Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 258699
 
Thông tin Văn Hóa - Hội thi, hội diễn
 
​Ngày 04/7/2019, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Giuộc khai mạc Hội thi kể chuyện sách hè và Hội thi tiếng hát hoa phượng đỏ năm 2019. Hội thi thu hút 17 đơn vị xã, thị trấn trên địa bàn huyện tham gia, với trên 150 thí sinh dự thi từ cấp mầm non đến cấp trung học cơ sở.Qua 01 ngày thi đấu sôi nổi, Ban tổ chức đã trao 02 giải I, 02 giải II, 02 giải III và 10 giải khuyến khíc... 
 
​Tối ngày 06/6/2019, tại xã Mỹ Bình, huyện Đức Huệ, Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh phối hợp cùng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Long An tổ chức Chương trình văn nghệ tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân vùng biên giới năm 2019. Bà Đặng Thị Uyên Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh; Đại tá Nguyễn Minh Phương, Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Ông Lê... 
 
​Ngày 27/5/2019, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đức Huệ phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thông Tin và Truyền thanh huyện tổ chức Liên hoan Tiếng hát tuổi mầm non cấp huyện năm 2019. Liên hoan thu hút trên 400 giáo viên và học sinh tham gia với 50 tiết mục dự thi của 10 trường mầm non thuộc 11 xã, thị trấn. Đến với liên hoan, mỗi trường tự chọn nội dung để dàn dựng một chủ đề cụ thể phù hợp với lứa... 
 
​Nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn, đặc biệt là chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày thành lập huyện Thạnh Hóa (05/9/1989 - 05/9/2019), Liên đoàn Lao động huyện Thạnh Hóa phối hợp với Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Văn Hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện tổ chức Hội thi Thanh lịch và tài năng. Hội thi diễn ra trong 02 đêm 23 và 24/5/2019, với sự ... 
 
​Nhân kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2019) và hưởng ứng Tháng công nhân, ngày 19/5/2019, tại Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Giuộc đã tổ chức Hội thi thanh lịch và giọng hát hay công nhân năm 2019.Đến dự có ông Trần Hải Phú, Huyện ủy viên, Bí thư Huyện đoàn Cần Giuộc; bà Phan Thị Ngọc Linh, Chủ tịch Công đoàn cơ sở Công ty TNHH SHEER BRIEGD; ô... 
 
​ Vừa qua, huyện Mộc Hóa đã tổ chức Hội thi giọng ca tài tử cải lương lần thứ I năm 2019. Hội thi diễn ra trong 03 ngày (7, 8 và 9/5/2019), với sự tham gia của 34 thí sinh đến từ 07 xã và các cơ quan trên địa bàn huyện.Với thể loại đơn ca cổ kết hợp các bài bản vắn trong 20 bài bản tổ của đờn ca tài tử, nội dung ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa… Các ... 
 
​Trong 2 đêm 20/02 và 21/02/2019 (nhằm ngày 16, 17 tháng Giêng năm Kỷ Hợi), tại Đình Vạn Phước, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An phối hợp cùng UBND huyện Cần Đước, UBND xã Mỹ Lệ và Ban Hội hương Đình Vạn Phước tổ chức Liên hoan Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An lần thứ 25 năm 2019. Liên hoan có sự tham gia của 12 Ban đờn ca tài tử (ĐCTT) các tỉnh Vĩnh Long, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng N... 
 
Hội thi Thanh niên thanh lịch huyện Cần Đước lần thứ XX năm 2019 do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Cần Đước tổ chức, diễn ra vào đêm 03/02/2019, có 47 nam nữ thanh niên tham gia dự thi đã diễn ra sôi nổi tại Hội xuân Kỷ Hợi huyện Cần Đước. Hội thi Thanh niên thanh lịch năm nay có sự tuyển chọn khá kỹ ngay từ cơ sở, nhất là các trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn huyện... 
 
​Một trong những chương trình thu hút đông đảo khán giả đến xem và cổ vũ tại Hội Xuân Kỷ Hợi huyện Cần Đước 2019 là Hội diễn Nghệ thuật quần chúng các trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn huyện do Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Đước tổ chức.Tiết mục của Trường THPT Rạch KiếnHội diễn Nghệ thuật quần chúng có 05 trường THPT và trung học c... 
 
Hội thi Giọng ca cải lương huyện Cần Đước lần đầu tiên được đưa vào chương trình mừng Xuân là một trong những nét mới của Hội Xuân Kỷ Hợi 2019. Hội thi thu hút 24 thí sinh ở các xã, thị trấn trong huyện tham gia và nhận được sự quan tâm của người dân về bộ môn nghệ thuật truyền thống của quê hương.Với các thể loại đơn ca, song ca ở vòng loại, các thí sinh hát 2 câu vọng cổ tự chọn, nội dung ca ng... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Kỷ niệm 310 năm ngày Mai Công Hương tuẫn tiết (1-12 Âm lịch) và khánh thành Miễu Ông Bần Quỳ ngày 19-1-2015Kỷ niệm 310 năm ngày Mai Công Hương tuẫn tiết (1-12 Âm lịch) và khánh thành Miễu Ông Bần Quỳ ngày 19-1-2015

Hạo khí trung liệt

Ảnh 3.JPG

Có thể người ta ít biết đến nhân vật Mai Công Hương nhưng nói đến ngôi miếu nhỏ với tên gọi dân gian Miễu Ông Bần Quỳ ở xã Nhựt Ninh, huyện Tân Trụ được xếp hạng di tích lịch sử năm 1993, nơi thờ phượng một tấm gương trung liệt thời chúa Nguyễn thì ai cũng biết.

Hỏi thử nhà ta giống Lạc Hồng

Gần đây ai chết được như ông

Chở lương bị giặc ngăn đường nước

Đục ván cho thuyền lặn đáy sông

(Vịnh Mai Công Hương, 1872)

Ngược dòng lịch sử, năm Ất Dậu (1705), nước Cao Miên có loạn. Vua Nặc Ông Yêm bị người em là Nặc Ông Thâm viện binh Xiêm La về đánh, phải chạy sang Gia Định cầu cứu. Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Cai cơ Nguyễn Cửu Vân đem quân đi đánh Nặc Ông Thâm ở Rạch Gầm. Mai Công Hương chỉ huy đoàn thuyền vận chuyển lương thực theo sau.

Mai Công Hương tên thật là Mai Bá Hương, quê ở làng Tân Hương, Cái Quao (nay thuộc tỉnh Trà Vinh), làm Xá lại thuộc Ty Xá Sai ở dinh Phiên Trấn, nên tục gọi là Xá Hương, trông coi việc chuyên chở lương thực. Thời bấy giờ chưa đào kênh Ruột Ngựa  (kênh Trà Cú hay kênh Thủ Thừa) và kênh Bảo Định nên để hành quân từ dinh Phiên Trấn đến Rạch Gầm bằng đường thủy phải đi từ sông Bình Dương vào sông Đại Phong, xuống hạ khẩu Sa Giang, qua sông Phước Lộc, lên sông Bao Ngược đến vàm Kỳ Hôn rồi qua sông lớn Mỹ Tho. Đoàn thuyền lương của Mai Công Hương đến Vàm Bao Ngược, tức khoảng hợp lưu của sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây thì bị giặc chặn đánh. Quân ít, liệu bề khó chống giữ, ông lệnh đục chìm thuyền và tuẫn tiết để không rơi vào tay giặc.

Quân Mên triệt ngã Bần Quỳ,

Mai công liệu thế hiểm nguy nhãn tiền!

Truyền quân lập tức đục thuyền

Mình cùng lương phạn xuống miền Tiêu Tương

(Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca)

Dẹp yên giặc, chúa Nguyễn truy phong ông là "Vị quốc tử nghĩa thần" và cho lập đền thờ gọi là Xá Hương Từ, dân quen gọi là Miễu Xá Hương, quay mặt ra Vàm Bao Ngược, ghi vào điển lệ. Đoạn sông trước miễu cũng được gọi là sông Xá Hương. Đến triều Minh Mạng, ông được truy tặng là Thừa vụ lang, tước Tử.

 "Tướng giỏi triều trước, gương sáng đời nay", cảm gương trung liệt của Mai Công Hương, nhân dân ngày đêm hương khói, cúng tế hàng năm vào ngày 30 tháng 11 và 1 tháng 12 âm lịch.

Xá Hương miếu cũ còn nguyên đó

Chỉ khác bia danh với tượng đồng

(Vịnh Mai Công Hương, 1872)

Nhiều giai thoại được lưu truyền mà qua đó, gạt bỏ yếu tố hoang đường, người ta thấy hiển hiện lòng kính ngưỡng sâu sắc của nhân dân dành cho ông. Tương truyền khi ông tuẫn tiết, những cây bần ở khu vực này đều quỳ xuống như cảm kích trước hành động của ông mà không cần quan tâm đến sự thật là do những luồng nước xoáy và gió ở khu vực hợp lưu hai con sông lớn làm cho bần bị trốc gốc và nghiêng ngã. Cái tên Miễu Ông Bần Quỳ đầy tôn kính ra đời là vì vậy và cũng đi vào lòng dân gian một cách tự nhiên mà tưởng chừng như không hề có cái tên Xá Hương Từ trước đó. Người ta còn truyền rằng ông thường hiển linh và mỗi lần như vậy, ngã ba Bần Quỳ nổi lên những đợt sóng thần. Đến khi không thấy sóng thần xuất hiện nữa thì dân gian cho rằng do văn chương chân thành mãnh liệt của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản khi đi thuyền ngang qua đây nghe câu chuyện hiển linh đã ghé vào Miếu thắp hương và đề câu đối đã làm xoa dịu nỗi căm hờn của người liệt sĩ khí khái năm xưa:

Nghĩa báo Nam thiên cương thượng thường bồi cao tiết,

Khí hiềm Tây tặc giang tiền do khởi nộ ba.

Tạm dịch:

Nghĩa báo trời Nam, trên nỗng, thường bồi tiết cả,

Nỗi oán giặc Tây, trên sông còn nổi sóng giận.

 mà không hề quan tâm đến nguyên nhân là do sự cộng hưởng của gió và dòng chảy nơi hợp lưu hai con sông lớn. Hai câu đối ấy nay vẫn còn đề ghi ở hai bên cửa Miễu, bên trong bàn thờ chính là "Vị quốc tử nghĩa thần" và phía trên là "Hạo khí trung liệt". Người ta còn lý giải rằng, dòng họ Mai Bá ở đây là những người lính trong đoàn vận lương của ông khi xưa còn sống sót đã ở lại lập làng vì mến nghĩa ông mà lấy họ Mai làm họ cho mình.

Kỷ niệm 310 năm ngày tuẫn tiết của Mai Công Hương, Miễu Ông Bần Quỳ được xây dựng mới vì ngôi miễu cũ đã xuống cấp và có nguy cơ bị sụp lở do nước làm xói mòn. Miễu Ông Bần Quỳ là một trong những ngôi miếu cổ xưa nhất ở Long An và Nam Bộ. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, qua bao lần trùng tu, xây dựng lại và di dời do dòng nước xâm thực, do đạn pháo chiến tranh, Miễu Ông Bần Quỳ gắn với tấm gương trung liệt của Mai Công Hương vẫn trường tồn cho đến ngày nay. Phải chăng đây là sự khởi đầu của đôi dòng Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây oai hùng, bất tử.

Về thăm lại xã Nhựt Ninh anh hùng – quê hương của Đám Lá Tối Trời lừng danh trong thời bom đạn, nhìn những cánh đồng lúa trải dài, chứng kiến bao sự đổi thay mà miên man suy tưởng, phải chăng nó được khơi nguồn từ quá khứ bi tráng mà hào hùng của lớp cha ông từ những ngày đầu đi mở đất phương Nam./.

      Người viết

Nguyễn Tấn Quốc

02/02/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
ĐỨC HUỆ QUAN TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐỨC HUỆ QUAN TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

Thời gian qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền và tổ chức đoàn thể huyện Đức Huệ luôn xác định việc xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh là một trong những giải pháp quan trọng trong việc phòng, chống tệ nạn xã hội và các sản phẩm văn hóa độc hại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Huyện luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người được tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Lãnh đạo huyện và cơ sở luôn quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng giáo dục chính trị tư tưởng để mọi người nâng cao nhận thức, xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

18-5-2020 Duc Hue quan tam cong tac xay dung doi song VH.png

Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Huệ

Bên cạnh đó, huyện luôn quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp hệ thống các thiết chế  văn hóa, thể thao để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, thể thao của nhân dân. Trong thời gian qua, huyện đã xây mới Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh với cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị cơ bản đảm bảo phục vụ cho nhu cầu phát triển văn hóa, thể thao và truyền thanh của địa phương. Đồng thời, khai thác và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa gồm: 1 bưu điện trung tâm, 11 bưu điện văn hóa xã – thị trấn, 1 đội thông tin lưu động, 1 thư viện, 1 công viên, 3 sân bóng đá, 4 sân bóng chuyền, 18 sân cầu lông, 9 Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Học tập cộng đồng xã, thị trấn. Hệ thống truyền thanh của huyện có 11 Đài cấp xã, 60 trạm truyền thanh ấp, khu phố đã cơ bản phủ sóng toàn bộ địa bàn huyện, các thiết chế này, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. Ngoài ra, huyện thực hiện tốt công tác xây dựng gia đình văn hóa, nhân dân tích cực hưởng ứng xây dựng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Hiện tại, toàn huyện có 96,15% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa, 49/49 ấp, khu phố đạt chuẩn văn hóa. Các giá trị văn hóa truyền thống được nhân dân bảo tồn, phát huy, các hủ tục lạc hậu được xóa bỏ. Từ đó, khơi dậy niềm tin trong cộng đồng dân cư, phát huy vai trò tự quản, góp phần xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ./.         

Tấn Hữu

19/05/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI KỂ CHUYỆN THEO SÁCH NĂM 2020 CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI KỂ CHUYỆN THEO SÁCH NĂM 2020

Với hình thức sân khấu hóa, Hội thi kể chuyện theo sách năm 2020 do Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Đước phối hợp cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức thu hút sự tham gia của các em học sinh, tạo sự lan tỏa hơn trong phong trào đọc sách ở các trường.

1.2 Tiet muc thi ke chuyen theo sach tai truong THCS My Le.JPG

Hội thi được tổ chức từ ngày 23 - 31/10/2020 tại 5 điểm trường trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện gồm Trường THCS Tân Lân, THCS Tân Chánh, THCS Phước Đông, THCS Mỹ Lệ và THCS Long Hòa, với 43 thí sinh tham gia dự thi được chọn từ các phần thi kể chuyện tiêu biểu ở các khối lớp. Thấy được tầm quan trọng của việc đọc sách đối với học sinh nên Ban Giám hiệu các trường có sự quan tâm, đầu tư cho hội thi, nhất là từng lớp học khối THCS đều có thí sinh tham gia dự thi và có sự đầu tư cho các tiết mục khá công phu. Với chất giọng ngọt ngào cùng phần sân khấu hóa sinh động, các em đã tái hiện những câu chuyện về tình yêu quê hương, đất nước, về Bác Hồ, anh hùng liệt sĩ, tình cảm gia đình, lòng yêu thương bao la của cha mẹ và phê phán những thói hư tật xấu, lòng tham của con người, ca ngợi tinh thần hiếu học, vượt khó vươn lên.

Đây là năm thứ 3 liên tiếp kể từ năm 2018, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện phối hợp với phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi kể chuyện theo sách ở tất cả các trường THCS. Kết quả hội thi cho thấy từng trường, từng thí sinh tham gia dự thi đều có sự tập trung và chăm chút cho phần thi của mình. Thông qua hội thi đã khuyến khích các em học sinh thêm yêu thích đọc sách, sưu tầm và kể những câu chuyện đã đọc, đã học, làm phong phú thêm vốn từ cho các em, giúp các em rèn luyện kĩ năng làm chủ bản thân, mạnh dạn, tự tin hơn trong các hoạt động phong trào./.

Cẩm Tú – Hồng Phong

04/11/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
NGƯỜI CÁN BỘ TÂM HUYẾT VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA NGƯỜI CÁN BỘ TÂM HUYẾT VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA

Gần 10 năm gắn bó với công tác văn hóa, anh Trương Văn Trẩn (sinh năm 1976), xã Lương Bình, huyện Bến Lức luôn được cấp trên và đồng nghiệp tin tưởng, người dân quý mến bởi sự năng động, nhiệt tình, không ngại khó khăn, luôn miệt mài với công việc.

ngay 22-12-2020, ben luc Nguoi can bo tam huyet voi hoat dong van hoa.jpg

Anh Trương Văn Trẩn – Người có nhiều đóng góp tích cực
trong hoạt động văn hóa tại địa phương

Năm 2011, anh Trương Văn Trẩn về công tác tại UBND xã Lương Bình với chức danh công chức Văn hóa - Xã hội. Sinh ra và lớn lên ở xã, nên anh Trẩn nắm rõ địa bàn và hiểu được đời sống văn hóa của người dân địa phương... Tuy nhiên, thời kỳ này do cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hóa của xã còn thiếu thốn, các ấp chưa có nhà văn hóa nên chưa có nhiều hoạt động, chưa thu hút được đông đảo nhân dân tham gia. Để từng bước khắc phục những khó khăn này, anh Trẩn đã làm tốt công tác tuyên truyền và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đưa ra các giải pháp phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, đồng thời kêu gọi các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn ủng hộ kinh phí, tạo nguồn lực để tổ chức các hoạt động. Với sự quan tâm đầu tư của xã, sự chung tay góp sức của các tầng lớp nhân dân, đến nay 4/4 ấp đều có nhà văn hóa, mỗi ấp thành lập 1 câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ hoạt động tích cực, sôi nổi. Là cán bộ văn hóa, anh Trẩn kiêm phụ trách hoạt động của đài truyền thanh xã. Bên cạnh việc tiếp âm 3 cấp, hàng ngày anh còn biên soạn, viết các tin, bài để phát thanh, giúp người dân nắm bắt kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các hoạt động của địa phương. Hình ảnh người cán bộ văn hóa đa năng thể hiện rõ nét ở các đợt tuyên truyền về những sự kiện lớn, các ngày lễ, tết của huyện, của xã, đặc biệt là trong đợt phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Anh Trương Văn Trẩn, cán bộ Văn hóa – Xã hội, xã Lương Bình chia sẻ: "Để xây dựng, tổ chức và phát huy tốt các hoạt động văn hóa, thể thao, người làm công tác văn hóa cơ sở phải luôn nỗ lực hết mình. Chính vì thế, bản thân luôn chủ động nghiên cứu nắm bắt các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp trên và cấp ủy, chính quyền địa phương thuộc lĩnh vực mình được giao; cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ, triển khai đến cơ sở. Đồng thời theo dõi, nắm bắt tình hình tại cơ sở, qua đó kịp thời phát hiện những hạn chế, thiếu sót để có những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động phong trào".

