trò chơi này chỉ dừng lại ở việc giải trí, người "săn" nhiều cá sẽ được quy đổi thành điểm để chơi tiếp, hoặc đổi thành quà. Nhưng càng về sau, để thu hút nhiều người chơi thì một số điểm đặt máy bắn cá quy đổi thành tiền cho người thắng điểm. Điều đáng nói là do thủ đoạn cài đặt chíp trong thiết bị cài đặt sẵn của các chủ cửa hàng game, nên người chơi dù có chơi giỏi đến mấy cũng khó mà thắng được máy. Vì vậy, tiền từ những "con thiêu thân" cứ đổ về túi của những chủ máy, ít thì vài trăm, lớn thì lên đến hàng chục triệu đồng. Theo ghi nhận, đối tượng chơi là rất nhiều thành phần, đông nhất vẫn là độ tuổi thanh, thiếu niên, học sinh. Thực tế cho thấy, game bắn cá không chỉ là trò chơi giải trí thông thường mà bị lợi dụng để đánh bạc trá hình, gây thiệt hại về kinh tế, từ đó dẫn đến tác động xấu về mặt xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.

Song song với việc ngành chức năng kiểm tra, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm trong hoạt động game bắn cá, chính quyền các cấp, các ngành, đoàn thể, nhất là ở cơ sở cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, đặc biệt là vai trò gia đình trong việc giáo dục, quản lý con em tránh xa tác hại của trò chơi này./.

Trần Tuyến

07/09/2017 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Về thăm làng nghề đan cần xé ở Đức HòaVề thăm làng nghề đan cần xé ở Đức Hòa

 Không biết chính xác làng nghề đan cần xé ở Đức Hòa có từ khi nào, nhưng từ bao đời nay, hết thế hệ này đến thế hệ khác người dân nơi đây đã truyền nghề cho nhau. Cứ thế, tre già măng mọc, làng nghề tồn tại và họat động cho đến tận hôm nay. Nhân chuyến đi công tác về huyện Đức Hòa, chúng tôi có dịp đến ấp Hòa Hiệp 1, xã An Ninh Đông và chứng kiến sự nhộn nhịp của làng nghề giữa một miền quê yên lành rợp bóng tre xanh.

Bên mái hiên nhà, bà Trần Thị Trừ là một trong số những người làm nghề đan cần xé nổi tiếng và đan đẹp nhất vùng đang cầm trên tay chiếc dao chẻ nan, cần mẫn vót từng sợi nan mỏng, chuẩn bị nguyên liệu đan. Biết chúng tôi muốn tìm hiểu cái nghề mà cả cuộc đời bà gắn bó từ khi 11 tuổi cho đến lúc thành gia thất, sanh con, có cháu đến bây giờ. Bà tâm sự: ở Đức Hòa - Long An, nghề đan cần xé ở ấp Hòa Hiệp 1, xã An Ninh Đông bắt đầu họat động mạnh từ sau năm 1930. Hồi đó, ở đây có một cán bộ Việt Minh tên là Nguyễn Văn Thung (người trong huyện) đến làm công tác cách mạng, khởi xướng nhằm giúp nhân dân có việc làm để kiếm sống. Sau đó có hơn 100 hộ nơi đây thường xuyên tham gia họat động nghề. Đến nay, số hộ của ấp bám nghề, sống cùng nghề có 78 hộ, chiếm 32,23 % (78 hộ làm nghề /242 hộ dân).

Khi hỏi về nguồn nguyên liệu và quy trình kỹ thuật đan, bà cho biết: Nguyên liệu tre, trúc nơi đây phong phú, đựơc trồng quanh nhà, quanh vùng và các khu vực lân cận (Đức Huệ, Tây Ninh). Trúc mua về, chất vào nhà hoặc mái hiên cho ráo mình trúc là sử dụng ngay. Sử dụng thân trúc để làm nan đan, nan trụ, nan léo miệng, đọt trúc thì được đập dập dùng để gầy với nan trụ làm mê đít. Sau đó lên nan, đánh lông hai, rồi đánh lông tư, bẻ miệng, léo vành, làm quay, nẹp hông. Quay và nẹp hông của cần xé làm bằng tre và muốn cho sản phẩm đồng bộ màu và đẹp mắt người ta léo quay bằng dây mây rừng

