Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 258703
 
Thông tin Văn Hóa - Hội thi, hội diễn
 
​NGÀY HỘI TUỔI THƠ HUYỆN CẦN GIUỘCThực hiện Quyết định số 1343/QĐ-UBND ngày 24/4/2018 của UBND tỉnh Long An về việc hợp nhất Đài Truyền thanh, Nhà Thiếu nhi và Trung tâm Văn hóa, thể thao huyện Cần Giuộc. Nhằm tạo sân chơi cho các em thiếu nhi vui chơi giải trí trong mùa hè với chức năng nhiệm vụ mới sau khi sáp nhập. Trung Tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Giuộc phối hợp Ban Chỉ đạ... 
 
Cần Đước tổng kết cuộc thi sáng tác biểu trưngNgày 04/8/2018, UBND huyện Cần Đước tổ chức lễ tổng kết cuộc thi sáng tác biểu trưng huyện Cần Đước. Tham dự buổi lễ có đại diện lãnh đạo Ban Dân vận Huyện ủy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan ban ngành huyện, Ban tổ chức, Ban giám khảo và các tác giả tham gia cuộc thi.Với mục đích tìm mộ... 
 
Liên hoan Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Long An được duy trì tổ chức 24 năm qua tại Đình Vạn Phước, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước. Năm nay, Liên hoan diễn ra từ ngày 03/3 đến ngày 05/3/2018. Để chuẩn bị chu đáo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An, UBND huyện Cần Đước, chính quyền địa phương và Ban hội hương Đình Vạn Phước đã triển khai thực hiện nhiều nội dung ngay từ trước Tết Nguyên đán Mậu Tuấ... 
 
Nhằm lập thành tích chào mừng kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2018) và mừng Xuân Mậu Tuất năm 2018, ngày 20/01/2018, UBND huyện Cần Giuộc đăng cai tổ chức Liên hoan Văn hóa – Thể thao chung dòng sông Soài Rạp lần thứ IX năm 2018. Đây là hoạt động được luân phiên tổ chức hàng năm ở các địa phương ven sông Soài Rạp.Tiết mục giao lưu văn nghệ tại Liên hoanTham... 
 
Nằm trong chương trình hoạt động chào đón năm mới 2018, sáng ngày 01/01/2018 tại Câu lạc bộ chim hót Phương Cảnh (xã Mỹ Lộc), Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện Cần Giuộc phối hợp Câu lạc bộ sinh vật cảnh huyện Cần Giuộc tổ chức Hội thi Tiếng hót chim Chích Chòe và Chào mào năm 2018.Đây là sân chơi cho các nghệ nhân, những người yêu thích nuôi chim cảnh có dịp giao lưu, trao đổi kinh nghiệm ... 
 
Cuộc thi Tài năng trẻ diễn viên sân khấu cải lương và dân ca kịch chuyên nghiệp toàn quốc năm 2017 do Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tổ chức tại tỉnh Đồng Nai diễn ra từ ngày 04/11/2017 đến 11/11/2017. Tham gia Cuộc thi có 73 thí sinh của 16 đơn vị nghệ thuật cải lương và 4 đơn vị nghệ thuật dân ca kịch. Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An có 04 thí sinh tham dự gồm Huỳnh Văn Tánh vai Nam trong ... 
 
Nhân kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhằm phát triển phong trào đờn ca tài tử trong huyện, cũng như góp phần bảo tồn giữ gìn nét đẹp của loại hình đờn ca tài tử Nam bộ. Trong 3 đêm 20, 21 và 22/10/2017, Trung tâmVăn hóa - Thể thao huyện Bến Lức tổ chức Liên hoan Đờn ca tài tử huyện Bến Lức lần IV năm 2017. Liên hoan lần này thu hút sự tham gia của 15 đội đờn ca tài tử ... 
 
Cuộc thi "Chuông vàng vọng cổ" là hoạt động nghệ thuật do Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện từ năm 2006 đến nay. Thông qua cuộc thi nhằm tìm kiếm, phát hiện những tiềm năng trẻ, có chất giọng đặc biệt, triển vọng, bổ sung vào đội ngũ nghệ sĩ cải lương cả nước. Với ý nghĩa đó, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục tổ chức cuộc thi Chuông vàng vọng cổ lầ... 
 