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, anh Trẩn đã thường xuyên tuyên truyền, vận động các ấp và nhân dân ký cam kết thực hiện. Các ấp cũng đưa quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội vào quy ước hoạt động, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân. Việc xây dựng gia đình, ấp, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2020, xã Lương Bình có 97,07% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa; 4/4 ấp được công nhận văn hóa, 100% cơ quan, đơn vị và trường học được công nhận văn hóa. Nhiều năm nay, anh Trẩn cũng đã tham mưu cho lãnh đạo xã tổ chức các giải thể thao phong trào như giải bóng chuyền nam, bóng bàn, cờ tướng, cầu lông, bóng đá thanh, thiếu niên... Qua đó, đưa phong trào luyện tập thể dục thể thao trên địa phương ngày càng phát triển.

Anh Nguyễn Thanh An, Phó Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Bến Lức cho biết: "Anh Trương Văn Trẩn là người cán bộ văn hóa năng động, sáng tạo, đầy nhiệt huyết với phong trào chung, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng tại địa phương nói riêng và huyện Bến Lức nói chung".

Nhiệt tình, tâm huyết với công việc, lại có thời gian làm công tác văn hóa lâu năm, anh Trương Văn Trẩn đã có nhiều đóng góp tích cực, góp phần đưa xã Lương Bình đạt chuẩn xã văn hóa - nông thôn mới vào cuối năm 2020. Bản thân anh Trẩn đã được các cấp, các ngành ghi nhận, tặng nhiều giấy khen và bằng khen./.

Việt Hằng – Thái Tần

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
VĨNH HƯNG - SAU 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI VĨNH HƯNG - SAU 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI

Vĩnh Hưng là huyện biên giới thuộc vùng Đồng Tháp Mười và nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An với diện tích tự nhiên gần 37.811,89 ha, chia thành 10 đơn vị hành chính (9 xã, 1 thị trấn) với 55 ấp, khu phố; trong đó có 5 xã giáp biên giới Campuchia với chiều dài đường biên giới 45.62km (gồm các xã Thái Bình Trung, Thái Trị, Tuyên Bình, Khánh Hưng, Hưng Điền A), dân số là 50.274 người, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

Trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng hiện có 4 lễ hội chính đó là: Lễ cúng rằm tháng Giêng, Lễ Phật đản, Lễ Vu lan (rằm tháng Bảy) diễn ra tại Di tích văn hóa Chùa Cổ Sơn (Chùa Nổi) và lễ tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Di tích lịch sử Quốc gia khu vực Đồn Long Khốt vào ngày 19/5 hàng năm thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân trong và ngoài huyện đến tham dự.

Ngoài ra, hàng năm các cơ quan, đơn vị và các địa phương còn tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao đón Tết Nguyên đán, các sự kiện, các ngày lễ lớn, Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc, Đêm hội trăng rằm… đúng theo quy định của pháp luật, hiệu quả, tiết kiệm phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Bên cạnh đó, các trò chơi dân gian như kéo co, nhảy bao bố, đẩy gậy, bịt mắt đập niêu… cũng được tổ chức, tạo không khí vui tươi, lành mạnh thu hút đông đảo người dân tham gia.

Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 41-CT/TW, nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội; bảo đảm việc quản lý và tổ chức lễ hội của từng ngành, địa phương theo đúng quy định của pháp luật; thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm; phù hợp với thuần phong mỹ tục, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có ý nghĩa giáo dục cao; đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn huyện từng bước đi vào nề nếp. Hoạt động lễ hội diễn ra phong phú, đa dạng, phát huy được vai trò chủ thể, năng lực sáng tạo các giá trị văn hóa của nhân dân; giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn", tôn vinh người có công với dân, với nước, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo khí thế vui tươi, lành mạnh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. 

Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa luôn được các ngành, các địa phương quan tâm, duy trì và thực hiện thường xuyên. Hiện nay, trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng có tổng cộng 7 di tích đã được công nhận gồm: 2 di tích cấp quốc gia (Di tích khảo cổ học Gò Ô chùa, Di tích lịch sử khu vực Đồn Long Khốt), 5 di tích cấp tỉnh (Gò Ông Lẹt, Gò Chùa Nổi, Sông Vàm Cỏ Tây, Lò Gạch, Gò Duối) và cây di sản tại Chùa Nổi (1 trôm mõ, 5 cây đầu rái). Qua đây nhằm góp phần giáo dục truyền thống, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức của mọi người trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử và văn hóa, nâng cao hơn nữa niềm tin, lòng tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc nói chung, về hình ảnh đất và con người Vĩnh Hưng nói riêng.

Nhìn chung các phong tục, tập quán lạc hậu trên địa bàn huyện từng bước được xóa bỏ, thay vào đó là việc thực hiện lối sống lành mạnh, văn minh. Môi trường văn hóa được cải thiện, công tác quản lý và tổ chức lễ hội được quan tâm thực hiện, từng bước được đầu tư cơ sở vật chất gắn với xây dựng nông thôn mới và xây dựng đô thị văn minh./.

Phú Hùng

05/11/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
TÂN THẠNH TỔ CHỨC HỘI THI CA TÀI TỬ - VỌNG CỔ NĂM 2020 TÂN THẠNH TỔ CHỨC HỘI THI CA TÀI TỬ - VỌNG CỔ NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Tân Thạnh tổ chức Hội thi ca tài tử  - vọng cổ năm 2020. Hội thi thu hút sự tham gia của 34 thí sinh đến từ 13 xã, thị trấn trong huyện. Đến với hội thi, mỗi đơn vị tham gia một chương trình thể hiện tiết mục về ca cổ: Vọng cổ nhịp 16 (6 câu) hoặc vọng cổ nhịp 32 (4 câu). Về ca tài tử, các thí sinh chọn bài trong 20 bài tổ. Nội dung ca ngợi thành tựu xây dựng quê hương trong thời kỳ đổi mới; ca ngợi Đảng, Bác Hồ; ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước.

22-12-2020  Thí sinh đang biểu diễn tiết mục tham gia tranh tài tại hội thi.jpg

Thí sinh đang biểu diễn tiết mục tham gia tranh tài tại hội thi

Qua một ngày tranh tài, Ban Tổ chức đã trao giải cho các thí sinh đạt kết quả cao trong hội thi. Về ca vọng cổ, giải nhất thuộc về thí sinh Huỳnh Văn Vũ, đơn vị xã Hậu Thạnh Đông; giải nhì thuộc về thí sinh Châu Long Hiếu, đơn vị xã Tân Lập và Phan Thị Trúc Mai, đơn vị xã Nhơn Hòa; giải ba thuộc về các thí sinh Lê Văn Thuấn, đơn vị thị trấn Tân Thạnh, thí sinh Trần Hữu Hạnh, đơn vị xã Tân Bình và Nguyễn Thị Trấm, đơn vị xã Nhơn Ninh. Về ca tài tử, giải nhất thuộc về thí sinh Nguyễn Thanh Tâm, đơn vị xã Kiến Bình; giải nhì thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Cẩm ly, đơn vị xã Tân Bình; giải ba thuộc về thí sinh Nguyễn Duy Ánh, đơn vị xã Tân Ninh và thí sinh Nguyễn Thị Diệu, đơn vị thị trấn Tân Thạnh. Ngoài ra Ban Tổ chức còn trao giải cho thí sinh hát về Tân Thạnh hay nhất, thí sinh trẻ tuổi nhất và nhiều giải khuyến khích cho các thí sinh đạt thứ hạng cao trong hội thi.

22-12-2020 Các thí sinh đạt giải trong hội thi.jpg

Các thí sinh đạt giải trong hội thi

Hội thi nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử - vọng cổ; đồng thời nhân rộng phong trào đờn ca tài tử - vọng cổ ở khắp các xã, thị trấn, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; tạo điều kiện để các thí sinh trong huyện có dịp giao lưu, trao đổi kinh nghiệm; phát hiện những nhân tố mới để đào tạo, bồi dưỡng tài năng; nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật; góp phần phát triển sự nghiệp văn hóa của huyện và phục vụ tốt đời sống tinh thần của nhân dân./.              

Kim Nhạn

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020 TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020

Chiều ngày 03/11/2020, Ban Tổ chức cuộc thi đọc sách tìm hiểu "Đức Huệ quê hương tôi" tổ chức trao giải cho 10 cá nhân đạt giải nhất, nhì, ba và khuyến khích; 3 tập thể đạt giải nhất, nhì, ba do có số lượng bài tham gia nhiều và đạt chất lượng nhất tại cuộc thi. Thí sinh Tô Ngọc Thuận đến từ Công đoàn cơ sở (CĐCS) Khối Đảng đã xuất sắc đạt giải nhất cuộc thi.

4-11-2020 Thi sinh To Ngoc Thuan - CDCS dat giau nhat.JPG

Thí sinh Tô Ngọc Thuận, CĐCS Khối Đảng đạt giải nhất (áo dài vàng)

Đây là cuộc thi do Liên đoàn Lao động huyện Đức Huệ phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện tổ chức dành cho tất cả cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện. Qua gần 2 tháng phát động, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được 103 bài dự thi của các công đoàn viên thuộc 27 CĐCS trên địa bàn huyện. Mỗi bài dự thi phải trả lời đầy đủ 10 câu hỏi trắc nghiệm và viết tự luận bằng văn xuôi không quá 2.000 từ. Phần viết tự luận, thí sinh được phép viết tay hoặc đánh máy, trình bày rõ ràng, sạch đẹp, có tranh ảnh, minh họa và những tài liệu dẫn chứng liên quan đến bài thi. Ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện, Trưởng ban Tổ chức cuộc thi cho biết: Theo nhận xét của Ban Tổ chức cuộc thi thì đa số các bài dự thi đều có sự nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin liên quan đến nội dung thi và thể hiện được sự cảm nhận của bản thân về khó khăn của huyện Đức Huệ ngày xưa và sự chuyển mình, phát triển của huyện nhà ngày hôm nay và trong tương lai.

Mục đích của cuộc thi nhằm xây dựng và phát triển phong trào đọc sách trên địa bàn huyện, hướng tới xây dựng một xã hội học tập, một nét đẹp trong đời sống xã hội để tôn vinh giá trị của sách cũng như khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập… Điều quan trọng nhất là thông qua cuộc thi giúp cho cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện nghiên cứu, tìm hiểu sự phát triển của huyện nhà trong thời gian qua, đồng thời thể hiện sự quyết tâm đóng góp sức mình vào công cuộc đổi mới, phát triển của huyện nhà, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Đức Huệ lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025./.

Tiến Anh

04/11/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
THÊM MỘT ĐỊA CHỈ ĐỎ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG THÊM MỘT ĐỊA CHỈ ĐỎ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

Vừa qua, Phòng Truyền thống lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) huyện Bến Lức được khánh thành và đi vào hoạt động đã trở thành một địa chỉ đỏ trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ trên địa bàn huyện.

5-10-2020 Thêm một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng.jpg

Sau khi Phòng Truyền thống LLVTND huyện được khánh thành và đưa vào hoạt động, Đảng ủy, Ban Chấp hành Đoàn các xã, thị trấn trong huyện đã phối hợp với Đảng ủy – Ban Chỉ huy Quân sự huyện tổ chức cho các bạn đoàn viên, thanh niên đến tham quan. Đến nay, Phòng Truyền thống LLVTND huyện đã tiếp nhiều đoàn với hàng trăm lượt đoàn viên, thanh niên, học sinh đến tham quan, tìm hiểu về truyền thống hào hùng của quê hương qua các thời kỳ.

Với các hiện vật được trưng bày tại Phòng Truyền thống LLVTND huyện như: Áo gối của bà Nguyễn Thị Ngọc Khọn tự thêu khi địch bắt giam tại nhà tù Côn Đảo cùng với câu chuyện đằng sau đó, hay chiến tích lịch sử về trận đánh vận động phục kích tại Rạch Mương Trám, xã Thạnh Lợi… đã bồi đắp, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống quê hương, hun đúc thêm tình yêu nước trong lòng thế hệ trẻ.

Ngoài các địa chỉ đỏ trên địa bàn huyện như: Khu di tích Đình Mương Trám, Khu vực Xóm Nghề, Nhà và lò gạch Võ Công Tồn… thì Phòng Truyền thống LLVTND huyện là một địa chỉ đỏ nữa góp phần vào việc giáo dục truyền thống cách mạng huyện nhà. Qua đây bồi đắp nâng cao tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ, khơi dậy, phát huy lòng tự hào dân tộc, tinh thần xung kích, tình nguyện đi đầu trong tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng huyện Bến Lức ngày càng phát triển, xứng danh huyện 3 lần được phong tặng danh hiệu anh hùng./.

Kim Phượng – Thanh Tâm

05/10/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
VĨNH HƯNG - CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA VĨNH HƯNG - CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA

Vĩnh Hưng là huyện biên giới thuộc vùng Đồng Tháp Mười và nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An với diện tích tự nhiên gần 37.811,89 ha, chia thành 10 đơn vị hành chính (9 xã và 1 thị trấn) với 55 ấp, khu phố; trong đó có 5 xã giáp biên giới Campuchia với chiều dài đường biên giới 45.62 km, dân số 50.274 người, đời sống nhân dân tương đối ổn định, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình hình thành và phát triển, địa phương có một số di tích lịch sử - văn hóa. Hiện nay, toàn huyện có tổng cộng 7 di tích đã được công nhận, trong đó: 2 di tích cấp quốc gia (Di tích khảo cổ học Gò Ô chùa, Di tích lịch sử Khu vực Đồn Long Khốt), 5 di tích cấp tỉnh (Di tích lịch sử trận đánh Gò Ông Lẹt, Di tích lịch sử trận đánh Đoạn sông Sông Vàm Cỏ Tây, Di tích lịch sử - văn hóa Chùa Cổ Sơn (Chùa Nổi), Di tích khảo cổ Lò Gạch, Di tích khảo cổ Gò Duối); Đền thờ Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Viết, 9 bia tưởng niệm ghi danh các anh hùng liệt sĩ tại các xã. Trong những năm qua, công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện luôn được cấp ủy, chính quyền và nhân dân quan tâm, duy trì và thực hiện.

22-12-2020 Den tho me VNAH Tran Thi Viet.jpg

Lễ khánh thành Nhà tưởng niệm Mẹ VNAH Trần Thị Viết tại xã Tuyên Bình Tây

Nhằm phát huy di tích lịch sử - văn hóa trong giáo dục truyền thống, lòng yêu nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn. Thời gian qua, huyện Vĩnh Hưng đã lập Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hầu hết các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện, tích cực phối hợp các ngành, các cấp bằng các nguồn kinh phí của Trung ương, tỉnh, huyện, xã, thị trấn và đóng góp của nhân dân, toàn huyện đã nâng cấp hàng nghìn mộ liệt sỹ; chỉnh trang nghĩa trang liệt sỹ huyện, nhà bia, đền thờ liệt sỹ ngày một khang trang hơn; đầu tư các hạng mục công trình của một số di tích lịch sử trên địa bàn như: Công trình Đền thờ nhà bia Di tích lịch sử trận đánh Gò Ông Lẹt, Di tích lịch sử Khu vực Đồn Long Khốt, Di tích lịch sử - văn hóa Chùa Cổ Sơn, Đền thờ Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Viết và các bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, với tổng nguồn vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng.

Trong kêu gọi xã hội hóa vận động các tổ chức, cá nhân đầu tư các hạng mục trong các khu di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện, có thể kể công trình tiêu biểu như Dự án cải tạo nâng cấp Di tích lịch sử quốc gia Đồn Long Khốt. Dự án này do Ban Liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 174 và Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh đã mời gọi được nhà tài trợ là Liên hiệp Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai tài trợ đầu tư xây dựng với kinh phí dự kiến tổng mức đầu tư dự án trên 84 tỷ đồng. Giai đoạn đầu, đầu tư trên 20 tỷ gồm các hạng mục: Đền thờ với diện tích xây dựng 1.100m, chiều cao 16,4m; không gian sử dụng: Đại sảnh, gian thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở chính giữa, bia ghi tên các anh hùng liệt sỹ, 1 giá chuông, 1 giá chống và 05 bàn thờ. Đây là công trình có quy mô và ý nghĩa to lớn, mang tính lịch sử và tri ân các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong các cuộc kháng chiến tại Đồn Long Khốt. Sau khi hoàn thành, Di tích lịch sử quốc gia Khu vực Đồn Long Khốt sẽ hòa cùng hệ thống các di tích văn hóa - lịch sử khác trở thành một quần thể di tích lịch sử - văn hóa rộng lớn trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng, góp phần giáo dục truyền thống, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức của mọi người trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử và văn hóa, nâng cao hơn nữa niềm tin, lòng tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc nói chung, về hình ảnh đất và con người Vĩnh Hưng nói riêng.

22-12-2020 Đền tưởng niệm Dự án Khu di tích lịch sử Quốc gia Đồn Long Khốt.jpg

Đền thờ liệt sĩ, Di tích lịch sử Quốc gia khu vực Đồn Long Khốt
đang trong giai đoạn hoàn thành

Nhìn chung, các di tích được xây dựng và bảo tồn đã tái hiện một cách đầy đủ, toàn diện, chân thực, sinh động về truyền thống kiên cường, bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo của Đảng bộ và Nhân dân huyện Vĩnh Hưng, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho đời sau nhất là thế hệ trẻ.

Thời gian tới, Huyện ủy tiếp tục chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền và nhân dân đề cao hơn nữa hiệu quả công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa, di tích lịch sử cách mạng, cần nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn. Đồng thời, tăng cường liên kết, phối hợp với các ngành có liên quan, các địa phương để tuyên truyền đến người dân ý thức thực hiện việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích. Bên cạnh đó, thường xuyên khảo sát các di tích để kịp thời lập hồ sơ đề nghị xếp hạng đối với các di tích đủ điều kiện; kịp thời khảo sát, xây dựng kế hoạch để bố trí kinh phí thực hiện công tác trùng tu, tôn tạo đối với các di tích đã xếp hạng bị xuống cấp; phát hiện và có giải pháp thực hiện trùng tu, sủa chữa đối với các di tích chưa được xếp hạng hoặc đã xuống cấp; khoanh vùng, bảo vệ, kiểm tra và xử lý các trường hợp xâm chiếm di tích. Mặt khác, tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là kinh phí từ xã hội hóa, huy động nguồn lực từ Nhân dân tiếp tục kêu gọi, xúc tiến đầu tư triển khai các dự án du lịch tâm linh gắn với phát huy có hiệu quả các di tích văn hóa - lịch sử: Chùa Cổ Sơn, Khu vực tưởng niệm Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Viết và các dự án khác... tạo động lực phát triển kinh tế,đột phá du lịch của huyện; đồng thời thực hiện tốt công tác bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa của địa phương./.