 
     
       Bà Trần Thị Trừ làm nghề đan cần xé có tiếng ở ấp Hòa Hiệp 1 ,xã An Ninh Đông

Dừng tay, uống ly nước, bà Trừ bảo làm nghề này tuy vất vả mà thấy vui vì nhiều nhà làm, thúc đẩy nhau cùng làm tạo thành một làng nghề như hôm nay. Nếu là con nhà nòi thì bất kỳ ai cũng có thể làm được. Trẻ em từ 10 tuổi đều có thể phụ gia đình làm những công đọan đơn giản trong nghề như gầy mê, bẻ miệng, léo vành… Đây là nghề không phân biệt độ tuổi lao động, người làm lâu năm thì kinh nghiệm càng nhiều, đan càng đẹp, là nghề có thể tận dụng thời gian nhàn rỗi (ngày hay đêm) đều có thể tham gia để tăng thêm thu nhập gia đình, nhất là những hộ không có ruộng đất thì đây là nghề chính, nuôi sống cả nhà.

Được nghe những tâm sự từ người đan cần xé có tiếng ở ấp Hòa Hiệp 1, xã An Ninh Đông, chúng tôi mới thấu hiểu được những vất vả của người thợ nơi đây - những con người cần cù, chân chất và rất thành thạo kỹ năng đan cần xé. Về thăm làng nghề đan cần xé ở Đức Hòa lần này đã cho chúng tôi những kiến thức, hiểu được những giá trị văn hóa truyền thống của nghề đan đát nơi đây, càng thêm tự hào, trân trọng những nét đẹp văn hóa vật chất và tinh thần về một di sản văn hóa phi vật ở địa phương. Mặc dù làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ, tình hình sản xuất còn gặp nhiều khó khăn nhưng người thợ nơi đây vẫn giữ được kỹ thuật đan truyền thống, cố bám giữ cái nghề đã gắn bó và nuôi sống họ từ hơn nửa thế kỷ qua./                        

Tin ảnh: Đỗ Thị Lan

Bảo tàng Long An

 

 

     

 

 

 

 

25/07/2013 6:57 SAĐã ban hànhApproved
Lễ hội Kỳ Yên đình Tân ChánhLễ hội Kỳ Yên đình Tân Chánh

Đình Tân Chánh và Lăng mộ Nguyễn Khắc Tuấn (xã Tân Chánh, huyện Cần Đước) được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa năm 2012, là một di tích có giá trị về lịch sử, tư liệu, kiến trúc lăng mộ, đình làng, gắn liền với lịch sử khai phá đất phương Nam của lưu dân người Việt trên vùng đất cận biển Cần Đước, Cần Giuộc và nhân vật lịch sử Nguyễn Khắc Tuấn. Ngày mồng 5 mồng 6 tháng hai (AL) hàng năm, nơi đây còn diễn ra lễ hội Kỳ Yên. Như bao lễ hội Kỳ Yên khác ở Long An và Nam Bộ với các nghi lễ nông nghiệp truyền thống như Tỉnh Sanh, Túc Yết, Đoàn Cả… để tạ Thần Thành Hoàng bổn cảnh, thể hiện khát vọng cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, an cư lạc nghiệp…, trong Lễ hội Kỳ Yên đình Tân Chánh còn có lễ Tống phong đậm phong cách văn hóa của cư dân cận biển và lễ Thỉnh sắc từ Đình đến lăng Nguyễn Khắc Tuấn. Xin giới thiệu loạt ảnh về lễ hội này trong lễ Kỳ Yên năm Quý Tỵ vừa qua.

Chuẩn bị lễ Tống phong bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày mồng 5 tháng Hai (AL), từ sáng sớm, dân trong xã tập trung trang trí chiếc tàu tống gió để thả trôi sông. Xưa, tàu thường làm bằng bẹ chuối, dán giấy. Ở Đình Tân Chánh người chăm chút và thể hiện tàu bằng thiết, hình dáng là một chiếc xà lan, khá qui mô. 