                                Phòng VH và TT huyện Vĩnh Hưng

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
CẦN GIUỘC: TỔ CHỨC LỄ DÂNG HƯƠNG KỶ NIỆM 48 NĂM NGÀY HY SINH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THÁI BÌNH CẦN GIUỘC: TỔ CHỨC LỄ DÂNG HƯƠNG KỶ NIỆM 48 NĂM NGÀY HY SINH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THÁI BÌNH

Ngày 02/7/2020, UBND thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc tổ chức Lễ dâng hương kỷ niệm 48 năm ngày hy sinh Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - liệt sĩ Nguyễn Thái Bình (02/7/1972 - 02/7/2020). Ông Nguyễn Phước Hùng, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy cùng lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể huyện, thị trấn đến dự.

2-7-2020 Quang canh le dang huong AHLLVTND Nguyen Thai Binh.png

Quang cảnh lễ dâng hương

Tại buổi lễ, các đại biểu ôn lại thân thế, sự nghiệp đồng chí Nguyễn Thái Bình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nguyễn Thái Bình sinh ngày 14/01/1948, trong một gia đình lao động nghèo đông anh em tại huyện Cần Giuộc. Anh từng theo học tại Trường Petrus Ký (Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong ngày nay), Cao đẳng Nông lâm súc trước khi được nhận học bổng du học tại Mỹ năm 1968. Anh được biết đến như là một trong những du học sinh Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ trong phong trào phản chiến ở Mỹ.

Trong suốt 4 năm du học tại Mỹ (1968-1972), Nguyễn Thái Bình đã có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí của Mỹ và lúc nào anh cũng giới thiệu một cách trang trọng "Tôi là người Việt Nam". Anh cũng dẫn đầu nhóm sinh viên Việt Nam tại Mỹ chiếm lĩnh Tòa lãnh sự của chính quyền Sài Gòn tại trụ sở Liên hiệp Quốc ở New York để phát đi những bản tuyên bố lên án đế quốc Mỹ và đòi trả tự do cho nhiều tù nhân trong các phong trào đấu tranh trong nước.

Ngày 19/5/1972, tại Mỹ, anh đã cùng các sinh viên Việt Nam yêu nước khác tổ chức Lễ kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì thế anh bị tước học bổng theo học Cao học tại Đại học Washington và buộc phải về nước. Tại buổi lễ trao học vị của mình, tháng 5/1972, anh đã phát truyền đơn phản chiến làm gián đoạn buổi lễ và tuyên bố rằng: "Chính Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về những tội ác tàn phá ở Việt Nam và Đông Dương". Anh còn viết hai bức thư ngỏ, một cho nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, một cho Tổng thống Mỹ Nixon để tuyên bố rằng: "Nếu tôi bị giết, hàng triệu người Việt Nam sẽ thay tôi chiến đấu cho đến khi chúng tôi chấm dứt cuộc chiến tranh". Thấy không khuất phục được anh, lúc 10 giờ sáng ngày 02/7/1972, trên chuyến phi cơ Boeing 747 mang số 841 đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, kẻ thù đã tìm cách bắn chết anh.

Ghi nhận thành tích đặc biệt xuất sắc của Nguyễn Thái Bình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 21/02/2010, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 2012, tỉnh Long An cho chủ trương xây dựng công viên, tượng đài Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thái Bình, đặt tại xã Tân Kim (nay thuộc thị trấn Cần Giuộc), khu vực ngã ba Nguyễn Thái Bình, quốc lộ 50 và cửa ngõ từ Thành phố Hồ Chí Minh vào trung tâm thị trấn Cần Giuộc. Việc hoàn thành công trình tượng đài tôn vinh Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thái Bình góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau, là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống giáo dục của cộng đồng dân cư./.

Phương Cảnh

03/07/2020 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”

Trải qua quá trình phát triển rực rỡ, cải lương đang mất dần vị thế "độc tôn" bởi qui luật phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển của công nghệ thông tin. Cải lương ở Long An không nằm trong ngoại lệ đó. Ngày 28/4/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Trung ương và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học "Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương ở Việt Nam (1918-2018) - Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển". Kết thúc loạt bài này, tác giả muốn thể hiện quan điểm tiếp cận bảo tồn phát triển của cuộc hội thảo này.

1. Đôi điều suy nghĩ

Bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng phải chấp nhận những nguy cơ bị đào thải trong sự phát triển chung của nền văn hóa nghệ thuật, đó là qui luật, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin, các loại hình giải trí khác trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã dần tước đi vị thế "độc tôn" của Cải lương. Trong khi đó, quá trình chuyển giao thế hệ ở sân khấu cải lương có một khoảng trống về đội ngũ kế thừa, nhất là 3 nhân tố quan trọng làm nên vở cải lương là: tác giả, danh cầm và diễn viên. Cải lương vì vậy đang không theo kịp tiết tấu cuộc sống đương thời để thể hiện những cảm quan mới, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ trong công chúng nghệ thuật.

Trong bối khó khăn, khủng hoảng chung hiện nay, cải lương ở Long An có những thuận lợi cơ bản. Đó là được sự quan tâm và định hướng của lãnh đạo tỉnh về nghệ thuật truyền thống này, đầu tư kinh phí để đảm bảo tồn tại và hoạt động, có điều kiện đối nội, đối ngoại, nguồn kịch bản và những trụ cột nghề nghiệp liên kết các thế hệ, cơ sở vật chất trang thiết bị được đầu tư, sự hài hòa đồng điệu giữa các thế hệ diễn viên… Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của cải lương Long An là vấn đề kịch mục, Đoàn không có tác giả và đạo diễn riêng, phải lệ thuộc bên ngoài và công tác dàn dựng rất tốn kém.

Hai nghị quyết có tác động tích cực và trực tiếp đến đời sống, sự phát triển của nền văn học nghệ thuật cả nước là Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ngày 16/7/1998 về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" xác định nhiệm vụ trọng yếu là "phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người" và Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới" chỉ rõ "tài năng văn học nghệ thuật là vốn quý xã hội". Nghệ thuật Cải lương với những đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà suốt 100 năm qua phải chăng là "vốn quí xã hội". Chính vì vậy, người viết tán thành quan điểm mạnh dạn xác định Cải lương là di sản văn hóa phi vật thể, một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc và cần được Nhà nước bảo trợ nhằm bảo tồn trước nguy cơ bị tác động làm cho suy thoái, mai một.

Về vấn đề quan điểm bảo tồn, trở lại với tên gọi cải lương. Dưới dạng danh từ chung, cải lương (không viết hoa) hay chủ nghĩa cải lương là một học thuyết chính trị chủ trương cải cách thể chế xã hội đang tồn tại; dưới dạng động từ thì có nghĩa cải tiến, cải thiện, tiến bộ hay làm cho hoàn thiện; dưới dạng danh từ riêng, Cải lương (viết hoa) dùng để gọi tên một thể loại sân khấu ở Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ XX. Còn chính thức được gọi riêng cho một kiểu sân khấu mới, theo Giáo sư Trần Văn Khê (Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, 2004, Nhà xuất bản Trẻ) là do ghép lại từ hai chữ đầu của hai câu liễn treo trên bảng hiệu của gánh hát Tân Thinh - Sa Đéc của ông bầu Trương Văn Thông vào năm 1920, mọi người sử dụng dần dà rồi thành thông dụng: Cải cách hát ca theo tiến bộ/Lương truyền tuồng tích sánh văn minh. Như vậy, cải lương (không viết hoa) hay Cải lương (viết hoa) thì nội hàm đều là sự vận động và đổi mới (cải tiến, sáng tạo) không ngừng. Cải lương vì vậy từ bản chất và với tên gọi ban đầu của nó đã cho thấy luôn phải vận động để phù hợp với thời đại mà nó đang tồn tại.

2. Thử đi tìm giải pháp

Trên quan điểm đó, thiết nghĩ Long An trong bảo tồn và phát huy di sản cải lương là không thể theo kiểu bao cấp lâu dài vì địa phương còn nhiều khó khăn, cũng không thể bảo tồn và phát huy theo kiểu tự hào quá khứ, đề cao danh hiệu, mà không có kế hoạch chăm lo phát triển theo đà phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, chỉ có thể bảo tồn trên cơ sở phát huy.

Trước tình hình trên, Long An có hai hướng để giải quyết. Một, là về những vấn đề cần thiết trước mắt để duy trì và ổn định hoạt động cải lương chuyên nghiệp nhằm kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh nhà. Hai, là về lâu dài, từng bước giải quyết có định hướng phát triển nghệ thuật truyền thống này đi đôi với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, an ninh quốc phòng… nhằm đáp ứng nhu cầu nghệ thuật truyền thống tỉnh nhà hòa nhập với thời đại chung với yêu cầu phát triển các lĩnh vực của toàn tỉnh.

Từ định hướng đó, thiết nghĩ giải pháp bảo tồn và phát triển cần chú ý đến các vấn đề sau:

Một, nâng cao năng lực thưởng thức trong công chúng. Theo đó, các ngành truyền thông tỉnh Long An cần có chương trình phổ cập kiến thức âm nhạc tài tử, cải lương cho công chúng qua hình thức báo, đài với chương trình định kỳ để công chúng cơ hội nắm bắt, tiếp cận loại hình nghệ thuật truyền thống này. Tổ chức hội, chi hội sân khấu, trung tâm văn hóa, các câu lạc bộ… ngoài hoạt động chuyên môn nên dành thời gian và điều kiện cho hoạt động phổ cập kiến thức này thông qua tạp chí chuyên ngành, trang thông tin… Việc nâng cao năng lực thưởng thức nghệ thuật cải lương sẽ tác động tích cực đến các giải pháp khác như hỗ trợ bồi dưỡng nhân lực; duy trì và tăng cường hoạt động hội diễn/hội thi; góp phần hỗ trợ cho các câu lạc bộ.

Hai, bồi dưỡng nhân lực, do đặc thù đào tạo diễn viên sân khấu cải lương, nên cần phải có chiến lược bồi dưỡng nhân lực từ xa và có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng chuyên nghiệp hơn. Đó là bồi dưỡng từ xa là phải tạo ra cho đối tượng sự ham thích bộ môn nghệ thuật này thông qua chương trình đào tạo ngoại khóa ở nhà trường phổ thông và các khóa học chuyên môn ở các câu lạc bộ địa phương; có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng có tính chuyên nghiệp là tạo cho lớp nhân lực này được vào các trường đại học sân khấu - điện ảnh và các trường đào tạo sân khấu, âm nhạc cổ truyền bậc đại học, cao đẳng, để sau này trở thành lực lượng chuyên nghiệp.

Ba, duy trì và tăng cường hoạt động tổ chức, tham gia hội thi, hội diễn, cần nên duy trì các hoạt động bằng nguồn ngân sách đã được hỗ trợ; mặt khác, vận động thêm các doanh nghiệp, công ty giúp kinh phí tăng cường tổ chức/tham gia hội thi/hội diễn của doanh nghiệp vừa để tạo phong trào, vừa để tăng thêm kinh phí hoạt động, nâng cao năng lực chuyên môn.

Bốn, thực hiện mô hình biểu diễn, cần vận động xã hội tạo điều kiện cho những mô hình ban hát hoạt động thường xuyên trong các dịp gia đình cần có âm nhạc để giúp vui hoặc chia buồn trong những đám tiệc, sinh nhật, cưới hỏi, hoặc tang gia, giỗ chạp ở địa phương. Sự tương tác này chắc chắn sẽ giúp gia chủ thỏa mãn nhu cầu âm nhạc; đồng thời hỗ trợ cho hoạt động cải lương có thêm kinh phí hoạt động nâng cao năng lực biểu diễn, bởi niềm đam mê nghệ thuật trong công chúng còn rất cao. Vấn đề là làm cách nào cho phù hợp với tình hình mới.

Thay lời kết

Xin gửi lời tri ân đến các thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ qua từng bước thăng trầm lịch sử của đất nước nói chung, nghệ thuật nước nhà nói riêng, đã suốt đời "tằm trả nợ dâu", hoạt động và cống hiến nghệ thuật không mệt mỏi để nhạc tài tử và cải lương góp phần làm nên "cốt cách Nam Bộ", trở thành một loại hình nghệ thuật dân tộc đặc trưng đất phương Nam, làm phong phú và đồ sộ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là làm sao để di sản tinh thần ấy tiếp tục trường tồn và phát huy, tiếp tục đóng góp vào quá trình hội nhập và phát triển của đất nước./.

 Nguyễn Tấn Quốc

(Hết)

12/09/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
SÂN KHẤU CUỘC ĐỜISÂN KHẤU CUỘC ĐỜI

"Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Lời nhân vật Giáo sư trong vở cải lương "Sân khấu cuộc đời" của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An trong cuộc thi nghệ thuật sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015 tại tỉnh Bạc Liêu đầy cay đắng, chua xót. Bởi, bi kịch cuộc đời là những gì chết đi bên trong khi anh ta đang còn sống, khi đạo đức làm người không song hành cùng tài năng...

Cuộc đời là sân khấu...

"Sân khấu cuộc đời" – vở cải lương của tác giả Sỹ Hanh được chuyển thể cải lương bởi Đức Hiền, mới nghe qua, nhiều khán giả tưởng là câu chuyện về đời nghệ sĩ sau bức màn nhung sân khấu. Nhưng khi vở cải lương đi một nửa đoạn đường, nhiều khán giả sụt sùi nước mắt khi nhận ra, đây là vở diễn tâm lý - xã hội đầy bi kịch của đời người trong cuộc sống hôm nay. Và, ở thời đại ngày nay, sân khấu không là đời mà chính đời là sân khấu. Giữa cuộc sống, mỗi người như một diễn viên đang diễn một vai tuồng mà có kẻ diễn tốt đến độ che giấu bản chất xấu xa để lương tâm rơi vào hố sâu tội lỗi.

Thu Hương – vai chính trong vở cải lương là cô gái tròn tuổi 20 với nhiều ước mộng. Vốn yêu thích ca hát nên cô theo học trường chuyên về âm nhạc. Ngày ra trường, với tâm hồn non trẻ, cô thích được ngợi khen, tâng bốc và nhẹ dạ tin lời ngon ngọt của bác sĩ Hải – kẻ đánh mất đạo đức đem đến bi kịch cuộc đời cho cả Thu Hương và bác sĩ Mai.

Lối dạy dỗ hủ lậu, bảo thủ, chỉ muốn khư khư giữ con là của riêng mình từ mẹ khiến Thu Hương lạc lối, bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi trái tim với bác sĩ Hải. Tưởng rằng, tình yêu sẽ đẹp, sẽ êm như những lời hoa mỹ, năn nỉ mỗi khi cô ca sĩ giận hờn của Hải, nào ngờ trái tim Thu Hương đã trao lầm cho tên sở khanh. Lúc Thu Hương biết mình mang trong mình sinh linh bé nhỏ của Hải cũng là lúc tên bác sĩ có tài kém đức chuẩn bị làm lễ cưới với bác sĩ Mai – con gái Giáo sư. Cuộc hôn nhân chẳng xuất phát từ tình yêu chân thật mà chỉ là bàn đạp cho công danh, sự nghiệp của Hải đã đẩy người phụ nữ thứ 2 (Mai) rơi vào oan tình. Vì thương bác sĩ Hải là học trò giỏi, giáo sư đã truyền dạy tất cả những kinh nghiệm cả một đời làm nghề cứu người cho anh ta. Giáo sư còn tin tưởng giao đứa con gái cưng của mình cho Hải trước khi lo cho anh ta một chuyến du học 5 năm ở Pháp.

Cao trào của vở cải lương, nước mắt khán giả rơi khi ngày cưới của Hải và bác sĩ Mai tiến hành, Thu Hương là ca sĩ đến hát chúc mừng. Khi nhìn thấy người mình yêu sánh vai bên cô dâu khác, Thu Hương đau lòng và định tự tử nhưng nhờ Tuấn – một tài xế, một người bạn từ thuở ấu thơ giúp đỡ. Sợ mẹ, Thu Hương không dám về nhà mà sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của Tuấn, của Lan Anh – cô học trò cũ của mẹ Thu Hương. Nhưng thân gái yếu đuối sợ không sống nỗi giữa giông tố cuộc đời, Thu Hương tìm đến phòng khám bác sĩ Mai để bỏ đi giọt máu của mình. Câu chuyện giữa Thu Hương và bác sĩ Mai đã vạch trần bộ mặt người chồng sở khanh. Là người phụ nữ cao thượng có tính cách kiên cường, bác sĩ Mai khuyên Thu Hương giữ lại đứa bé và âm thầm bỏ đi núm ruột của chính mình khi niềm vui của người sắp làm mẹ chưa được trọn vẹn.

23-11-2015.JPG

MỘT CẢNH TRONG VỞ CẢI LƯƠNG "SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI"

Ngày du học của Hải đến cũng là lúc Mai bảo rằng đã biết hết sự thật. Đau, buồn, khóc thật nhiều nhưng Mai vẫn im lặng để ba mình lo tròn chuyến du học cho Hải. Ngày Mai nhận bức thư xin tha lỗi mà Hải gửi về từ Pháp cũng là lúc Thu Hương đang nằm trong phòng mổ của Mai để chào đón con trai ra đời. Tiếng đứa bé khóc thét trong phòng mổ như nhát dao cứa vào tim bác sĩ Mai. Cô nhớ đến đứa con của mình chưa kịp tượng hình chỉ vì người đàn ông bội bạc, chỉ vì cô muốn hy sinh cho Thu Hương. Tiếng khóc đứa bé đẩy Mai đến tột cùng đau khổ và cô đem sự thật kể hết với giáo sư. Ngày Hải trở về nước, ăn năn với tội lỗi của mình cũng là lúc Mai và Hải không còn nghĩa vợ tình chồng. Thu Hương bây giờ cũng đã qua khúc bi ai, trở lại nghề hát và cùng đứa con bé nhỏ về sống với mẹ.

Thông điệp về đạo đức làm người

Ngày bác sĩ Hải về nước cũng là lúc Giáo sư đã nói với anh ta "Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Câu nói vừa trách mình, vừa trách người của Giáo sư như một bức thông điệp gửi tới đời. Sống trong xã hội, ngoài tài năng cần luyện rèn đức độ. Bởi người có tài đến đâu nhưng không đủ đức vẫn rơi vào bi kịch của chính mình và mang đến đau thương, khổ ải cho những người trong cuộc. Tài năng nếu kém có thể bồi dưỡng từng ngày nhưng đức, đạo làm người luôn là tài sản vô giá.  

Bên cạnh nội dung mới, phản ánh cuộc sống đương đại thì nghệ thuật của vở diễn có nhiều đổi mới. Không còn cảnh ruộng lúa ao vườn, sân đình, cung cấm,... như cải lương truyền thống, các diễn viên của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An diễn xuyên suốt trên cảnh trí là một chiếc cầu. Đây vừa là cách làm sáng tạo vừa mang tính ước lệ tượng trưng. Chiếc cầu cụt cũng như con người chưa toàn vẹn trong cuộc sống.