Lễ vật cũng chuẩn bị sẵn sàng, gồm 1 con heo sống đã thọc huyết và đủ cả lòng huyết, lục phủ ngũ tạng, xôi, gà luộc, 3 hũ gạo, muối, nước, vàng mã… 

Sau nghi thức niệm hương, đốt vàng mã, lễ vật mỗi thứ được cắt một ít để đưa vào trong tàu, trong đó riêng con heo sống là cái đuôi , 4 cái móng và lỗ mũi.

Sau nghi thức múa lân, đám rước có ban nhạc lễ đi kèm cùng Ban hội hương Đình và nhân dân được tiến hành, đưa thuyền và lễ vật từ đình ra sông Vàm Cỏ.

             

Xưa đám rước đi bộ, nay chỉ đi bộ từ Đình ra lộ rồi dùng xe đưa thuyền đến sông Vàm Cỏ ở ấp Hòa Quới cách đó 5 km.

             

Thuyền được đưa xuống phà ra sông Vàm Cỏ.

             

Đưa thuyền xuống sông, kết thúc nghi lễ tống phong

.

Sau lễ Tống phong, ban hội hương tập trung đình làm lễ rước sắc Thần vào lúc 11 giờ

Sắc phong Minh Mạng năm thứ 4 (1823) phong Nguyễn Khắc Tuấn chức  Khâm sai Chưởng cơ thống quản Trung quân, Chấn Định Thập Cơ đựng trong một cái hộp được đặt trong khánh thờ được đưa ra tiền đình để làm lễ rước sắc.

Đoàn rước có nhạc lễ, lân, trống, chiêng, Ban hội hương đình, binh gia, đào thài và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.

Đến Lăng, sắc được thỉnh đưa vào trước bia mộ Nguyễn Khắc Tuấn.

Sau các nghi thức mở sắc, niệm hương bái lạy, đoàn rước đưa sắc trở lại đình để tiến hành các nghi lễ chính thức tiếp theo sau đó.

18 giờ, Lễ xây chầu - đại bội được tiến hành tại Võ ca để xây dựng và khai mạc một chầu hát bội với quan niệm dịch lý Nho gia: thuận đạo trời, an đạo đất, hòa đạo người, mong cho vạn vật trong trời đất hanh thông, tốt đẹp.

             

Thủ cổ và chấp sự thực hiện các nghi thức Tẩy trước chú., cầm roi khắc trống chầu, Trịch mộc chú và Điểm mặt trống.

            

Lễ Đại bội diễn ra ngay sau lễ xây chầu có ý nghĩa khai thông thái cực với các nghi thức Điềm hương, Xang nhật nguyệt, Tam tài, Tứ thiên vương, Đứng cái, Bát tiên, Gia quan tấn tước.

12 giờ đêm, Lễ Tỉnh sanh được tiến hành để giết một con vật sống tế thần linh trong ngày lễ Kỳ Yên.

Giám đao lễ trước bàn thờ trước khi yết heo tế.

             

Người ta lấy một ít huyết và lông gáy con vật đặt trước bàn tiền án để làm sau đó làm lễ Ế mao huyết, tức chon  lông và huyết xuống đất phía sau đình, có ý nghĩa phục hồi sinh khí, cầu mong cho cây lành trái ngọt, ruộng vườn tốt tươi.

             

Lễ vật là con heo sống và toàn bộ lòng huyết, lục phủ ngữ tạng được đặt trước bàn tiền án cùng xôi, trái cây để lễ thần.

             

Lễ Túc yết diễn ra ngay sau khi Ế mao huyết để tế thần với các nghi thức dâng hương, dâng đèn, dâng rượu, dâng hoa, dâng trà và đọc chúc văn, ca ngợi công đức Thần, mời thần về hưởng.

Suốt ngày hôm sau đó, mồng 6 tháng Hai, nhân dân địa phương và khách thập phương đi viếng lăng, niệm hương và xem hát bội ở Đình.

Đoàn cán bộ Sở VH,TT và DL long An do ông Phạm Văn Trấn, GĐ Sở làm trưởng đoàn đến viếng lăng Nguyễn Khắc Tuấn trong dịp lễ hội.

             

13 giờ, lễ Đoàn cả được tiến hành để tạ Thần là lễ sau cùng kết thúc lễ hội.

                                                                                 Bài và ảnh Nguyễn Tấn Quốc

29/05/2013 2:59 SAĐã ban hànhApproved
THỦ THỪA: VỀ NGUỒN KỶ NIỆM 73 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ THỦ THỪA: VỀ NGUỒN KỶ NIỆM 73 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ

Nhân kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2020), Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Thủ Thừa phối hợp Công đoàn cơ sở Khối Văn hóa – Xã hội tổ chức về nguồn cho công đoàn viên tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh.

24-7-2020 ve nguon.jpg

Đoàn tham quan Khu công viên tượng đài
Long An "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc

Hoạt động về nguồn lần này thu hút hơn 50 công đoàn viên tham gia. Các công đoàn viên đã được đến tham quan các điểm như: Khu công viên tượng đài Long An "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc", Khu lưu niệm Luật sư Nguyễn Hữu Thọ,… Qua đó, giúp công đoàn viên có điều kiện hiểu sâu hơn về truyền thống đấu tranh của ông cha, từ đó ra sức học tập, rèn luyện, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thủ Thừa./.

Kim Phương

24/07/2020 4:00 CHĐã ban hànhApproved
TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANTÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

THÀNH PHỐ TÂN AN

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

(Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An)

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Thượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đương thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận Công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 Di tích Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 534/QĐ/BT ngày 11/05/1993.

HUYỆN CẦN GIUỘC

CHÙA TÔN THẠNH (Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc)

Chùa Tôn Thạnh tọa lạc tại xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808.

Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người "dân ấp dân lân", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: "Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ".

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh "rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng" như xưa. Tuy nhiên, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng. Trong khuôn viên chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Năm 2003, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến và vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền.

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Chùa Tôn Thạnh là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/11/1997 .

RẠCH NÚI

(p Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc)

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400 ± 100 năm cách ngày nay, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ, bao gồm nhiều loại hình công cụ lao động bằng đá, xương, sừng và đồ gốm nhưng không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ: Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khác với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó, di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu (Nguyễn Văn Mỹ - quan đại thần triều Nguyễn).

Di tích Rạch Núi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Quyết định số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/06/1999.

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

CHÙA PHƯỚC LÂM

(Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước)

Chùa Phước Lâm – xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An - được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu "bánh ít", có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc hoàng, Thị giả, Thập điện, Thiện ác, Hộ pháp, Kim cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía Đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật.

Chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001.

NHÀ TRĂM CỘT

(Ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước)

Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, tại ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Nhà có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: phần phía trước được bày trí theo kiểu ngoại khách - nội tự (ngoài tiếp khách, trong thờ tự), phần phía sau dùng để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa của vùng đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/09/1997.

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

(Ấp 1, xã Long Hòa, huyện Cần Đước)

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 13 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 3 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm, Thuận Thành và Phước Hậu.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía Nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy (1966-1967).

Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460 QĐ/VH ngày 28/06/1996.

HUYỆN CHÂU THÀNH

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

(Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành)

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, 3 gian, 2 chái. Nhà có dạng hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân "thiên tỉnh" (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 03/08/2007.

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

(Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành)

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông sinh ngày 28/5 năm Đinh Hợi tức ngày 21/07/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/08/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông - nhà trí thức yêu nước,  người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

Khu lưu niệm Nguyễn Thông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 04/2001-QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001.

DI TÍCH ĐÌNH TÂN XUÂN

(Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành)

Đình Tân Xuân là di tích lịch sử văn hóa, một trong những ngôi đình cổ trên đất Long An. Đây là nơi ghi dấu tín ngưỡng thờ thần trong quá trình di dân lập ấp, đồng thời gắn liền sự kiện lịch sử, sự hy sinh oanh liệt của nhà yêu nước Đỗ Tường Tự, người thủ lĩnh cuối cùng của phong trào nông dân khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tân An.