Về cách diễn, tuy chưa đều giữa các diễn viên nhưng nghệ sĩ Hồ Ngọc Trinh, Hoàng Oanh đã để lại dấu ấn bởi lối ca hay, diễn tốt. Vẫn như cuộc thi năm 2012, Hồ Ngọc Trinh hát rất chắc, tròn chữ và nhận rất nhiều tràng vỗ tay từ khán giả. Còn Hoàng Oanh – nghệ sĩ chính của Đoàn hiện nay cũng tiến bộ nhiều qua vai diễn. Hoàng Oanh diễn rất nhập vai, lột tả được nội tâm, tính cách nhân vật từ một cô bé thơ ngây, hồn nhiên ca hát đến lúc đau khổ khi rơi vào bi kịch.

Tuy giá trị nghệ thuật chưa tròn trĩnh nhưng vở "Sân khấu cuộc đời" đã mang đến cho cuộc thi một giá trị nội dung sâu sắc về nhân cách con người.

Bài, ảnh: THÙY HƯƠNG

23/11/2015 2:00 CHĐã ban hànhApproved
THỊ TRẤN CẦN ĐƯỚC ĐẠT CHUẨN VĂN MINH ĐÔ THỊ THỊ TRẤN CẦN ĐƯỚC ĐẠT CHUẨN VĂN MINH ĐÔ THỊ

Ngày 30/7/2020, thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước long trọng tổ chức Lễ công bố thị trấn Cần Đước đạt chuẩn văn minh đô thị. Bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo huyện Cần Đước và đông đảo người dân thị trấn tham dự.

4 Lanh dao huyen trao quyet dinh-bang cong nhan va bieu trung tien thuong-hong phong.JPG

Thị trấn Cần Đước nhận bằng đạt chuẩn văn minh đô thị

Qua hơn 3 năm tập trung xây dựng đến nay thị trấn Cần Đước đã đạt 24/24 tiêu chí văn minh đô thị về quy hoạch kiến trúc, nâng cao chất lượng gia đình văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa, phong trào văn hóa, thể thao… Thị trấn đã huy động tổng nguồn vốn trên 250 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 1,2 tỷ đồng và trên 2.000 m2 đất để đầu tư nâng cấp, mở rộng 40 công trình về điện, đường, trường học. Tỷ lệ đô thị hóa nhanh với 11 khu dân cư thương mại được quy hoạch với tổng diện tích 38 ha. Việc xây dựng cảnh quan xanh, sạch, đẹp, giữ gìn môi trường có nhiều tiến bộ, đã trồng hơn 700 cây hai bên đường Quốc lộ 50, Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong. Thị trấn có 3/4 trường đạt chuẩn quốc gia; 10/10 khu phốn văn hóa; nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; trên 98% hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa. Công tác giải quyết việc làm giảm nghèo đạt kết quả tốt, tính đến 6 tháng đầu năm 2020, thị trấn chỉ còn 32 hộ nghèo. Công tác xã hội hóa chăm lo gia đình chính sách, người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được phát huy, góp phần tích cực ổn định đời sống xã hội tại địa phương, tạo cơ hội cho người dân vươn lên trong cuộc sống, từng bước tăng dần hộ khá, giàu trên địa bàn. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững và ổn định, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc hàng năm được huyện đánh giá vững mạnh xuất sắc.

5 BTHU trao giay khen cho cac tap the.JPG

Ông Nguyễn Văn Đát, Bí thư Huyện ủy Cần Đước trao giấy khen cho các tập thể
có nhiều đóng góp trong xây dựng thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị

Dịp này, UBND huyện Cần Đước và UBND thị trấn Cần Đước đã tặng giấy khen cho 37 tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp tích cực trong quá trình xây dựng thị trấn Cần Đước đạt chuẩn văn minh đô thị./.

Hồng Phong

03/08/2020 2:00 CHĐã ban hànhApproved
TÂN THẠNH: TẬP HUẤN NÂNG CAO NGHIỆP VỤ VỀ LĨNH VỰC VĂN HÓA, QUẢNG CÁO NĂM 2020 TÂN THẠNH: TẬP HUẤN NÂNG CAO NGHIỆP VỤ VỀ LĨNH VỰC VĂN HÓA, QUẢNG CÁO NĂM 2020

Ngày 06/10/2020, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tân Thạnh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa, quảng cáo và hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch cho các thành viên Đội kiểm tra liên ngành văn hóa, thông tin và truyền thông cấp huyện, xã, thị trấn và các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo trên địa bàn huyện.

6-10-2020 tap huan van hoa quang cao nam 2020.jpg

Tại buổi tập huấn, các đại biểu được nghe ông Nguyễn Văn Tâm, Phó Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Quảng cáo năm 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực văn hóa, quảng cáo. Trong đó, tập trung nhấn mạnh những nội dung sửa đổi bổ sung và những quy định mới trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo như: Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối vối một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Nghị định số 54/2019/NĐ-CP  ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Đồng thời, triển khai quán triệt Quyết định số 5015/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 của UBND tỉnh Long An về việc ban hành Quy định quản lý hoạt động "nhạc sống" trên địa bàn tỉnh và các Chỉ thị của UBND tỉnh về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo, kinh doanh trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh và Quyết định của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phân cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn tỉnh.

Qua hội nghị tập huấn nhằm bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác văn hóa, thể thao, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý lĩnh vực văn hóa, quảng cáo trên địa bàn huyện. Đặc biệt là nâng cao nhận thức và chấp hành pháp luật của các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo trên địa bàn, góp phần đảm bảo tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tân Thạnh./.

Duy Thanh

07/10/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC

Hội thi chưng mâm ngũ quả và bình bông thờ cúng gia tiên do Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức mừng Xuân Canh Tý 2020 đã góp phần giữ gìn nét truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tham gia hội thi, các xã, thị trấn đã mang đến những tác phẩm nhiều màu sắc, có sự sáng tạo, độc đáo trong cách trình bày và lựa chọn nguyên liệu. Những loại trái cây quen thuộc tượng trưng cho thành quả lao động cả năm của con cháu như dưa hấu, mãng cầu, dừa, bưởi, xoài,... được tạo dáng rồng, phụng, trang trí đèn led, dây chốp tắc khá công phu; hay các loại hoa với sự kết hợp nghệ thuật tạo hình và sự sáng tạo tạo nên những tác phẩm đẹp, tinh tế với ý nghĩa thể hiện tấm lòng và sự tưởng nhớ công ơn tổ tiên, cầu mong những điều tốt đẹp và may mắn trong năm mới.

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Dinh-1.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Định

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Huu Dong.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Hựu Đông

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Tan An.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Tân Ân

31-1-2020 trao giai cho cac don vi du thi.jpg

Ban tổ chức trao giải cho các đơn vị dự thi

Ban Tổ chức đã trao giấy khen của Chủ tịch UBND huyện cho 2 giải nhất, 2 giải nhì, 4 giải ba; giấy khen của Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện cho 6 giải khuyến khích. Qua hội thi nhằm duy trì nét văn hóa đặc trưng ngày Tết của người Việt, đồng thời thể hiện sự thành kính hướng về tổ tiên và ước mong một năm mới an khang và hạnh phúc./.

Cẩm Tú

03/02/2020 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Bạn đọc và Thư việnBạn đọc và Thư viện

Trong cuộc sống, mỗi người sẽ có niềm vui riêng về hạnh phúc. Người bước lên đỉnh cao của danh vọng tiền tài, người bình dị với cuộc sống thường nhật. Với tôi, đọc sách là niềm vui, sở thích không thể cưỡng lại được. Bác Hồ từng nói: "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách là việc đáng quý", hay Thành ngữ có câu: "Đọc sách là nuôi dưỡng trí tuệ". Theo đó, mỗi ngày tôi đều dành ra một khoản thời gian nhất định để đọc sách và xem báo. Nhu cầu này vừa để tôi thư giản, vừa giúp ích cho công việc hiện tại và củng cố những kiến thức còn trống của mình. Nhưng thật ra cái sự ham mê đọc sách của tôi chẳng là bao nếu đem so với những người độc giả mà tôi đã gặp.

Trong lần trực thay đồng nghiệp ở Phòng mượn, tôi may mắn gặp và tiếp chuyện cùng bác Nguyễn Vĩnh Phú (nhà ở số 11 đường Hùng Vương, Phường 2, thành phố Tân An, Long An). Bắt đầu câu chuyện bác hỏi tôi quê ở đâu, đi làm rồi về ở đâu?… Đến khi bác biết tôi học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chuyên ngành Thư viện, bác cười: "Tốt lắm. Thư viện bây giờ có nhiều cán bộ trẻ rồi đấy chứ". Rồi đến việc bác nhờ tôi kiếm hộ cuốn "Nỗi buồn chiến tranh". Tôi không nghĩ mình sẽ tìm được bởi có quá ít thông tin về cuốn sách ngoài cái nhan đề mà bác vừa nêu nhưng tôi vẫn nhận lời. Bởi ngoài nhiệm vụ của người cán bộ thư viện phục vụ cho độc giả, tôi nhận lời còn vì tình cảm quí mến đối với bác. Bằng những kiến thức học ở trường cộng thêm một chút may mắn tôi đã hoàn thành tốt công việc của mình. Cầm cuốn sách trên tay, bác vừa cười vừa nói: "Sao hay thế? Làm sao kiếm được thế?". Quả thật, tôi không thể nào kiềm nén được cảm xúc của mình. Đối với người làm công tác thư viện không có gì vui bằng việc thấy độc giả hạnh phúc với cuốn sách trong tay. Bác nói: "Già rồi, xem lại những cuốn sách cũ như vậy cho đỡ buồn… Con tên gì?… Bác là độc giả của thư viện từ ngày mới thành lập". Như vậy nếu tính từ ngày thành lập đến nay, bác Phú đã đến đọc sách ở thư viện ngót hơn 30 năm. 30 năm đối với một đời người thì không thể coi là dài nhưng 30 năm đối với một người đến thư viện đọc sách, xem báo là một con số đáng khâm phục.

Riêng bác Trần Trí Hòa (nhà ở số 402/16 khu phố Bình Cư 2, Phường 4, thành phố Tân An, Long An), tôi may mắn biết bác nhiều hơn. Đầu tiên là những lần bác Hòa đem báo xuống phòng vi tính photo. Thấy tôi ngồi nhập báo trên máy vi tính, bác hỏi tôi có đánh được mười ngón không?. Bác chỉ đánh được hai, ba ngón thôi… Sau nữa, tôi biết bác Hòa với bài viết "Thư viện và sách vở" được đăng trên Đặc san Thông tin Thư viện năm 2003 của Liên hiệp Thư viện đồng bằng sông Cửu Long. Qua bài viết, tôi biết bác Hòa có nhiều kỷ niệm sâu sắc về thư viện, về sách vở, đặc biệt là tình cảm quý mến mà bác dành cho những người công tác trong ngành Thư viện.

Bác Hòa đến thư viện đọc sách từ ngày bác còn học Đại học Sư phạm ở Hà Nội. Ngày ấy, thư viện còn nghèo khổ, sách vở ít và lại cũ, nhưng đối với bác việc ấy chẳng hề ảnh hưởng gì. Bác say sưa ngấu nghiến đọc những trang sách của Tự Lực văn đoàn, những trang sách của dòng văn học hiện thực phê phán, thơ Đường, thơ Tống, bộ Chiến tranh và Hòa bình của Lép Tônxtôi. Bác Hòa cũng thường hay quan tâm đến việc đọc sách báo của lớp trẻ. Bác than phiền, lớp trẻ bây giờ không ham mê đọc sách báo như thời của bác, "Cái văn hóa đọc đã thua xa cái văn hóa nghe, nhìn, đỡ tốn công lại sinh động!". Từ cái buồn, cái trăn trở, bác Hòa đem niềm cảm nghĩ của mình chia sẻ cùng với người làm công tác thư viện để tìm phương hướng giải quyết.

Quí hai bác ở chổ "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách", cảm động với việc hai bác nâng niu, gìn giữ sách báo như những món vật quý hiếm và không một lời hạ thấp, xem thường nghề nghiệp đối với những người công tác trong ngành Thư viện. Bác Hòa bộc bạch: "Rất mừng là người làm thư viện chẳng những thông thạo nghiệp vụ mà còn yêu nghề".

Ba, bốn mươi năm! Biết bao nhiêu sự đổi thay trong ngần ấy thời gian, nhiều cán bộ thư viện trước kia nay đã về hưu, thư viện ngày càng "lớn" và khang trang thêm nhưng với bác Phú và bác Hòa vẫn vậy, vẫn đến thư viện đọc sách báo và giữ "mối tình" chung thuỷ với thư viện. Hai bác coi đó như là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu, có thể vì một quyển sách mà quên cả ăn uống, ngủ nghê.

Hình ảnh của bác Phú và bác Hòa đã tiếp cho tôi thêm nhiều nghị lực, vững bước trên con đường mình chọn. Dù con đường phía trước vẫn còn nhiều chông gai nhưng tôi sẽ cố gắng để đem đến cho độc giả thư viện ngày càng có nhiều niềm vui về sự hạnh phúc. "Làm sao đốt sách cho được. Sách chứa biết bao tri thức. Chú cũng "lớn lên" từ thư viện mà", đó là lời tâm sự của chú Mộc Tùng ở thành phố Tân An. Mượn lời chú để kết thúc bài viết, hi vọng rồi ai ai trong chúng ta cũng nghĩ về thư viện như một điểm dừng chân lý tưởng cho việc thư giản, tìm tòi, nghiên cứu và học tập.

AN THANH

30/05/2013 2:08 CHĐã ban hànhApproved
Kỷ niệm 68 năm ngành Văn hóa - Thông tin 28/8/19450-28/8/2013Kỷ niệm 68 năm ngành Văn hóa - Thông tin 28/8/19450-28/8/2013

 Trụ sở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An

Văn hóa - Thông tin Long An 
từ Đề cương văn hóa Việt Nam đến Nghị quyết TW5 khóa 8

    Ngày 28/8/1945, Bộ Thông tin tuyên truyền được công bố trong danh sách các thành viên Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ đó, ngày 28/8 trở thành ngày truyền thống của ngành Văn hóa - Thông tin.

    Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tổng kết: “Tuyên truyền là phân nửa của cuộc kháng chiến”. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, quán triệt tư tưởng “kháng chiến hóa văn hóa” và “văn hóa hóa hóa kháng chiến”, chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng được đội ngũ cán bộ Văn hóa - Thông tin  hai tỉnh Tân An - Chợ Lớn nỗ lực tuyên truyền, đóng góp vào nhiệm vụ định hướng tư tưởng, nâng cao trình độ nhận thức và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên và quần chúng, góp phần vào thành công cuộc kháng chiến chín năm.

    Ý thức sâu sắc vai trò của văn hóa, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ hai tỉnh Long An - Kiến Tường tiếp tục phát huy sức mạnh của vũ khí tuyên truyền, báo chí, văn hóa - văn nghệ. Nằm trong tổ chức với tên gọi khác nhau tùy theo nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử, như: Ban Tuyên truyền báo chí (1957 - 1959), Ban Tuyên truyền cổ động (1960 - 1961), Ban Tuyên văn giáo (1962 - 1965) và Ban Tuyên huấn (1966 - 1975), dù phong trào cách mạng có lúc mạnh yếu, khó khăn, thuận lợi khác nhau, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngành Văn hóa - Thông tin hai tỉnh cũng luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy trong nhiệm vụ bám sát chiến trường, bám sát nhiệm vụ chính trị phục vụ kháng chiến.

    Trong từng thời kỳ, thông tấn, báo chí cách mạng với tờ báo Hòa Bình Thống Nhất, Tin Tức Kiến Tường, Phụ nữ, Thanh niên, Dân Cày (1954-1959), Văn nghệ Long An, Văn nghệ Kiến Tường (1961),Cờ Đỏ, Tin Tức Long An, Quyết Tiến (1963),Văn nghệ Vàm Cỏ, Văn nghệ quân giải phóng Bắc Long An, Văn nghệ Kiến Tường, Tháp Mười anh dũng (1964 - 1975)… đã vượt qua khó khăn, nguy hiểm, liên tục phát hành, kịp thời đưa đến cán bộ và nhân dân.

    Nhìn qui mô ngành in ngày nay ít ai biết rằng Nhà in đã ra đời giữa đồng bưng Đồng Tháp Mười, ngày 01/5/1961, mang tên người cộng sản kiên cường bất khuất Phan Văn Mảng, để từ đây, báo chí cách mạng, tài liệu học tập, sách giáo khoa, tác phẩm văn nghệ và truyền đơn... tỏa đi khắp mọi nẻo đường, thôn xóm. Mỗi trang in ngày ấy đến tay cán bộ, chiến sĩ, đồng bào thấm đượm mồ hôi và máu của biết bao cán bộ, nhân viên ngành văn hóa đã hy sinh trong lúc bảo vệ nhà in hoặc trên đường vận chuyển, phát hành.

    Chiến trường nóng bỏng và ác liệt ở cửa ngõ Sài Gòn có một sức hút kỳ lạ đối với văn nghệ sĩ cách mạng. Trong sự phong phú của tác giả, tác phẩm và đề tài kháng chiến trong lĩnh vực hội họa, không thể không kể đến tác phẩm “Dừng lại” của Lê Lam và “Bà má Long An” của Nguyễn Đức Lưu, góp phần tái hiện rõ nét thêm cuộc chiến tranh nhân dân trong những năm tháng hào hùng ấy.

    Truyền thống vẻ vang của ngành có sự đóng góp không nhỏ của hai đoàn văn công Long An (thành lập vào cuối năm 1959) và Kiến Tường (ra đời năm 1960) mà Trăng lên khỏi núi, Dậy lửa (của Nguyễn Vũ), Bám đất giữ làng (của Trần Ngọc), Dòng máu (của Phạm Ngọc Truyền), Lòng dân (của Nguyễn Văn Xe), Máu rơi bám đất (của Hà Mạnh Đức), Lá cờ giải phóng, Hồi trống đất (của Nguyễn Hữu Thường), Tô thuốc độc, Cô Điền (của Thanh Châu), v.v ... bên cạnh những tiết mục múa Giải phóng quân nhập thành, Những búp măng non, Xây làng chiến đấu, Trái lựu đạn gỗ, Ong vò vẽ đánh Mỹ, v.v... là những tác phẩm tiêu biểu, góp phần động viên cách mạng từ những ngày đầu chống Mỹ cho đến kết thúc thắng lợi 30/4/1975.

    Tiếp tục phát huy truyền thống trong kháng chiến, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân viên của ngành nỗ lực phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa, văn nghệ, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh nhà trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Từ buổi đầu khó khăn thiếu thốn, đến nay cơ sở vật chất của ngành cơ bản khang trang, đáp ứng các hoạt động nghiệp vụ phục vụ nhân dân. Các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng, kiện toàn và từng bước đi vào hoạt động có hiệu quả, góp phần đáp ứng và nâng cao đời sống tinh thần nhân dân. Các di tích lịch sử - văn hóa được đầu tư tôn tạo, nhiều di sản văn hóa phi vật thể được sưu tầm, bảo tồn. Một huyện đang được xây dựng thành huyện điểm điển hình về văn hóa. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa góp phần củng cố tình làng nghĩa xóm, từng bước đẩy lùi hủ tục lạc hậu, hình thành các chuẩn mực giá trị đạo đức mới phù hợp với sự phát triển của đất nước.