Hàng năm, vào ngày 15-16/1 âm lịch tại đình diễn ra Lễ hội làm chay rất đặc sắc, quy tụ hàng ngàn người dân tham dự. Lễ hội làm chay có đặc trưng độc đáo là liên kết, tổng hòa nhiều thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng dân gian trên địa bàn như: đình Dương Xuân Hội, chùa Ông (Linh Võ tự), Âm Nhơn miếu (miễu cô hồn), Linh Phước tự, thánh thất Phương Quế Ngọc Đài. Lễ hội quy tụ hầu hết nhân dân các giới và các tôn giáo tham gia hành lễ. Về phần lễ, có những nghi thức cổ truyền đã có từ hơn một thế kỷ qua như: Thỉnh Tiêu Diện đại sĩ từ Linh Phước tự về chùa Ông; thỉnh Phật, thỉnh thầy từ Linh Phước tự về Đình Dương Xuân; cúng tế, đề phan liệt sĩ; cúng cô hồn ở Miếu Âm Nhơn; lễ chiêu u (rước cô hồn ) từ các nơi trong huyện về giàn ông Tiêu; nghi lễ đánh động, thỉnh thầy, thỉnh kinh; nghi lễ phóng đăng, phóng sinh; nghi lễ đốt nến, thả bèo, nghi lễ Chạy kim đàn và xô giàn, tiễn khách. Về phần hội, có những trò chơi dân gian cho nhân dân vui chơi như: Bịt mắt đập nồi, nhảy bao bố, kéo co, thả-bắt vịt…

Di tích đình Tân Xuân được xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 4109/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Lễ hội làm chay cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4205/QĐ-BVHTT ngày 19/12/2014.

HUYỆN THỦ THỪA

ĐÌNH VĨNH PHONG

(Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa)

Đình Vĩnh Phong tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

Đình Vĩnh Phong được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1811/1998/QĐ-BVHTT  ngày 31/08/1998.

HUYỆN BẾN LỨC

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

(Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức)

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn, bởi vì đây là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm: Ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông. Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn tọa lạc tại ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930-1945). Đồng thời đây là nơi ghi dấu một số hoạt động của các nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

HUYỆN TÂN TRỤ

VÀM NHỰT TẢO

(Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ)

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L'Espérance của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: "Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang". Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: "Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, UBND tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28/6/1996.

HUYỆN ĐỨC HUỆ

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

(Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ)

Các địa điểm thuộc căn cứ Bình Thành còn được gọi là di tích Bình Thành hay Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An, tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An.

Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói rằng, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

Di tích căn cứ Bình Thành đã được Bộ Văn hóa – Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BT ngày 04/12/1998.

HUYỆN ĐỨC HÒA

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

(Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa)

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5.000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/06/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng  7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 04/06/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn, thể hiện lòng tin của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

Ngã Tư Đức Hòa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH-QĐ, ngày 05/09/1989.

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN

 CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

(Ấp Giống Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa)

Nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ là nơi  đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật để thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn vào ngày 06/03/1930.

Chi bộ ra Nghị quyết: "Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy". Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng 3 tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

Khu nhà ông Bộ Thỏ tại ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL  ngày 31/10/2013.

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

(Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa)

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước hay còn gọi khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng Đông Bắc thành phố Tân An, cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách Tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía Đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn Đông Nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570-VH/QĐ  ngày 05/09/1989.

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

(Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa)

Di tích An Sơn  được hai nhà khảo cổ người Pháp là L. Malleret và P. Levy phát hiện từ năm 1838 và trải qua 3 lần khai quật lớn vào các năm 1978, 1997, 2004 do các nhà khảo cổ trong và ngoài nước thực hiện. Các cuộc khai quật này đã phát hiện nhiều di tích, di vật đa dạng, phong phú có thể tái hiện sinh động phương thức sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ nơi đây.

Đây là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hoá dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, là một đối tượng quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học ở Long An và Đông Nam Bộ.

Di tích An Sơn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 324/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011.

HUYỆN TÂN THẠNH

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ (1946 – 1949)

(Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh)

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

Di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ (1946-1949) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT ngày 03/08/2007.

HUYỆN VĨNH HƯNG

GÒ Ô CHÙA

(Ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng)

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc- 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3 m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến 2.000 năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1.000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

Gò Ô Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp dạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

                              Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền, PHÒNG NGHIỆP VỤ

                                         BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH LONG AN

01/07/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
BẾN LỨC TỔ CHỨC HỘI THI TUYÊN TRUYỀN VIÊN GIỎI NĂM 2020 BẾN LỨC TỔ CHỨC HỘI THI TUYÊN TRUYỀN VIÊN GIỎI NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Bến Lức đã tổ chức Hội thi Tuyên truyền viên giỏi năm 2020. Tham dự hội thi, các đội xây dựng một chương trình thông tin cổ động gồm: Văn nghệ cổ động, tuyên truyền miệng và cổ động trực quan với thời lượng từ 7 đến 10 phút. Nội dung tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ca ngợi Đảng, Bác Hồ; về phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở khu dân cư, xây dựng xã văn hóa nông thôn mới và các nội dung chào mừng Đại hội Đảng các cấp.

ngay 26-9-2020 ben luc hoi thi tuyen truyen vien gioi nam 2020(192257)(1).jpg

Bằng hình thức và ý tưởng biên đạo, sự khéo léo trong công tác tuyền truyền với nhiều nội dung phong phú và phương thức tuyên truyền đa dạng, các đội đã đem đến hội thi nhiều tiết mục đặc sắc, hấp dẫn người xem, được Ban Tổ chức, Ban Giám khảo đánh giá cao.

Kết thúc hội thi, Ban Tổ chức trao giải nhất cho đội xã Tân Hòa; giải nhì cho đội xã Tân Bửu và xã Lương Hòa; giải ba cho đội xã Thanh Phú và thị trấn Bến Lức. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao 9 giải khuyến khích và 3 giải đặc biệt cho tuyên truyền viên giỏi nhất, cổ động trực quan đẹp nhất và tiết mục cổ động văn nghệ hay nhất./.

 Thanh Tâm

02/10/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
LỄ KHÁNH THÀNH BIA TƯỞNG NIỆM DI TÍCH ĐỒNG 41LỄ KHÁNH THÀNH BIA TƯỞNG NIỆM DI TÍCH ĐỒNG 41

LỄ KHÁNH THÀNH BIA TƯỞNG NIỆM DI TÍCH ĐỒNG 41

            Nhân kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2018),  ngày 26/7/2018, Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam huyện Tân Thạnh tổ chức khánh thành Bia tưởng niệm Đồng 41 tại ấp Tây Nam, xã Tân Hòa. Đến dự lễ có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Đại tá Dương Chí Diễn-Phó Tư lệnh Binh đoàn 16 - Bộ Quốc phòng; lãnh đạo Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Nội Vụ, Ban Quản lý Di tích lịch sử -văn hóa tỉnh; lãnh đạo huyện Cái bè, tỉnh Tiền Giang; lãnh đạo địa phương và đông đảo bà con nhân dân.

            Đồng 41 là tên một cánh đồng nhỏ nằm cạnh kinh Hai Hạt thuộc ấp Tây, xã Tân Hòa, tại đây, ngày 27/6/1967, để thỏa mãn sự căm tức sau trận càn thất bại, lính chư hầu Pắc-Chung-Hi (Nam Triều Tiên) dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ đã thảm sát dã man 41 người dân vô tội của hai xã Tân Hòa (huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An) và Hậu Mỹ (nay là xã Hậu Mỹ Bắc, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang), đa số là phụ nữ và trẻ em, có cả phụ nữ mang thai.

Đồng 41 đã đi vào lịch sử như một trong những sự kiện thảm sát man rợ nhất mà toàn dân tộc ta đã gánh chịu trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Năm 1994, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội hỗ trợ kinh phí, phối hợp UBND huyện Tân Thạnh xây dựng bia tưởng niệm. Do điều kiện giao thông còn khó khăn nên bia được đặt tại UBND xã Tân Hòa cách nơi xảy ra trận càn khoảng 6km về hướng Tây với kết cấu đơn giản…

Để ghi nhớ sự hy sinh, tinh thần quật khởi, yêu quê hương, bám đất giữ làng, chở che cách mạng không một sức mạnh nào lay chuyển được của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ chống xâm lược cũng như tố cáo tội ác chiến tranh, ngày 09 tháng 10 năm 1995, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 5167/QĐ-UBND công nhận Đồng 41 là di tích lịch sử văn hóa. Theo thời gian, Bia tưởng niệm dần xuống cấp, theo nguyện vọng của các đồng chí lão thành cách mạng, cán bộ, nhân dân nhất là tâm nguyện của những gia đình có thân nhân là nạn nhân trong vụ thảm sát này mong muốn xây dựng lại Bia tưởng niệm di tích Đồng 41.