    68 năm hoạt động của ngành Văn hóa – Thông tin nói chung, của tỉnh nhà nói riêng là 68 năm phấn đấu xây dựng và phát triển nền văn hóa mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và đặt nền móng, là 68 năm dưới ánh sáng đường lối văn hóa của Đảng xuyên suốt từ Đề cương văn hóa Việt Nam đến Nghị quyết TW5 khóa 8 với những nhiệm vụ đặt ra cho từng giai đoạn lịch sử. Chính vì vậy, nhiệm vụ của ngành văn hóa tỉnh nhà trong thời gian sắp tới, nhất là từ khi có sự hợp nhất với các ngành Thể thao và Du lịch, trở nên nặng nề hơn trong mục tiêu góp phần để “văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực” cho sự phát triển của tỉnh nhà:

    - Tập trung phát triển văn hóa theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc; giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, khắc phục tình trạng chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân giữa vùng nông thôn và đô thị. Xây dựng Long An thành một tỉnh năng động, đa dạng về văn hóa, vững vàng trong hội nhập.

    - Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở, tạo môi trường văn hóa lành mạnh và phong phú, tạo ra những sản phẩm văn hóa chất lượng ngày càng cao trên địa bàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, nhất là đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

    - Tăng cường đầu tư đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nhằm tạo điều kiện toàn dân được tham gia sáng tạo, tổ chức hoạt động và hưởng thụ thành quả văn hóa, xem đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, làm cho văn hóa tham gia tích cực vào nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An giai đoạn 2011 - 2015 và những năm tiếp theo.

    Đó là nhiệm vụ lãnh đạo tỉnh đề ra cho ngành Văn hóa tỉnh nhà trong giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020.

    Nâng cao nhận thức cán bộ, nhân viên của ngành, tập trung đầu tư tạo chuyển biến thật rõ nét trong những năm tới về công tác quản lý nhà nước về văn hóa, có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn, đạo đức, tác phong, lối sống lành mạnh, coi trọng và thường xuyên tăng cường công tác xây dựng Đảng, tập trung chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết 04 (khóa XI) đi đôi với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị. Đó là những giải pháp để ngành Văn hoá - Thông tin phấn đấu xứng đáng với vai trò, vị trí được giao phó là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh nhà phát triển./. 

          Bài, ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

09/09/2013 1:04 SAĐã ban hànhApproved
Bộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh ĐứcBộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức
Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức (1748-1819), người làng Tường Khánh, huyện Kiến Hưng (nay thuộc ấp Dinh, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An) là một đại thần của nhà Nguyễn, từng giữ những chức vụ quan trọng như: Chưởng Tiền quân, Tổng trấn Bắc Thành, Tổng trấn Gia Định Thành...Lăng mộ và đền thờ ông tọa lạc tại xã Khánh Hậu đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia từ năm 1993. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều hiện vật quý giá có niên đại thế kỷ XVIII-XIX vẫn còn được lưu giữ tại di tích, trong đó có bộ Ván Một.

Bo Van Mot.jpg

Với chiều dài 3,4m, chiều rộng 1,8m, dày 0,2m được tạo thành từ một khối gỗ duy nhất, có lẽ đây là bộ ván có kích thước lớn nhất Việt Nam còn tồn tại nguyên vẹn cho tới bây giờ. Trong lượng bộ ván cũng chưa có ai cân một cách chính xác. Chỉ biết rằng vào năm 1959, khi đền thờ Kiến Xương quận công được dời đến địa điểm hiện nay, gia tộc phải nhờ một trung đội lính mới khiêng nổi bộ ván. Theo lời kể của gia tộc Nguyễn Huỳnh, bộ Ván Một này là di vật của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, được ông sử dụng hồi còn ở quê nhà, lúc chưa đi theo phò Chúa Nguyễn. Từ đó suy ra, bộ ván này có niên đại muộn nhất cũng vào năm 1780.

Từ khi Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mất (9-9AL-1819), đến nay bộ ván được đặt một cách trân trọng tại chính điện đền thờ ngài. Tương truyền, đây là bộ ván linh thiêng, nếu ai có lòng tà vạy, gian tham dám ngồi lên bộ ván thì thế nào cũng bị Quận công Nguyễn Huỳnh Đức quở phạt. Cụ Nguyễn Huỳnh Tân (1878-1954) – cháu đời thứ năm của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức có truyền lại cho con cháu một mẩu chuyện thú vị xung quanh bộ Ván Một như sau:

Vào khoảng năm 1880, tại khu vực giáp ranh hai tỉnh Long An và Tiền Giang bây giờ có cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do ông Ong và ông Khả lãnh đạo. Lúc bấy giờ, tên việt gian Trần Bá Lộc đang trấn nhậm vùng Cái Bè đã đem quân đến đàn áp cuộc khởi nghĩa theo lệnh của Tây. Một hôm hắn dẫn lính vào lung sục, tra khảo nhân dân làng Tường Khánh. Khi đi ngang đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, Trần Bá Lộc rẽ vào và leo lên bộ ván ngồi một cách nghinh ngang. Giữa lúc con cháu Quân Công Nguyễn Huỳnh Đức đang lạy chào “quan” thì Trần Bá Lộc đột nhiên té nhào từ trên bộ ván xuống. Lính hầu lật đật khiêng Trần Bá Lộc lên giường nằm. Một lúc sau Trần Bá Lộc tỉnh lại, nét mặt hốt hoảng kể lại rằng:”Ta đương ngồi trên bộ ván thình lình có một bọn năm sáu người tự xưng là bộ hạ của Quan thượng Tiền quân vâng lệnh ngài đến bắt ta đem chém. Ta vùng vẩy, chống cự lại bọn lính hầu nên mới bị té xuống đất”. Ngừng một chút, Trần Bá Lộc nói tiếp:” Mấy chục năm nay ta đánh Nam dẹp Bắc, giết người như chém cỏ, từng đốn tre kẹp con nít, bỏ người vào cối quết chẳng gờm tay. Hôm nay là lần đầu tiên ta phải kiêng sợ bộ ván linh của Quan thượng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức vậy.”

Từ đó về sau, không một ai dám ngồi lên “Bộ Ván Linh” của Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.

Cùng với bộ sưu tập cổ vật tại di tích nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, bộ ván một là một hiện vật quý có giá trị lịch sử và niên đại so quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ.

​                                                                                             NGUYỄN VĂN THIỆN

22/10/2014 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn GiàuDi tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu

 

Di tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu tọa lạc tại ấp Hồi Xuân, xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Đây là nơi lưu niệm nhà cách mạng, nhà giáo ưu tú, nhà nghiên cứu khoa học lỗi lạc Trần Văn Giàu - người cống hiến cả cuộc đời cho đất nước đến hơi thở cuối cùng.

Trần Văn Giàu sinh ngày 11/9/1911 (Theo công văn số 167-CV/TU ngày 12/8/2011 của Thành ủy TP.HCM, giáo sư sinh ngày 11/9/1911, ngày sinh của giáo sư Trần Văn Giàu trong sơ yếu lý lịch đảng viên (khai ngày 21/11/1974) và phiếu kê (ngày 21/11/1997) để tặng huy hiệu 60 năm tuổi Đảng là ngày 11/9/1911.) trong một gia đình trung lưu ở xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An). Thuở nhỏ ông học ở Tân An, Sài Gòn rồi du học tại Đại học Toulouse (Pháp). Ông gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương, du học Đại học Đông Phương ở Matxcơva(Liên Xô), bị thực dân Pháp bắt giam qua các nhà lao Khám lớn Sài Gòn, Côn Đảo, Tà Lài. Năm 1943, ông được bầu làm Bí thư xứ Ủy Nam Kỳ. Năm 1945, ông lãnh đạo cuộc tổng nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Năm 1949, ông giữ chức Tổng giám đốc Nha Thông tin…Cùng những cống hiến lớn lao cho nền giáo dục nước nhà trên lĩnh vực triết học, sử học và văn học, Trần Văn Giàu được phong hàm Giáo sư trong lớp Giáo sư đầu tiên của nước nhà. Ông mất ngày 16 tháng 12 năm 2010 nhằm ngày 11 tháng 11 năm Canh Dần, hưởng thọ 100 tuổi.

Với tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ 7814m2, Khu lưu niệm còn lưu giữ được hai công trình gắn liền với giáo sư Trần Văn Giàu, đó là nhà thờ họ Trần và khu mộ của Giáo sư cùng gia đình.

NHÀ THỜ

Nằm trong khuôn viên vườn thanh long rộng khoảng 6.000 m2, ngôi nhà thờ họ Trần được chính Giáo sư xây dựng dựng năm 1995 với diện tích 52,5m2 ( dài 7,5m,  ngang 7m) theo kiểu một gian rộng (một gian hai chái).

       

 Nhà thờ họ Trần

 Song thân cố GS Trần Văn Giàu

 Gian thờ GS Trần Văn Giàu

Ngôi nhà thờ họ Trần hiện nay được xây dựng chính tại nền ngôi nhà xưa do cha mẹ Giáo sư Trần Văn Giàu xây cất. Theo lời kể của người cháu đời thứ 12 - Trần Văn Khoa, lúc nhỏ thường được ông nội là ông Trần Văn Nuôi - anh ruột của Giáo sư Trần Văn Giàu kể lại: ngôi nhà xưa được cất theo kiểu một căn hai chái bát dần, nhà rộng, mái lợp ngói vảy cá. Hệ thống cột được làm bằng gỗ căm xe, các vì, kèo, rui, mè làm bằng gỗ dầu. Phần trang trí, chạm khắc trong nhà được làm rất công phu, nội thất trưng bày phần lớn được làm từ các loại gỗ tốt và một phần hiện vật trong ngôi nhà xưa hiện vẫn được lưu giữ cho đến hiện nay. Vật liệu xây dựng ngôi nhà thờ hiện nay một phần được tận dụng từ chính ngôi nhà ngôi nhà thuở bé Giáo sư Trần Văn Giàu từng sống.

Ngôi nhà được xây dựng bằng chất liệu hiện đại, sơn màu xanh ngọc, cao khoảng 5m, mái lợp ngói tây. Nền nhà cao 70cm, lát gạch men màu xám trắng, trước nhà có một khoảng sân khá rộng. Cửa chính được làm bằng gỗ căm xe, kiểu cửa 4 cánh đơn giản, hai bên là hai cửa sổ với cùng kiểu dáng và chất liệu. Phía trên cùng là tấm biển với nội dung: “NHÀ THỜ HỌ TRẦN - ÔNG TRẦN VĂN GIÀU LẬP NĂM 1995”.

Bên trong ngôi nhà được thiết kế khá đặc biệt. Đó là một phần ở gian trung tâm được thiết kế có độ lùi về sau khoảng 0,75m, chiều ngang 3m, cao khoảng 1,7m, nền cao 0,3m. Không gian phần lùi dùng để đặt tủ thờ tạo nên một không gian riêng biệt, trang nghiêm, tôn kính. Tủ thờ được làm theo kiểu tủ Gò Công do ông Trần Văn Chơi (thân sinh ông Trần Văn Giàu) mua cùng thời điểm xây dựng ngôi nhà xưa. Tủ làm bằng gỗ giáng hương, màu nâu đỏ. Các họa tiết trang trí tương đối đơn giản nhưng sắc sảo, đường nét thanh thoát.

Phía trên tủ thờ, trên tường là bức họa song thân của Giáo sư, ông Trần Văn Chơi và bà Nguyễn Thị Phụng. Dù những đường nét đã nhuốm màu thời gian nhưng người xem vẫn nhận ra ông cụ mặc một chiếc áo dài đen, đầu đội khăn đóng đen. Mẹ của Giáo sư Trần Văn Giàu mặc chiếc áo dài đen, rộng, cổ tròn thấp, gương mặc đẹp phúc hậu, tóc búi theo kiểu truyền thống của người phụ nữ Nam Bộ. Bức họa phần nào giúp người xem nhận ra những nét đặc trưng trong trang phục người dân  miền Nam cuối thế kỷ XIX.

Giữa tủ thờ bày trí một lư hương và một lư trầm. Hai bên là hai chân đèn gỗ, ngoài ra còn có đĩa trái cây đặt trên chò gỗ và lục bình được bố trí theo qui tắc dân gian “Đông bình Tây quả”.

Hai bên tủ thờ là cặp liễn đối cẩn xà cừ, được làm bằng gỗ mun, kích thước: 250cm x 25cm. Trên liễn cẩn câu đối bằng chữ Hán cùng họa tiết mai, lan, cúc và đôi chim nhỏ. Tuy nhiên, với niên đại từ đầu thế kỷ XX nên cặp liễn đối không còn nguyên vẹn, vết tích của thời gian và sự tàn phá của các loại mối mọt ít nhiều ảnh hưởng đến hiện vật này.

Phía trước tủ thờ là ghế nghi bằng gỗ mun. Đối diện với ghế nghi, ở vị trí giữa nhà là bàn dài. Bên trái gian trung tâm là nơi thờ Giáo sư Trần Văn Giàu, rất trang nghiêm nhưng cũng thật giản dị, mang lại cảm giác ấm cúng, gần gũi mà tôn nghiêm. Tại đây đặt một bàn thờ và một bàn độc. Trên bàn thờ đặt di ảnh Giáo sư Trần Văn Giàu cùng lư hương, hai chân đèn, chò, đĩa trái cây và bình bông. Một nét khá đặc biệt là các đồ vật trên bàn thờ Giáo sư hầu hết đều được làm bằng gỗ mun, trừ chiếc bình bông bằng gốm. Riêng chiếc chò được cẩn xà cừ với các hoạ tiết hoa văn rất đẹp mắt.

Phía sau bàn thờ là bàn độc, trên đó bày trí một hộp kính nhỏ, bên trong những hiện vật đặc biệt có giá trị, là sự ghi nhận của Đảng và nhà nước đối với công lao, tâm huyết và đóng góp của Giáo sư dành cho đất nước. Đó chính là những huân, huy chương được treo trang trọng trên nền vải nhung đỏ thắm, bao gồm: Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương lao động hạng nhất; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng; Huy hiệu anh hùng lao động; Huy hiệu vì sự nghiệp giáo dục.

Sau cùng, trên tường treo tấm ảnh phóng to của Giáo sư cùng người vợ yêu quí. Bên dưới là khung hình con tem phóng lớn do Bộ thông tin truyền thông phát hành nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Giáo sư Trần Văn Giàu.

Bên phải gian trung tâm nhà thờ đặt một chiếc bàn tròn và ghế đi kèm. Dọc hai bên tường treo các vòng hoa do các đồng chí đại diện tổ chức Đảng và Chính phủ kính viếng.

Ngoài những hiện vật vừa nêu hiện khu di tích vẫn còn lưu giữ những đồ vật mà gia đình và Giáo sư đã từng sử dụng như tủ búp phê, tủ đồ cưới, tủ thuốc và nhiều hiện vật bằng gốm.

Nhìn chung, ngôi nhà thờ họ Trần được xây dựng và bày trí đơn giản nhưng rất ấm cúng và trang nghiêm. Bên cạnh nhà thờ là ngôi nhà của ông Trần Văn Khoa, cháu gọi Giáo sư bằng ông chú - người được thừa kế phần đất vườn, cũng chính là người trông nom, chăm sóc nhà thờ họ Trần và khu mộ.

KHU MỘ CỦA GIÁO SƯ CÙNG GIA TỘC

Khu mộ của Giáo sư Trần Văn Giàu và gia tộc được thực hiện theo Quyết định số 272/QĐ - SVHTTDL Long An ngày 18 tháng 4 năm 2011 về việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công .

         

 Mộ GS Trần văn Giàu và vợ

 Toàn cảnh khu mộ và nhà thờ họ Trần

Khu mộ có diện tích: 208m2 (13m x 16m), theo dạng hình chữ nhật, bao quanh là vườn thanh long xanh mát. Khu mộ gồm 06 ngôi mộ, nằm xoay về hướng Bắc được thiết kế cùng kiểu dáng, chất liệu, màu sắc tạo nên một tổng thể hài hòa, tinh tế.

Lối vào khu mộ khá rộng, được tráng xi-măng thẳng tắp. Mặt bằng bố trí theo trình tự từ ngoài vào là mộ Giáo sư Trần Văn Giàu và bà Đỗ Thị Đạo (kích thước 3,34m x 2,73m);  Mộ ông Trần Văn Nuôi - người anh ruột thứ 5 của Giáo sư; Mộ ba và mẹ Giáo sư Trần Văn Giàu; cuối cùng là mộ ông Trần Văn Bái - cháu ruột Giáo sư.

Mộ của Giáo sư Trần Văn Giàu và vợ - bà Đỗ Thị Đạo nằm ở vị trí đầu tiên từ ngoài vào, thân mộ có dạng hình chữ nhật, ốp đá granite đen Ấn Độ, chân mộ ốp đá granite màu xám ngà.

Mặt đứng chính mộ Giáo sư Trần Văn Giàu và bà Đỗ Thị Đạo có kích thước 2,78m x 1,96m, ốp đá granite đen Ấn Độ. Bia mộ được làm bằng đá trắng Na Uy hình chữ nhật, kích thước 50cm x 70cm, hai chữ “phần mộ” được đặt trang trọng bên trong cuốn thư, bên dưới là quốc huy nước Việt Nam cách điệu với hình bông lúa, bên trong là di ảnh của Giáo sư Trần Văn Giàu. Bên dưới ảnh khắc chữ với nội dung: “Giáo sư Trần Văn Giàu đời thứ 10 sinh ngày 11-9-1911 từ trần ngày 16-12-2010 nhằm ngày 11 tháng 11 năm Canh Dần hưởng thọ 100 tuổi”. Toàn bộ hình ảnh và chữ trên thân bia nằm trong khung viền có hoa văn hình học ở bốn góc, chữ và các họa tiết có màu đỏ nổi bật trên nền đá trắng.

Trước mỗi ngôi mộ đặt một lư hương bằng đá màu trắng - được thực hiện bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân điêu khắc đá ở Đà Nẵng - làng điêu khắc đá Non Nước nổi tiếng.

Các phần mộ còn lại của gia đình cố Giáo sư hầu như được thiết kế và xây dựng giống với phần mộ của Giáo sư Trần Văn Giàu.

Ngoài ra, bao bọc xung quanh khu mộ là các cây hoàng nam, mai chiếu thủy kết hợp với các loại cây xanh, sứ trắng, bông giấy, ắc ó… được tạo dáng và sắp đặt khéo léo tạo nên mảng cây xanh cho khu mộ.

Với thiết kế đơn giản nhưng tinh tế kết hợp với vật liệu xây dựng đẹp, quý hiếm và bền vững trong một không gian thoáng đãng, gần gũi thiên nhiên nên mộ Giáo sư Trần Văn Giàu và vợ nói riêng, khu mộ của Giáo sư và gia đình nói chung mang một vẻ đẹp trang nghiêm, tôn kính nhưng vẫn thật bình dị, hài hoà với cuộc sống của người dân quê hương ông.

Với những giá trị văn hóa, lịch sử tiêu biểu, Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 23 tháng 8 năm 2012.

Di tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu - địa điểm lưu niệm nhà cách mạng, nhà giáo nhân dân, nhà khoa học lỗi lạc - mà cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng cho hậu thế. Với những giá trị văn hóa, lịch sử quí báu Khu lưu niệm sẽ là nơi nghiên cứu, tham quan tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của một bậc hiền tài nói riêng, truyền thống lịch sử, văn hóa địa phương, nước nhà nói chung. Trong tương lai, với việc lập dự án quy hoạch và tôn tạo Khu lưu niệm gồm quần thể khu mộ của Giáo sư và gia tộc, nhà thờ, nhà trưng bày về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư cùng những hạng mục khác... Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu sẽ là một trong những điểm đến lý tưởng cho những chuyến về nguồn, tham quan tìm hiểu văn hóa, lịch sử tỉnh nhà, góp phần không nhỏ vào công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau./.

Bài, ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

17/10/2012 2:01 SAĐã ban hànhApproved
Bến Lức: Nâng cao văn hóa đọc cho học sinh tiểu học  Bến Lức: Nâng cao văn hóa đọc cho học sinh tiểu học 

Để tạo cho học sinh có thói quen tiếp xúc hàng ngày với tri thức mới qua những trang sách, thì việc xây dựng không gian văn hóa đọc trong trường học là hết sức quan trọng. Ý thức được điều đó, các trường học trên địa bàn huyện Bến Lức đã có những phương pháp tổ chức thiết thực để khơi dậy văn hóa đọc trong học sinh, trong đó đặc biệt chú trọng việc phát triển và đổi mới hệ thống thư viện xanh.

Nhiều năm trở lại đây, Trường Tiểu học Thạnh Đức đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền để mỗi học sinh nhận thức được vai trò của sách đối với việc học tập và cuộc sống; giúp các em hiểu rằng sách là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, một cuốn sách tốt giống như một người bạn hiền… Xuất phát từ mục đích đó, nhà trường đã đầu tư và xây dựng hệ thống thư viện nhằm đưa văn hóa đọc đến gần hơn với từng học sinh. Ngoài thư viện chung, nhà trường còn triển khai hiệu quả mô hình thư viện xanh. Tận dụng không gian nhỏ ở  góc sân trường, nhà trường bố trí nhiều giỏ sách nhỏ cùng hoa trên những dãy bàn, ghế được sắp xếp ngay ngắn để thu hút các em học sinh ngồi đọc trong giờ ra chơi và trong các tiết học đọc sách theo quy định của nhà trường. Hiện nay, nhờ làm tốt công tác xã hội hóa mà thư viện của trường đã có 6.674 quyển sách các loại như: đạo đức, khoa học, văn học, lịch sử, kỹ năng sống và ngoại ngữ, truyện thiếu nhi... giúp cho các em học sinh tự tìm đọc những cuốn sách mà mình yêu thích.

11-10-2018 Mô hình Thư viện xanh của trường Tiểu học Thạnh Đức Hinh 5.JPG

11-10-2018 Mô hình Thư viện xanh của trường Tiểu học Thạnh Đức Hinh 6.JPG

11-10-2018 Mô hình Thư viện xanh của trường Tiểu học Thạnh Đức Hinh 7.JPG

Hình 1,2,3: Mô hình Thư viện xanh của Trường Tiểu học Thạnh Đức

Để định hướng văn hóa đọc cho học sinh, giúp các em có niềm say mê với việc đọc sách và thực hiện theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo, nhà trường đã sắp xếp thời khóa biểu với 1 tiết/1 tuần để học sinh đọc sách tại thư viện nhà trường. Ngoài ra, trường còn thường xuyên lồng ghép tổ chức những hoạt động như: Thi giới thiệu sách, thi kể chuyện, đọc thơ trong các buổi sinh hoạt tập thể của các khối lớp,… Chính nhờ những hoạt động thực tiễn này đã giúp văn hóa đọc có thêm sự lan tỏa trong các em học sinh nhà trường, qua đó cũng truyền thói quen tốt tới gia đình các em.

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức 1.JPG

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức hinh 2.JPG

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức hinh 3.JPG

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức hinh 4.JPG

Hình 4,5,6,7: Tiết học tại thư viện trường học của học sinh lớp 4,
Trường Tiểu học Thạnh Đức

Ông Nguyễn Thành Được, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thạnh Đức, huyện Bến Lức cho biết: "Việc học tập, tìm hiểu tri thức bộ môn và cuộc sống qua kênh sách bằng hình thức đọc tuy là phương pháp truyền thống nhưng không hề cũ đối với người học. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện, nhà trường đã đưa hoạt động văn hóa đọc trở thành những nội dung ngoại khóa bổ ích tới học sinh. Văn hóa đọc góp phần hình thành nhân cách, giúp các em phát triển toàn diện cả về giáo dục và trí dục. Những trang sách hay mở ra cho các em những thế giới muôn màu, hướng các em biết yêu cái đẹp, biết cảm thụ cái đẹp. Song song đó, hoạt động đọc sách còn hỗ trợ rất nhiều đến quá trình dạy và học của thầy và trò. Đặc biệt để hưởng ứng "Tuần lễ học tập suốt đời", diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 07/10/2018 nhà trường còn tổ chức cho các em nói chuyện về các vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Với những buổi nói chuyện như vậy, học sinh được cập nhật thêm nhiều kiến thức phong phú, truyền cho các em tình yêu với tri thức. Bên cạnh đó, trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa những nội dung như: phòng cháy chữa cháy, an toàn giao thông, tuyên truyền về phòng chống xâm hại tình dục đối với trẻ em… cũng được lồng ghép tuyên truyền và cập nhật tới từng đối tượng học sinh".

Xây dựng thư viện trong các trường học, không chỉ giúp các em học sinh trau dồi kiến thức, khơi gợi cho các em sở thích đọc sách, mà đây cũng là một trong những tiêu chí xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực góp phần tạo môi trường xanh, sạch đẹp nâng cao chất lượng giáo dục./. 

Việt Hằng

17/10/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)TRẬN CÔNG ĐỒN TÂY DƯƠNG (đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu 16/12/1861)

    Đầu năm 1859, sau khi vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, thực dân Pháp bỏ dở cuộc tấn công Đà Nẵng để kéo quân vào đánh chiếm Nam Kỳ. Ngày 19/2/1861, thành Gia Định thất thủ, triều đình Huế cử Nguyễn Tri Phương làm Thống đốc quân vụ đại thần vào Nam xây dựng đại đồn Chí Hòa để ngăn chặn quân Pháp, không cho chúng đánh ra lục tỉnh Nam Kỳ. Ngày 24/2/1861, Pháp tăng cường lực lượng phá vỡ đại đồn Chí Hòa rồi tiến quân đánh chiếm Mỹ Tho, Tân An, Cần Giuộc, Gò Công, Rạch Kiến. Để bảo vệ tấc đất ngọn rau mà cha ông đã dày công khai phá, nhân dân phủ Tân An đã dựng cờ kháng chiến dưới sự lãnh đạo của các thân hào, nhân sĩ địa phương như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phạm Tuấn Phát…Ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu L’Espérance tại Vàm Nhựt Tảo, mở đầu cho những trận công kích vào giặc Pháp ở Nam Kỳ. Đêm rằm tháng mười một năm Tân dậu (16/12/1861), nghĩa quân đồng loạt tấn công vào các đồn giặc ở Cần Giuộc, Gò Công và Tân An. Tại Cần Giuộc, nghĩa quân đã đánh úp đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình, đốt nhà thờ, giết viên tri huyện người Pháp và một số lính Mã-tà, Ma-ní. Giặc Pháp phải huy động tàu chiến đến sông Cần Giuộc bắn đại bác dữ dội lên đồn mới đẩy lui được nghĩa quân. Trong trận này, 15 nghĩa quân đã hy sinh, trong đó phần nhiều là người làng Mỹ Lộc (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc). Thi hài của các nghĩa sĩ này được chôn cất tại khu lau sậy sầm uất gần chợ Trường Bình (nay là khu vực Hồ nước Cần Giuộc). Nhân dân còn xây một miếu nhỏ để làm nơi thờ phượng các nghĩa sĩ trận vong nhưng nói tránh đi là Miếu Cô hồn để thực dân Pháp khỏi dòm ngó. Về sau, giặc Pháp biết được nên bắt dân phá miếu, đào mồ mã, nạo vét thành hồ nước.

    Xúc động trước tấm lòng dũng cảm và sự hy sinh oanh liệt của những người nghĩa sĩ nông dân, Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên áng văn bất hủ”Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Với lời lẽ vô cùng bi tráng, thống thiết, kiệt tác văn chương này đã làm rung động mãnh liệt tâm hồn, tình cảm của nhân dân cả nước. Bằng ngòi bút tài hoa với những hình tượng văn học độc đáo, mỹ lệ của Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên, người nông dân chân lấm tay bùn, rất mực bình thường, chỉ biết ‘cui cút làm ăn” bổng trở thành những anh hùng cứu nước. Đây chính là tượng đài lịch sử mà ông đã dựng lên để tôn vinh tinh thần yêu nước quên mình của những người “dân ấp, dân lân” cho sự sống còn của dân tộc và Tổ quốc. Những nghĩa sĩ này, thời bình là người nông dân, chưa bao giờ biết tới cảnh chiến tranh, máu lửa. Nhưng tiếng súng giặc đã vang rền trên bầu trời Gia Định, gót giày đinh của giặc đang giày xéo mồ mả cha ông nên họ phải đứng lên kháng chiến để bảo vệ ngọn rau, tấc đất mà bao thế hệ đi trước đã dày công khai phá. Những người “dân ấp, dân lân” này chỉ với một manh áo vải, một ngọn tầm vông đã dám đương đầu với một kẻ thù hùng mạnh, có trong tay nhiều tàu to, súng lớn. Họ chiến đấu với một tinh thần dũng cảm mà muôn đời sau phải cúi đầu kính ngưỡng:

Chi nhọc quan quản đánh trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc như không.

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã-tà, Ma-ní hồn kinh.

Bọn hè trước, lũ ó sau, nào sợ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”.

Là những người trọng nghĩa, luôn nhớ câu “Kiến nghĩa bất vi” của thánh hiền, họ sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chiến đấu tới cùng vì chân lý “Chết vinh hơn sống nhục”:

Thà chết mà đặng câu địch khái, theo cùng tổ phụ cũng vinh.

Hơn sống mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

Tinh thần ấy, khí tiết ấy của những người nghĩa sĩ nông dân còn mãi với thời gian, dù trận công đồn Tây Dương đã “một trận khói tan” nhưng vẫn “ngàn thu tiết rỡ”. Có thể nói rằng, cùng với ánh trăng rằm tháng 11 năm xưa, tấm lòng son của người nghĩa sĩ nông dân mãi mãi sáng soi trong tâm hồn của biết bao thế hệ tiếp nối. Cũng từ đó, hình tượng của những nghĩa sĩ nông dân này đã trở thành một tượng đài sừng sững trong lòng của mỗi người dân nước Việt.

Kế tục truyền thống chống ngoại xâm của những người nghĩa sĩ nông dân ấy, nhân dân Long An đã viết tiếp những trang sử vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, thà chết vinh hơn sống nhục của cha ông năm xưa đến hôm nay được làm sáng tỏ thêm bởi  chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của thời đại Hồ Chí Minh và được người Long An phát huy cao độ thành truyền thống “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”. Với ý nghĩa ấy,  trận công đồn Tây dương đêm rằm tháng 11 năm Tân dậu cùng với tinh thần và khí phách của người Nghĩa sĩ Cần Giuộc xứng đáng được  thệ hệ hôm nay và mai sau, kế thừa, phát huy hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

14/12/2011 7:30 SAĐã ban hànhApproved
BẢO TÀNG - THƯ VIỆN TỈNH LONG AN TIẾP NHẬN HIỆN VẬT QUÝ TỪ NHÀ SƯU TẬP NGUYỄN NGỌC ẨN BẢO TÀNG - THƯ VIỆN TỈNH LONG AN TIẾP NHẬN HIỆN VẬT QUÝ TỪ NHÀ SƯU TẬP NGUYỄN NGỌC ẨN

Những ngày cuối năm 2018, chúng tôi những người làm công tác ở Bảo tàng - Thư viện tỉnh vui mừng đón nhận hàng trăm hiện vật quý trao tặng từ nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Ẩn - người được mệnh danh là "vua đồ cổ" xứ biển Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn (áo bông) cùng đoàn công tác Bảo tàng - Thư viện tỉnh.JPG

Ông Nguyễn Ngọc Ẩn (áo bông) cùng đoàn công tác Bảo tàng - Thư viện tỉnh

Vượt qua gần 300 cây số, không khó đoàn công tác đã tìm đến nhà ông Ẩn, đón chúng tôi trong tâm trạng vui vẻ, thoải mái, thăm hỏi nhau đôi chút về công việc, gia đình và sau đó ông bắt đầu tìm kiếm, lựa chọn trong "kho báu" cổ vật của mình, tận tay trao tặng hàng trăm hiện vật quý cho đoàn. Trải qua 5 ngày làm việc, chiêm ngưỡng 555 hiện vật, ông Ẩn kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện hấp dẫn về những hiện vật quý giá ấy: đó là sự trang trí cầu kỳ của những chiếc bình (gốm Lái Thiêu, Sài Gòn), bộ chén - dĩa - tô (cuối thế kỷ XIX - XX), những chiếc vòng mã não xinh xắn, sự óng ánh của những vòng tay đồng, hoa tai vàng, cùng những chuỗi tay, chuỗi cổ của dân tộc Mạ, những chiếc nhẫn Mư ta ân tình của dân tộc Chăm, những đồng tiền xu thời xa xưa của các vị vua Đồng Khánh, Bảo Hưng, Thành Thái, Thiệu Trị, Minh Mạng… Mỗi hiện vật đều có một công năng, một giá trị, một giai đoạn lịch sử cụ thể thật sinh động. Tất cả đã được thu thập, ghi nhận làm cơ sở khoa học, pháp lý cho hiện vật đưa vào bảo tàng lưu trữ, trưng bày. Kết thúc những câu chuyện ấy là những lời cám ơn chân thành, những cái bắt tay và cái ôm thấm thía nói lời chào tạm biệt… Đó là một chuyến đi tìm về những cổ vật thật trọn vẹn và đầy ý nghĩa.

Bình có vòi, đầu thế kỷ XX.jpg

Bình có vòi, đầu thế kỷ XX

Bình gốm Lái Thiêu.jpg

Bình gốm Lái Thiêu

Khuyên tai lò xo của người Mạ.jpg

Khuyên tai lò xo của người Mạ

Vòng tay của người Mạ.jpg

Vòng tay của người Mạ

Tạm biệt "vua đồ cổ" xứ biển Mũi Né, trên đường về, tôi thầm nghĩ vui Xuân Kỷ Hợi 2019, vẫn không quên nhiệm vụ sẽ tiếp tục hoàn thiện linh hồn cho 555 hiện vật quý mà ông Ẩn trao tặng, để Bảo tàng - Thư viện tỉnh tổ chức lễ tiếp nhận, bàn giao, bảo quản, lưu giữ, và trưng bày ra mắt công chúng nhân kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019) và Quốc tế lao động 1/5./.

Tin: Th. Lan

Ảnh: Kim An

01/02/2019 8:00 SAĐã ban hànhApproved
CÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG ANCÓ MỘT SƯU TẬP NÔNG CỤ TRUYỀN THỐNG Ở BẢO TÀNG LONG AN

Nông cụ là những dụng cụ để làm nghề nông, phong phú và đa dạng nhất là các loại nông cụ sử dụng trồng lúa thủ công. Từ xa xưa, với tập quán canh tác lúa nước, lưu dân người Việt trong hành trình mở cõi về phương Nam đã mang theo những nông cụ truyền thống của quê nhà đến vùng đất mới. Đất mới trù phú nhưng vẫn còn hoang vu rậm rạp, muốn khai phá có hiệu quả, lưu dân đã phải thay đổi, chế tác thêm các nông cụ mới cho phù hợp với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng… Rồi dần về sau, hệ thống nông cụ ấy đã được bổ sung, chỉnh sửa, cải tiến để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất. Quá trình ấy trải qua hàng trăm năm thủ công, nên các nông cụ ngày nay mang tính truyền thống, nông cụ truyền thống là vậy.

Long An- vùng đất trù phú về các sản phẩm nông nghiệp trong đó có đặc sản nổi tiếng gạo nàng thơm Chợ Đào với hạt gạo trắng ngần, cơm ngon thơm dẻo. Nhưng mỗi khi ăn bát cơm ấy có mấy ai hiểu hết được hạt gạo làm ra từ đâu, bằng cách nào và bằng cái gì? Một điều chắc chắn rằng không thể thiếu đôi chân lấm, tay bùn của người nông dân cùng những cái cày, cái bừa, cái phảng, cái cộ... Đến Bảo tàng Long An, xem sưu tập nông cụ truyền thống mà ở đó mỗi nông cụ gắn với những chuyện kể về đặc điểm, cách sử dụng cũng như kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân ở địa phương.

 Sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng có trên 40 công cụ, bài viết này chỉ đề cập đến 5 nhóm nông cụ chủ yếu được sử dụng để dọn cỏ, làm đất, gieo cấy, đưa nước vào ruộng và thu hoạch lúa.

PhangCoCo.jpg

Phảng, cù nèo- nông cụ dọn cỏ hữu hiệu.

Cây phảng là nông cụ đặc dụng ở vùng ruộng bưng, có nước sâu, nhiều cỏ. Tùy theo hình dáng của phảng mà người ta đặt tên gọi: phảng cổ lùn thích hợp với ruộng có ít nước, phảng cổ cò phổ biến ở vùng Đồng Tháp Mười, phảng giò nai được nông dân vùng Cần Đước, Cần Giuộc sử dụng, phảng gai được dùng chủ yếu để chặt, chém hay phát cỏ bờ, cỏ ruộng. Tùy theo tính chất chuyên dùng và kinh nghiệm của người sử dụng thì cây phảng mới có thể phát huy được công năng của nó: nếu phát cỏ bờ thì hai tay cầm phảng, đưa lên cao để lấy đà và chặt xuống mép bờ bên trái, vừa chặt vừa lùi dần. Còn khi phát cỏ ruộng thì vung phảng và khom lưng sao cho lưỡi nằm ngang dưới nước, song song với mặt nước, lia lưỡi phảng nương theo nước, lướt tới mà không nghiêng lưỡi để bị nước cản, hạn chế lực của nhát chém. Theo ghi nhận của Trịnh Hoài Đức thì ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XIX với lối làm ruộng trên ruộng cỏ (thảo điền) có bùn sâu, không dùng trâu cày mà chỉ "phát chặt năn lác, cào cỏ đắp bờ rồi cấy" (1). Điều này cũng phù hợp với công năng của chiếc phảng được các lão nông ở Cần Đước khẳng định: trước đây, chiếc phảng cổ cò được dùng để phát cỏ, dọn đất sạch trước khi cấy. Khi ấy, ruộng chỉ làm lúa một vụ và cho đến khi làm hai vụ thì cây cỏ ít có điều kiện phát triển nên cái phảng cũng đã nhường chỗ cho cái cày trong khâu làm đất.