Năm 2017, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tỉnh ủy, HĐND tỉnh vận động Binh Đoàn 16 - Quân khu V hỗ trợ 500 triệu đồng xây dựng Bia tưởng niệm. Gia đình bà Du Thị Đông-nhân chứng duy nhất của vụ thảm sát-tự nguyện di dời nhà, hiến 1.100m2 đất ở và ngân sách tỉnh, huyện đối ứng phần kinh phí còn lại gần 800 triệu đồng. Công trình Bia tưởng niệm di tích Đồng 41 khánh thành thể hiện sự quan tâm của Đảng, nhà nước và xã hội cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích, đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân, giúp huyện Tân Thạnh có thêm một địa chỉ đỏ để giáo dục lịch sử truyền thống địa phương cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Nhân dịp này, UBND tỉnh Long An tặng Bằng khen cho Binh Đoàn 16-Bộ Quốc Phòng và bà Du Thị Đông vì có thành tích đóng góp cho công tác xã hội tại huyện Tân Thạnh.

Ngày 06 -8 - 2018 Nhà bia tưởng niệm di tích Đồng 41.JPG 

                              Nhà Bia tưởng niệm di tích Đồng 41

Ngày 06-8-2018 Bia tưởng niệm di tích Đồng 41 nằm bên bờ Kinh Hai Hạt.JPG

                  Bia tưởng niệm di tích Đồng 41 nằm bên bờ Kinh Hai Hạt

Ngày 06 - 8 -2018 Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại buổi lễ.JPG 

               Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại buổi lễ


Ngày 06-8-2018 Nghi thức cắt băng khánh thành  Bia tưởng niệm di tích Đồng 41.JPG

              Nghi thức cắt băng khánh thành Bia tưởng niệm di tích Đồng 41

Ngày 06-8-2018 Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thắp hương tại Bia tưởng niệm.JPG 

        Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thắp hương tại Bia tưởng niệm


Tin, ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

(Ban Quản lý di tích lịch sử-văn hóa)

07/08/2018 4:00 CHĐã ban hànhApproved
ĐỨC HÒA: HỘI THI HÁT KARAOKE CHÀO MỪNG NGÀY PHỤ NỮVIỆT NAM 20/10 ĐỨC HÒA: HỘI THI HÁT KARAOKE CHÀO MỪNG NGÀY PHỤ NỮVIỆT NAM 20/10

Vừa qua, huyện Đức Hòa tổ chức Hội thi hát Karaoke chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 tại Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện.

17-10-19 DUC HOA TO CHUC HOI THI HAT KARAOKE MUNG NGAY PHU NU VIET NAM 20-10.jpg

Hội thi được chia ra làm 2 bảng với 40 tiết mục đơn ca, song ca, tốp ca tham gia. Trong đó, bảng A là khối cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, trường học và bảng B là khối xã, thị trấn. Các tiết mục dự thi là những ca khúc cách mạng, ca ngợi Bác Hồ, truyền thống đấu tranh của dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước và ca ngợi người phụ nữ Việt Nam.

Kết thúc hội thi, thí sinh Nguyễn Ngọc Quý, đơn vị thị trấn Hiệp Hòa và tốp ca Trường Mầm non Vành Khuyên đồng giải nhất; giải nhì thuộc về thí sinh Nguyễn Trường An, đơn vị xã Lộc Giang và thí sinh Mai Thị Trúc Giang, đơn vị Trường TH Châu Văn Liêm.

17-10-19 DUC HOA TO CHUC HOI THI HAT KARAOKE MUNG NGAY PHU NU VIET NAM 20-10 8.jpg

Hội thi đã góp phần thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích cho cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trên địa bàn huyện. Đồng thời, giúp huyện Đức Hòa phát hiện, bồi dưỡng những cá nhân có năng khiếu về âm nhạc. Thông qua đây cũng góp phần khơi dậy lòng tự hào, phát huy truyền thống vẻ vang và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ./.

NHÃ PHƯƠNG

25/10/2019 6:00 CHĐã ban hànhApproved
MỘC HÓA TỔ CHỨC HỘI THI GIỌNG CA TÀI TỬ CẢI LƯƠNG LẦN THỨ I NĂM 2019  MỘC HÓA TỔ CHỨC HỘI THI GIỌNG CA TÀI TỬ CẢI LƯƠNG LẦN THỨ I NĂM 2019 

 Vừa qua, huyện Mộc Hóa đã tổ chức Hội thi giọng ca tài tử cải lương lần thứ I năm 2019. Hội thi diễn ra trong 03 ngày (7, 8 và 9/5/2019), với sự tham gia của 34 thí sinh đến từ 07 xã và các cơ quan trên địa bàn huyện.

10-5-2019 Hội thi don ca tai tu.jpg

Với thể loại đơn ca cổ kết hợp các bài bản vắn trong 20 bài bản tổ của đờn ca tài tử, nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa… Các thí sinh hát 02 câu vọng cổ tự chọn trong vòng bán kết, Ban tổ chức tuyển chọn 11 thí sinh vào vòng chung kết xếp hạng. Ở vòng chung kết xếp hạng, các thí sinh hát 01 lớp bản vắn trong các thể loại 20 bài bản tổ và 01 bài vọng cổ tự chọn theo chủ đề của Ban tổ chức quy định.

Bằng chất giọng mượt mà, ngọt ngào, thí sinh Lê Thanh Liệu, đơn vị xã Bình Hoà Đông đã đạt giải nhất hội thi. Ngoài ra, Ban tổ chức còn trao 02 giải nhì, 03 giải ba và 05 giải khuyến khích cho các thí sinh.

Hội thi giọng ca tài tử cải lương huyện Mộc Hóa lần thứ I năm 2019 đã khơi dậy phong trào đờn ca tài tử, cải lương, góp phần phát hiện các nhân tố mới, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ tại cơ sở, phục vụ tốt hơn công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của huyện Mộc Hoá./.                              

Khang Nam

20/05/2019 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Liên hoan Đờn ca tài tử huyện Bến Lức lần IV năm 2017Liên hoan Đờn ca tài tử huyện Bến Lức lần IV năm 2017

Nhân kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhằm phát triển phong trào đờn ca tài tử trong huyện, cũng như góp phần bảo tồn giữ gìn nét đẹp của loại hình đờn ca tài tử Nam bộ. Trong 3 đêm 20, 21 và 22/10/2017, Trung tâmVăn hóa - Thể thao huyện Bến Lức tổ chức Liên hoan Đờn ca tài tử huyện Bến Lức lần IV năm 2017. Liên hoan lần này thu hút sự tham gia của 15 đội đờn ca tài tử các, xã, thị trấn cùng Đội đờn ca tài tử của Công ty Hân Xương đóng trên địa bàn huyện Bến Lức. Mỗi đơn vị tham gia 4 tiết mục gồm các bài bản:  Bắc, Nam, Oán, Hạ và Vọng cổ. Nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc.

20-10-2017 Lien hoan Don ca tai tu huyen Ben Luc lan 4 nam 2017 IMG_0076.jpg

20-10-2017 Lien hoan Don ca tai tu huyen Ben Luc lan 4 nam 2017 IMG_0078.jpg

Đây là một trong những hoạt động nhằm tạo sân chơi, cơ hội cho các tài tử đờn, tài tử ca trong huyện được học hỏi, giao lưu, từng bước nâng cao chất lượng đờn ca tài tử ở địa phương.

20-10-2017 Lien hoan Don ca tai tu huyen Ben Luc lan 4 nam 2017 IMG_0079.jpg

Ban tổ chức đã trao 2 giải A cho đơn vị xã Long Hiệp và xã An Thạnh; 2 giải B cho xã Tân Bửu và thị trấn Bến Lức và 2 giải khuyến khích cho đội Lương Hòa và công ty Hân Xương.

20-10-2017 Lien hoan Don ca tai tu huyen Ben Luc lan 4 nam 2017 IMG_0083.jpg

Ngoài ra ban tổ chức cũng trao giải A, B, Khuyến khích cho các tài tử ca ở các nội dung về bài bản: Bắc, Nam, Oán, Hạ và Vọng cổ./.

Văn Khởi (Đài Truyền thanh Bến Lức)

30/10/2017 1:00 CHĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​