Nhắc đến cây phảng phát cỏ, thì nó phải đi kèm với cây cù nèo móc cỏ. Cù nèo có cán bằng gỗ, nối với cổ và lưỡi bằng sắt, vòng lưỡi như lưỡi liềm (lưỡi hái). Tay phải dùng phảng phát một nhát thì tay trái cầm cù nèo móc số cỏ đã đứt lìa gốc, kéo gom một chỗ cho trống chân cỏ để tiếp tục phát nhát phảng kế tiếp.

CayDoi.jpg

Cày, bừa, trục- nông cụ làm đất.

Con trâu đi trước, cái cày đi sau là hình ảnh thân quen thường xuất hiện trên những cánh đồng quê Việt Nam. Sự hiện diện của cái cày đã giải phóng phần nào sức lực cho con người. Để có thể làm ruộng trên vùng đất có địa hình, thổ nhưỡng phức tạp như vùng đất Long An, người nông dân đã tiếp nhận và sử dụng nhiều loại cày có công năng kỹ thuật khác nhau. Đó là kết quả của nhiều năm cải tạo đất, giao lưu văn hóa với các vùng miền để có được chiếc cày phù hợp. Vùng Cần Đước và Đồng Tháp Mười (Long An) thường sử dụng loại cày đỏi, cày đoạn... để xới đất, lật các lớp trên của đất, đem chất dinh dưỡng mới lên bề mặt và chôn lấp cỏ dại để chuẩn bị bước đầu cho gieo sạ. Với chiếc cày đỏi, nông dân Cần Đước thường dùng người mà không dùng trâu để kéo, vì đất quá lầy lội, sụp lún trâu rất khó đi nhưng nhờ đất mềm nên có thể dùng năm sáu người để kéo thì có hiệu quả hơn (2).

Bừa có đặc điểm chung là kết cấu đơn giản, chất liệu chủ yếu bằng gỗ và tre và thường do người nông dân tự làm. Đây là nông cụ để làm tơi những luống đất mà cái cày lật lên trước khi sạ lúa.

 Trục là nông cụ dùng để cán, nhận cỏ ruộng hoặc dùng để băm nhuyễn đất cày. Giống như nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất Long An thường sử dụng loại trục khía (trục trái khế ) và trục chông. Theo kinh nghiệm của các lão nông nơi đây thì với ruộng bùn sâu có thể dùng kỹ thuật trục nhận, trục đi trục lại nhiều lần để nhấn cỏ chìm sâu khỏi mặt đất, rồi mới cấy lúa.

Ván mạ, nọc chày - nông cụ gieo cấy.

Ván mạ là một tấm ván chuyên dùng được nối với cái cày và ách đôi cho trâu kéo để chở mạ (thay vì gánh mạ) rải đều trên ruộng. Khi xếp mạ lên ván người ta thường xếp quay đầu bó mạ vào trong và đưa rễ ra ngoài, xếp cao hơn đầu người và chỉ cần 4 ván mạ là đủ số mạ cấy cho 1 mẫu đất. Ngày trước, khi làm lúa mùa, tép mạ lớn, bó mạ to và nặng nên phần lớn nông dân không gánh mà dùng ván cho trâu kéo về ruộng. Ngày nay, nông dân áp dụng kỹ thuật sạ lúa và trồng lúa ngắn ngày (tép mạ thấp, bó nhỏ và nhẹ) nên ván mạ hầu như không còn sử dụng.

Nọc cấy gắn liền với đời sống của người nông dân Nam Bộ vào những năm đầu khai phá đất hoang, phát cỏ xong, đất vẫn còn gốc cỏ, rễ cây mọc tua tủa và bén ngót nên không thể dùng tay để cấy mà dùng nọc tạo lỗ rồi cắm mạ xuống. Vùng Đồng Tháp Mười (Long An), ruộng có nước sâu, mạ tốt nên nông dân sử dụng loại nọc cổ bồng để chọc lỗ cấy, còn vùng Cần Đước sử dụng loại nọc chày và nọc nhánh. Nọc chày có cán dài nối liền với phần nọc to ra và đầu nhọn để chọc lỗ cấy ở nơi đất rẫy, lầy lội. Người chọc lỗ cấy thường là nam sẽ đi giật lùi, chọc lỗ theo hàng ngang để người đi sau cấy vào lỗ. So với đồng bằng sông Cửu Long, Cần Đước là nơi mà cây nọc cấy có hình dáng khá đẹp: dài, có cán cong vút, đầu nọc khá cầu kỳ, mang tính thẩm mỹ cao (3).

GauVai.jpg

Gàu giai, xa quạt nước- nông cụ đưa nước vào ruộng.

Gàu giai được đan bằng tre, có 4 thanh tre kẹp ở miệng, đáy và hai bên cho cứng, 4 đoạn dây được nối ở 2 bên miệng và đáy gàu. Tác nước bằng gàu giai phải có 2 người cùng cầm 2 đoạn dây và hạ gàu xuống rồi múc nước, kéo lên đổ vào ruộng.

Xa quạt nước có cấu tạo là một trục gỗ dài, mỗi đầu trục gắn các chân đạp, ở giữa trục có 8 cánh quạt. Bộ phận dẫn nước đặt dưới trục gồm 2 thanh gỗ đặt song song có gắn chân và mang theo môt cái ống để hứng nước.  Dùng xa quạt để dẫn nước vào ruộng phải có 2 người, đứng trên chân đạp ở 2 đầu trục, đi giật lùi làm cho trục quay, đưa nước vào lồng máng.

BoDapLua.jpg

Vòng hái, bồ đập lúa- nông cụ thu hoạch.

Vòng hái được làm bằng loại gỗ nhẹ và chắc, có cán dài, trên thân khoét một cái rãnh để cắm lưỡi hái. Lưỡi hái cấu tạo theo dạng răng chấu rất bén. Vòng hái phù hợp việc gặt lúa mùa, thân cao. Khi nông dân chuyển sang trồng lúa ngắn ngày, thân thấp, bụi nhỏ thì chỉ cần sử dụng phần lưỡi hái để cắt lúa. Sau đó là đến lưỡi liềm, với lưỡi dài hơn lưỡi hái cũng được người nông dân sử dụng trong việc cắt lúa. Lưỡi hái, lưỡi liềm thay thế vòng hái, lúa cắt trên đồng được rãi thành hàng, người nông dân không phải cộ lúa về nhà mà đã có cách lấy hột lúa ngay tại ruộng, và bồ đập lúa đã xuất hiện.

Bồ đập lúa cấu tạo có 2 chân để trượt trên đồng cùng phần che 3 phía để lúa khỏi văng ra ngoài khi đập, bộ phận bàn đập là những thanh gỗ tròn song song. Khi đập lúa, người đập nắm chặt bó lúa nhỏ bằng cái kẹp đập mạnh vào bộ phận bàn đập sao cho hạt lúa văng vào bồ.

Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, canh tác nông nghiệp đang từng bước chuyển sang cơ giới hóa, máy móc đã được thay thế sức người, sức vật, sức kéo. Từ đó, các nông cụ thô sơ bị mai một, thậm chí đang dần biến mất khỏi đời sống nông thôn. Có thể rồi mai đây cây phảng khẩn hoang, chiếc nọc cấy của vạn hò… sẽ đi vào dĩ vãng, còn chăng chỉ được tìm thấy trong sách báo, tranh ảnh, trong các nhà bảo tàng. Vì vậy, sưu tập nông cụ truyền thống ở Bảo tàng Long An là rất quý, có ý nghĩa về văn hóa, xã hội. Bộ sưu tập chính là những kỷ vật gắn bó với người nông dân trên vùng đất Long An nói riêng, Việt Nam nói chung một thời lam lũ, làm nên hạt gạo, củ khoai nuôi sống cả dân tộc. Đây là di sản văn hóa của cha ông phải được bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị để nó không bị chìm sâu vào dòng chảy của cuộc sống hiện đại./.

                                                                              Bài, ảnh:  Đỗ Thị Lan

                                                                                                           (Bảo tàng LA)

(1) Gia Định thành thông chí, Sản vật chí, sđd, tờ 3b.

(2) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.121.

(3) Đặng Văn Thắng, Nông cụ truyền thống ở Cần Đước, 1988, tr.140.

15/10/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Cần Đước tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc Cần Đước tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc

Thiết thực chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc, kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018), huyện Cần Đước tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thu hút đông đảo người dân tham gia, tạo khí thế thi đua sôi nổi.

Ngày 14/10/2018, tại UBND xã Long Hòa tổ chức ngày hội văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao với chương trình Hội thi giọng hát hay lần VI năm 2018 thu hút 13 thí sinh đến từ các ấp và các trường học trên địa bàn xã tham gia với nhiều tiết mục hấp dẫn, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, sự đổi mới của quê hương... Song song với việc tổ chức Hội thi giọng hát hay, Ban tổ chức còn tổ chức Hội thi nấu ăn với chủ đề "Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương" thiết thực chào mừng kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10. Tám đơn vị tham gia là 08 mâm cơm được trưng bày bắt mắt với những món ăn chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng. Các đơn vị thể hiện sự khéo léo, không chỉ đẹp về thẩm mỹ, ngon về chất lượng mà còn mang đậm nét truyền thống, mỗi món ăn đều có những ý tưởng độc đáo riêng, thể hiện sự ấm áp và tình yêu thương lan tỏa thông qua bữa cơm gia đình, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc. Ngoài ra để sự giao lưu đoàn kết trong thanh niên của xã, giải bóng đá cũng được tổ chức song song với các hoạt động trên. Tham gia giải có 08 đội bóng ở các ấp và các trường học trên địa bàn xã. Với sự cổ vũ sôi nổi của khán giả, các vận động viên tham gia ngày hội thi đấu nhiệt tình, tạo nên không khí vui tươi góp phần thành công chung cho ngày hội.

17-10-2018 Tiet muc hoi thi van nghe tai ngay hoi.JPG

Tiết mục văn nghệ

17-10-2018 cac thi sinh tham gia phan thi nau an tai ngay hoi.JPG

 Hội thi nấu ăn

17-10-2018 thi dau bong da mini tai ngay hoi.JPG

Thi đấu bóng đá

Ngày hội văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao là một trong những nét đặc trưng của huyện Cần Đước cổ vũ phong trào rèn luyện thân thể và được các xã tổ chức hằng năm nhằm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức và nhân dân địa phương vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khỏe. Đây cũng là hoạt động thiết thực chào mừng 62 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2018), 88 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2018) và 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)./.

Cẩm Tú - Phan Lắm

(Phòng VH, TT và TT Cần Đước)

22/10/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Hướng dẫn trang trí điểm bầu cửHướng dẫn trang trí điểm bầu cử

HUongDanTrangTriDiemBauCu.jpg

HuongDanTrangTriBauCu22.jpg 

HUongDanTrangTriDiemBauCu3.jpg 

HuongDanTrangTriBauCu3.jpg

13/05/2016 5:00 CHĐã ban hànhApproved
CHĂM SÓC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA NHÀ TỔNG THẬN -  BÀI HỌC “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” CHĂM SÓC DI TÍCH LỊCH SỬ- VĂN HÓA NHÀ TỔNG THẬN -  BÀI HỌC “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN”

Vừa qua, Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Tân An phối hợp với Phường 1, Phường 7 và các xã An vĩnh Ngãi, Lợi Bình Nhơn, Hướng Thọ Phú thực hiện chăm sóc, dọn vệ sinh Khu di tích lịch sử - văn hóa Nhà Tổng Thận, nơi ghi ấn thời kỳ lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của tỉnh Long An.

7-10-2020 thanh nien cham soc di tich lich su nha Tong Than hinh 2.jpg

Nhà Tổng Thận là tư gia của Cai tổng Trần Khắc Thận, quê quán tỉnh Quảng Nam, được xây dựng từ năm 1892. Sau khi giành chính quyền thành công tại tỉnh lỵ Tân An vào ngày 22/8/1945, Nhà Tổng Thận được chọn làm trụ sở công khai của Tỉnh ủy Tân An. Nơi đây, Tỉnh ủy tổ chức 3 cuộc hội nghị để bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng về xây dựng chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám ở Tân An. Cuối tháng 10/1945, quân Pháp tấn công Tỉnh ủy Tân An, để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, Tỉnh ủy rút khỏi Nhà Tổng Thận về Mộc Hóa.

Di tích lịch sử - văn hóa Nhà Tổng Thận có ý nghĩa quan trọng về giá trị văn hóa và lịch sử, với những hình ảnh, tư liệu, hiện vật trưng bày trong di tích sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hoạt động của Tỉnh ủy trong cách mạng; lối sống, văn hóa của tầng lớp trung lưu tại Tân An vào cuối thế kỷ XIX. Đồng thời, nơi đây chính là một "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ biết được quá trình đấu tranh cùng những khó khăn, vất vả mà thế hệ cha anh đã trải qua để giành lại độc lập cho nước nhà.

7-10-2020 thanh nien cham soc di tich lich su nha Tong Than hinh 1.jpg

Chăm sóc các di tích lịch sử là hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị xã, phường, các trường học trên địa bàn thành phố, nhằm thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của quân và dân thành phố Tân An nói riêng, tỉnh Long An nói chung. Qua đó, nhắc nhở đến các thế hệ trẻ chúng ta phải nhớ ơn các vị anh hùng dân tộc, các liệt sĩ đã hy sinh xương máu để hôm nay Thành phố Tân An được khoác lên mình một diện mạo mới tốt đẹp hơn./.

Phòng VH và TT Tân An

07/10/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
Kỷ niệm 70 năm chiến thắng trận Mộc Hóa (18/8/1948 - 18/8/2018). Kỳ 1: Bề dày lịch sử - văn hóa vùng đất bưng biền Kỷ niệm 70 năm chiến thắng trận Mộc Hóa (18/8/1948 - 18/8/2018). Kỳ 1: Bề dày lịch sử - văn hóa vùng đất bưng biền

Cách đây 70 năm, chiến thắng trận Mộc Hóa (18/8/1948) - bản anh hùng ca của "Nam Bộ thành đồng, đi trước về sau" đi vào lịch sử như là một trong những điểm son chói lọi nhất trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Vùng đất của chiến công này có một bề dày truyền thống với tên đất, tên người đi vào lịch sử.

10-9-2018 Dong chi Le Duan ve tham Long An 3-1978.jpg

Đ/c Lê Duẩn (áo trắng, ngồi giữa) về lại căn cứ xưa, thăm cơ sở cách mạng
ở xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh trong lần về thăm Long An (tháng 3/1978).
Người ngồi bên phải đ/c Lê Duẩn là má Tám (Nguyễn Thị Thay)

1. Có phải là vùng đất mới?

Tất nhiên là vùng đất mới trong dòng chảy hàng nghìn năm của dân tộc nhưng nơi đây đã có lịch sử lâu đời.

Dù đã sáng rõ hơn nhưng địa danh Đồng Tháp Mười vẫn còn là một ẩn số chưa có giải đáp thỏa đáng. Ngọn tháp canh thứ 10 do Thiên Hộ Dương dựng lên để canh phòng chống giặc Pháp (1864-1866)? Hay ngọn tháp thứ 10 sau 9 tháp khác của vua chúa Khmer dựng lên làm trạm xá? Trên đường khẩn hoang đầu thế kỷ 18, lưu dân người Việt đã gặp tháp cổ đổ nát nhưng còn vết tích biểu hiện của công trình có 10 bậc thang (kiểu như tam cấp)? Hiện người ta nghiêng về lý giải rằng đây là tên gọi chung cho toàn vùng "đất bưng", vùng "trạch" thuộc địa phận tỉnh Định Tường xưa, đã có từ trước và được sử dụng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến của Võ Duy Dương, người Pháp sử dụng chính thức trên Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp, ngày 17/4/1866.

Đã có những di tích khảo cổ học để có thể khẳng định có con người sinh sống ở thời tiền sử muộn trên các gò đất phù sa cổ cho thấy nơi đây từng là địa bàn của một nền văn minh Óc Eo một thời rực rỡ, để rồi sau đó tàn lụi trong lòng châu thổ thấp. Và trước khi lưu dân người Việt đến khẩn hoang lập ấp, nơi đây đã trải qua giấc ngủ dài trong sự hoang vắng không bóng người hàng nhiều thế kỷ mà Châu Đạt Quan, sứ thần Trung Hoa trong Chân Lạp phong thổ ký, thế kỷ XIII, rồi Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, thế kỷ XVI đã ghi lại điều đó.

Trong dòng chảy Nam tiến, do khả năng vật chất, trình độ kỹ thuật và điều kiện nhân lực lúc bấy giờ, ông cha ta đến đây muộn hơn những nơi khác trong tỉnh, nhưng theo Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, đến thời Gia Định phủ (1698-1802), nơi đây gọi là Đầm (Chằm) Mãng Trạch, thuộc dinh Trấn Định, dưới sự thống quản của Gia Định trấn, đã có người buôn bán qua Rạch Chanh, một ít làm ruộng theo lối "đao canh hỏa nậu" ở Bát Đông, giao dịch thổ sản ở bờ sông Bát Chiêng (Kiến Tường).

Sau Bắc Chiêng (sử triều Nguyễn ghi là Bát Chiêng) mà có người cho rằng là được nói trại từ từ ngữ Khmer, rồi đến tên gọi Mộc Hóa thuần Việt hơn cũng chưa có lời giải thích thỏa đáng nhưng chính thức xuất hiện đầu tiên là trên Công báo Nam Kỳ thuộc Pháp với tư cách là một đơn vị cấp tổng, tổng Mộc Hóa, năm 1867 sau khi Pháp chiếm các tỉnh miền Tây Nam Kỳ, xóa ranh hành chính cũ của Nam triều và thiết lập cơ chế hành chính kiểu tham biện (inspection), đến năm 1916 thì nâng lên thành quận, thuộc tỉnh Tân An, rồi tỉnh Mộc Hóa (SL. số 21/NV năm 1956), sau đổi thành tỉnh Kiến Tường (SL. số 143/NV ngày 20-10-1956 của tổng thống VNCH). Sau ngày giải phóng miền Nam, tháng 2-1976, tỉnh Kiến Tường cũ trở thành một huyện của tỉnh Long An mới với tên gọi có từ trước là Mộc Hóa, rồi được chia nhỏ sau nhiều lần tách ra lập các huyện mới Vĩnh Hưng (30-3-1978), Tân Thạnh (19-9-1980), Thạnh Hóa (26-6-1989) và hiện nay là hai đơn vị hành chính mới là thị xã Kiến Tường và huyện Mộc Hóa (18-3-2013).

Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, từ khi ông cha ta đến vùng đất này trong dòng chảy Nam tiến cho đến khi Mộc Hóa - Kiến Tường trở thành những đơn vị hành chính cấp huyện như ngày nay là một tiến trình kết tinh của mồ hôi, xương máu, trí tuệ của nhiều thế hệ tiền nhân. Từ những ngày đầu mang trong mình một hành trang tinh thần bất khuất, vượt chông gai, thử thách vì niềm tin ở vùng đất mới, trải qua thăng trầm lịch sử của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ hào hùng, các thế hệ như dòng nước chảy xuôi của lịch sử, kế tục dần dần để cung cấp những sinh lực mới về mặt chí khí và phong tục tập quán, đã tạo nên những nét độc đáo, phong phú về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội cho vùng đất này. Các thế hệ nơi đây hoàn toàn có thể vinh dự và tự hào khi sống trên mảnh đất có một bề dày lịch sử, từng xuất hiện con người hàng nghìn năm trước, trải qua nền văn minh Óc Eo rực rỡ, tạo lập cơ đồ trong thời đại Hồ Chí Minh, và sẽ vĩnh viễn sống trong lịch sử dân tộc không chỉ vì quá khứ mà còn bắt đầu tự khẳng định đúng là kẻ kế thừa tinh anh của quá khứ từ hôm nay.

2. Truyền thống đánh giặc của cha ông

Ngay từ cuộc chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh, vùng gò nổng rộng lớn Ba Giồng nằm giữa hai huyện Kiến Đăng và Kiến Hưng, Định Tường từng là nơi tụ nghĩa của đảng Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn.

Do là trung tâm Đồng Tháp Mười, giáp Campuchia, Mộc Hóa có vị trí chiến lược tiền tiêu nên từ thời triều Nguyễn đã cho đặt ở đây một đồn lũy để trấn giữ biên giới, gọi là thủ sở Tuyên Oai. Pháp xâm lược, Thiên hộ Dương - Đốc binh Kiều lập căn cứ kháng chiến ở Đồng Tháp Mười, cho xây đồn Tuyên Oai ở Gò Bắc Chiêng (chợ Kiến Tường ngày nay), là một trong những đồn lũy quan trọng nhất của phong trào này trong những năm 1864-1866, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, góp phần làm cho Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười hội nhập trọn vẹn hơn vào dòng chảy lịch sử dân tộc mà còn là kinh nghiệm đầu tiên về xây dựng căn cứ địa cho hoạt động kháng chiến về sau ở vùng đất bưng biền.

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940), lực lượng khởi nghĩa ở Tân An, Chợ Lớn, Gia Định lên khu vực kinh Bo Bo, Mớp Xanh thuộc các làng Thạnh Lợi, Bình Thành, Bình Hòa (bắc Thủ Thừa), trấp Rùng Rình (làng Phong Phú, Mộc Hóa) tiếp tục bắt liên lạc với lực lượng của Cai Lậy, Châu Thành (tỉnh Mỹ Tho) và bộ phận nghĩa quân của Chợ Lớn - Gia Định rút lên Truông Mít (Tây Ninh) trở về, thống nhất thành lập căn cứ Mớp Xanh (hay còn gọi căn cứ Bo Bo) trên một địa bàn rộng khoảng 35km, dài 70 km, nằm giữa hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây tiếp tục duy trì hoạt động, chuẩn bị khởi nghĩa lần hai. Hoạt động của nghĩa quân sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Căn cứ Mớp Xanh (Bo Bo) là tiền đề chuẩn bị cho giai đọan tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám 1945 và vùng đất này trở thành "chiến khu bưng biền" trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược.

Tiền sảnh Bảo tàng Long An có đặt một khẩu thần công nhưng không nhiều người biết nó có một hành trình gắn liền với lịch sử vùng đất Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười, do Chi đội 14 Vệ quốc đoàn tìm được ở Đốc Vàng (Đồng Tháp) - vùng căn cứ xưa của nghĩa quân Thiên hộ Dương - Đốc binh Kiều, nên các chiến sĩ gọi là "Cà nông Minh Mạng".

Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng ở Sài Gòn, báo hiệu cuộc xâm lược nước ta lần hai. Cùng với Nam Bộ, Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười "đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến". Đầu năm 1946, quân Pháp theo sông Vàm Cỏ Tây tiến đánh Mộc Hóa. Đồng chí Trần Văn Trà chỉ đạo Chi đội 14 tổ chức đánh địch tại Vàm rạch Cả Nổ (nay thuộc xã Tân Thành, huyện Mộc Hóa). Khoảng 4 giờ sáng ngày 16/5/1946, đoàn tàu Pháp khoảng 12 chiếc từ Tân An kéo lên Mộc Hóa lọt vào trận địa, khi dừng lại nhổ sào chướng ngại vật để mở đường, khẩu thần công được lệnh làm nhiệm vụ khai hỏa, phát duy nhất trúng mục tiêu làm móp tàu, ta đồng loạt nhả đạn. Địch nổ súng loạn xạ, thoát khỏi trận địa về hướng Mộc Hóa. Ta rút lui về kinh Dương Văn Dương an toàn. Đồng chí Lương - pháo thủ (bộ đội Chi đội 14) hy sinh do bị súng thần công giật trúng người, được nhân dân chôn cất tại chỗ và qui tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện Mộc Hóa năm 1978. Khẩu thần công được nhận chìm tại Vàm Cả Nổ ngay sau trận đánh, sau đó được vớt lên đưa về binh công xưởng ở xã Tân Hòa (thuộc huyện Tân Thạnh ngày nay) vào cuối năm 1946, rồi chôn giấu sau đình chiến (1954). Năm 1959, có người chỉ điểm, địch đào súng lên đưa về quận lỵ Kiến Bình, rồi tỉnh lỵ Kiến Tường, đặt tại công viên chỗ đền thờ Đốc binh Kiều, xây bệ hướng nòng súng ra bờ sông Vàm Cỏ Tây. Đầu năm 1978, Ty Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tiếp nhận súng đưa về đặt ở trụ sở UBND tỉnh, sau đó giao Phòng Bảo tồn bảo tàng - Thư viện tỉnh và cuối là Bảo tàng tỉnh lưu giữ cho đến nay.

Đáng giặc trong thời hiện đại bằng súng thần công đầy chất bi hùng có lẽ chỉ có ở vùng đất này. Đó là phát súng mở màn 9 năm kháng chiến chống Pháp trên vùng Đồng Tháp Mười anh dũng - và có lẽ cũng là tiếng súng cuối cùng của những khẩu thần công lịch sử ở nước ta.

Cho đến trước khi chiến thắng trận Mộc Hóa (18-8-1948), Mộc Hóa từng là một trong những căn cứ địa đầu tiên của Nam Bộ. Sau khi Pháp càn vào Bình Hòa, 5-1946 (nay thuộc xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ), đồng chí Lê Duẩn chỉ thị các cơ quan Xứ ủy, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Tổng hành dinh Khu 7 và các đơn vị bộ đội rút về vùng Bắc Chan, quận Mộc Hóa (nay thuộc xã Tuyên Thạnh, thị xã Kiến Tường) lập căn cứ, trước khi rút về khu vực kinh Dương Văn Dương (7-1946), góp phần làm nên một "Việt Bắc miền Nam" - thủ đô kháng chiến lừng danh của Nam Bộ thành đồng như ý trong thơ của nhà thơ Tố Hữu:

"Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp

Việc Bắc miền Nam, mồ ma giặc Pháp"

(Ta đi tới, Tập thơ Việt Bắc, 1954)

Bề dày truyền thống lịch sử của Mộc Hóa - Đồng Tháp Mười hun đúc nên một chiến thắng Mộc Hóa lừng lẫy về sau này trong cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp./.

            Nguyễn Tấn Quốc

(Còn tiếp)


Kỳ 2: "Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang"

12/09/2018 12:00 CHĐã ban hànhApproved
THỦ THỪA TIẾP TỤC ĐOẠT GIẢI NHẤT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ THỦ THỪA TIẾP TỤC ĐOẠT GIẢI NHẤT HỘI THI ĐỜN CA TÀI TỬ

Sau 3 đêm tranh tài, Hội thi Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An lần thứ 2 thành công tốt đẹp. Chung kết diễn ra vào đêm 31/7.

31-7-2020 Hội thi Đòn ca tài tử (28).JPG

Ban Tổ chức tặng hoa cho các nghệ nhân đờn tại Hội thi

Các tiết mục dự thi năm nay được đánh giá phong phú và có nâng cao về chất lượng, được chuẩn bị chu đáo. Thí sinh thể hiện tốt năng lực nghệ thuật của mình, nhiều bài bản truyền thống, bài bản tổ được thể hiện khá tốt. Đặc biệt, số lượng tài tử đờn tham gia phần thi độc tấu tăng cao. Các thí sinh tham gia đa dạng về độ tuổi, có nhiều nhân tố trẻ.

31-7-2020  Hội thi Đòn ca tài tử (21).JPG

Tiết mục độc tấu đoạt giải nhất tại Hội thi

Hội thi năm nay có sự tham gia của 160 thí sinh với 138 tiết mục đờn, ca về chủ đề ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh liệt sĩ cũng như những thành tựu về kinh tế, xã hội, phong trào xây dựng nông thôn mới. Sau thời gian tranh tài, Ban giám khảo chọn ra 33 tiết mục vào đêm chung kết.

31-7-2020 Hội thi Đòn ca tài tử (3).JPG

Ban Tổ chức trao giải cho các tiết mục độc tấu

Kết thúc hội thi, huyện Thủ Thừa đoạt giải Nhất toàn đoàn. Ban Tổ chức cũng trao 2 giải Nhất, 3 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi Bài bản tài tử; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi độc tấu; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì và 4 giải Ba cho phần thi nhịp 16; 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba cho phần thi vọng cổ nhịp 32; 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 2 giải Ba cho phần thi các bài Ngự.

Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao giải cho các tiết mục chủ đề Nông thôn mới, chủ đề về Mẹ, Bác Hồ, thương binh liệt sĩ,… cùng các giải dành cho thí sinh nhỏ tuổi nhất, lớn tuổi nhất và tác phẩm sáng tác về nông thôn mới hay nhất./.

Theo Báo Long An Online

http://baolongan.vn/thu-thua-tiep-tuc-doat-giai-nhat-hoi-thi-don-ca-tai-tu-a99679.html

01/08/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Sông Bảo Định xưa và naySông Bảo Định xưa và nay

Mỗi khi nhắc đến Long An, dù gần hay xa, du khách thường nghĩ ngay đến một Long An trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc, nhớ đến  dòng Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đi vào thơ ca, nhạc họa. Nhưng ít người biết đến một dòng sông có lịch sử lâu đời, được vua Gia Long đặt tên và cũng là con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới - chiếc xáng múc. Đó  là  sông Bảo Định.

Sông Bảo Định tục gọi là kênh Vũng Gù, là thủy lộ nối liền rạch Vũng Gù (Tân An) với rạch Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang. Kênh do Nguyễn Cửu Vân - danh tướng, triều thần đời chúa Nguyễn Phúc Chu (nhà Hậu Lê) - chỉ huy đào năm 1705 nhằm mục đích giao thông và phòng vệ. Sau một thời gian dài, con kênh dần bị bồi lấp, thuyền lớn phải đợi nước đầy mới đi được. Vì vậy, ngày 28 tháng giêng (âm lịch) năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long đã sai quan trấn thủ Định Tường là Bửu Thiện hầu Nguyễn Văn Phong lo việc nạo vét và nới rộng dòng chảy con kênh này.

Theo sử liệu, ngoài Nguyễn Văn Phong còn sự trợ giúp của Phó tổng trấn Gia Định thành là Huỳnh Công Lý và vài viên quan khác nữa đã huy động 9.679 dân tráng trong trấn, chia làm ba tốp, thay nhau nạo vét. Dân phu làm thì được cấp cho mỗi người một quan tiền và một vuông gạo để chi dùng trong một tháng

Công trình cải tạo con kênh được tiến hành trong khoảng hơn ba tháng, khởi công ngày 23 tháng 2 năm 1819 và kết thúc ngày 28 tháng 5 năm 1819. Bảo Định trở thành con kênh đào đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long, được vua Gia Long đặt tên là Bảo Định hà (sông Bảo Định) và cho phép Huỳnh Công Lý được dựng bia ghi công ở bên bờ kênh gần chợ Thang Trông. Năm Ất Tỵ (1835), vua Minh Mạng cho đổi tên lại là Trí Tường giang (sông Trí Tường), có tạc bia đá dựng nơi bờ sông thôn Phú Kiết. Đời vua Thiệu Trị, không rõ năm nào, lại đổi tên thành sông An Định.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, sông Bảo Định trở thành nơi ghi dấu sự kiện lịch sử “Bảo Định hà lưu huyết”. Cuối tháng 3/1861, quân Pháp từ Vũng Gù theo kinh Bảo Định đánh chiếm thành Định Tường. Nguyễn Trung Trực - người hoạt động trong đạo quân đồn điền của Trương Định ngay từ buổi đầu tiên, lúc bấy giờ giữ chức Quyền Sung Quản Binh Đạo, hoạt động kháng Pháp tại địa bàn Phủ Tân An - đã chỉ huy nghĩa quân chặn đường hành quân của giặc Pháp, diệt tên chỉ huy là trung tá Bourdais và 30 lính. Paulin Vial, trong tác phẩm Historie de la Cochichine đã viết: “ Chưa có cuộc hành quân nào ở Nam Kỳ mà mệt nhọc và bị nhiều người chết chóc bằng cuộc hành quân này...”

Đến năm 1867, quân Pháp đã dùng máy xáng để mở rộng kênh này và cho đổi tên là Arroyo de la Poste (kênh Bưu Điện). Bảo Định trở thành con sông đầu tiên ở Nam Bộ được đào bằng phương tiện cơ giới là chiếc xáng múc. Toàn bộ con sông dài 22km, nối liền sông Vàm Cỏ Tây khu vực thành phố Tân An với sông Mỹ Tho, riêng đoạn nằm trên địa phận Long An dài 7km.

Kể từ khi hoàn thành, sông Bảo Định luôn giữ một vai trò quan trọng về các mặt: quân sự, thủy lợi, giao thông và cung cấp một phần nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng.

Hơn 3 thế kỷ đã trôi qua, sông Bảo Định đã có nhiều thay đổi. Đoạn nối liền sông Vàm Cỏ Tây - khu vực thành phố Tân An - không còn cảnh trên bến dưới thuyền mà thay vào đó, hai bên bờ sông phố xá đông đúc, dân cư sinh hoạt, buôn bán tấp nập. Dọc theo bờ sông là các công trình văn hóa, công viên, khu vui chơi giải trí, khu hành chánh …và di tích lịch sử Nhà Tổng Thận – trụ sở công khai đầu tiên của Tỉnh ủy Tân An sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Với người dân Tân An, tự bao giờ sông Bảo Định đã gắn bó như một phần máu thịt. Và tin rằng không chỉ người dân Long An truyền tai nhau những câu chuyện gắn liền với kênh Vũng Gù - Bảo Định hà - Trí Tường giang – sông An Định – kênh Bưu Điện…, mà còn rất nhiều người biết và muốn biết về một dòng sông được ghi chép nhiều trong sách sử bởi những điều đặc biệt của nó - sông Bảo Định./.

   

Cầu dây Tân An bắt qua sông Bảo Định 

Một góc sông Bảo Định

Di tích lịch sử Nhà Tổng Thận nằm bên dòng Bảo Định

Bảo Định hà lưu huyết (trong Chống Xâm Lăng của Trần Văn Giàu)

   

Cầu Phú Kiết bắt qua dòng Bảo Định tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Chợ Phú Kiết (khu vực chợ Thang Trông xưa)- xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Công trường xây dựng cống Tân An trên sông Bảo Định

Cống Tân An trên sông Bảo Định khi hoàn thành

Bài và ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

27/06/2012 2:55 SAĐã ban hànhApproved
KIỂM TRA PHONG TRÀO TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TẠI HUYỆN CẦN GIUỘC KIỂM TRA PHONG TRÀO TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TẠI HUYỆN CẦN GIUỘC

Chiều ngày 08/5/2020, Đoàn kiểm tra tỉnh do ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm Trưởng đoàn đến huyện Cần Giuộc kiểm tra phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (TDĐKXDĐSVH) và việc triển khai thực hiện các danh hiệu văn hóa trên địa bàn huyện.

11-5-2020 Quang cảnh buổi kiểm tra PTTDDKXDDSVH.png

Quang cảnh buổi kiểm tra

Năm 2019, phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền cổ động luôn hướng về cơ sở. Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao như: Nhà văn hóa, sân bóng đá, sân quần vợt, hồ bơi... đã được xây dựng rộng khắp, làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Phong trào TDĐKXDĐSVH, trọng tâm là nâng cao chất lượng việc xây dựng gia đình văn hóa, ấp, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa, xã văn hóa nông thôn mới, thị trấn văn minh đô thị được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả, tạo nên sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cộng đồng dân cư về vai trò của văn hóa, thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Hoạt động của các Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Học tập cộng đồng, Nhà văn hóa, Khu thể thao ấp, khu phố hoạt động phong phú và đa dạng. Hiện toàn huyện có hơn 44.500 gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 97,5%; 78/79 ấp, khu phố văn hóa; 114/136 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; 11/15 xã, thị trấn đạt chuẩn xã văn hóa nông thôn mới, phường, thị trấn văn minh đô thị.

Đời sống văn hóa được nâng lên đã tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội; chính trị ổn định, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Qua đó, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của người dân đối với việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa ngày càng tốt đẹp như: Tình làng nghĩa xóm, giúp nhau phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Anh Dũng, Trưởng đoàn kiểm tra phát biểu kết luận: Ban Chỉ đạo Phong trào TDĐKXDĐSVH huyện cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục về ý nghĩa, tầm quan trọng của phong trào TDĐKXDĐSVH. Quan tâm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về văn hóa, trong đó chú trọng thực hiện tốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, phòng chống các tệ nạn xã hội. Huyện quan tâm công tác vệ sinh môi trường, xử lý rác thải; duy trì, xây dựng phát triển các thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở; chú trọng đánh giá chất lượng phong trào, phúc tra công nhận mới hoặc công nhận lại ấp, khu phố văn hóa, xã văn hóa nông thôn mới, phường, thị trấn văn minh đô thị; kiên quyết không công nhận lại các danh hiệu chưa đạt chuẩn theo tiêu chí qui định đã ban hành./.

Phương Cảnh, Thất Huy

12/05/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​