​Nhằm tôn vinh, quảng bá loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc Việt Nam nói chung và người dân Nam Bộ nói riêng đã được Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; đồng thời, bảo tồn, triển khai có hiệu quả Chương trình hành động quốc gia bảo vệ nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ giai đoạn 2014-2020 của Bộ Văn h... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Lễ tổng kết Chương trình “Chuyến xe tri thức” tại tỉnh Long AnLễ tổng kết Chương trình “Chuyến xe tri thức” tại tỉnh Long An

         Sáng ngày 17/3/2016 tại xã Bình Hòa Tây, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An đã diễn ra Lễ tổng kết chương trình "Chuyến xe tri thức" phục vụ nhân dân các xã biên giới –xã nông thôn mới năm 2016. Chương trình do Liên hiệp Thư viện khu vực Đồng bằng sông Cửu Long triển khai. Được phát động từ ngày 02/3/2016 tại tỉnh Đồng Tháp, sau đó lần lượt đi qua các tỉnh Kiên Giang, Bến Tre và kết thúc tại tỉnh Long An.

         "Chuyến xe tri thức" là một chương trình hoạt động mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chương trình thực hiện với mục đích tuyên truyền giáo dục, phổ biến những kiến thức, những kinh nghiệm, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ cho thanh thiếu niên và nhân dân trên địa bàn các xã biên giới, vùng sâu còn nhiều khó khăn. Qua đó, khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách báo trong cộng đồng, đáp ứng nhu cầu, thói quen học tập suốt đời trong nhân dân, góp phần nâng cao trình độ dân trí, năng suất lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

         Trên địa bàn tỉnh Long An, "Chuyến xe tri thức" đã đến phục vụ tại 4 xã biên giới gồm: Xã Bình Thạnh, Bình Hòa Tây huyện Mộc Hóa; xã Khánh Hưng huyện Vĩnh Hưng, xã Hưng Điền B huyện Tân Hưng. Chương trình bao gồm xe thư viện số phục vụ với 3.000 tài liệu cùng các hoạt động đọc sách, báo, tra cứu cơ sở dữ liệu, thông tin trên internet, xem phim, hướng dẫn đọc sách hiệu quả và các hoạt động thực hành từ sách như đố vui kiến thức, đố vui về sách, giải ô chữ, đọc sách trả lời câu hỏi trên giấy…Trong 4 ngày tổ chức các hoạt động đọc sách, chương trình đã trao 700 phần quà khuyến khích động viên tinh thần say mê đọc sách của các em. Ngoài ra, chương trình đã huy động sách từ Công ty Cổ phần Tri thức Văn hóa sách Việt Nam trao tặng Trường Tiểu học và Trung học cơ sở xã Bình Hòa Tây số lượng sách trị giá 5 triệu đồng.

01 12052016.jpg

Bà Nguyễn Thị Thủy – Phó Giám đốc Sở VH,TT và DL tỉnh Long An phát biểu tại buổi lễ tổng kết "Chuyến xe tri thức"

         Đến tham dự và phát biểu tổng kết, bà Nguyễn Thị Thủy – Phó Giám đốc Sở VH,TT và DL tỉnh đã đánh giá cao hoạt động của chương trình, đề nghị Liên hiệp Thư viện khu vực ĐBSCL, Thư viện tỉnh Long An cần tiếp tục duy trì, áp dụng những mô hình mới, mô hình liên kết hiệu quả trong điều kiện thư viện chưa được trang bị "Xe tri thức", nhằm góp phần đưa ánh sáng tri thức lan tỏa đến các vùng sâu, vùng biên giới còn nhiều khó khăn.

         Tham dự lễ tổng kết còn có sự tham dự của lãnh đạo Phòng Giáo dục, Phòng Văn hóa và Thông tin, Trung tâm Văn hóa – Thể thao các huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, thị xã Kiến Tường; UBND xã Bình Hòa Tây; lãnh đạo Thư viện các tỉnh Đồng Tháp và Sóc Trăng cùng các phóng viên Báo, Đài đến đưa tin.

         Một số hình ảnh hoạt động:

02 12052016.jpg

Các em học sinh Trường Tiểu học Binh Thạnh huyện Mộc Hóa tham gia hoạt động đố vui kiến thức

03 12052016.jpg

Các em học sinh Trường Tiểu học Binh Thạnh huyện Mộc Hóa xem phim

04 12052016.jpg

Các em học sinh Trường Tiểu học Hưng Điền B tham gia trò chơi đố vui kiến thức

05 12052016.jpg

Các em học sinh Trường Tiểu học Hưng Điền B tham gia đọc sách, tra cứu cơ sở dữ liệu, thông tin trên Internet

 06 12052016.jpg

Các em học sinh Trường cấp II và III Khánh Hưng huyện Vĩnh Hưng tập trung tham gia chương trình "Chuyến xe tri thức"

07 12052016.jpg

Các em học sinh Trường cấp II và III  Khánh Hưng huyện Vĩnh Hưng tham gia trò chơi đố vui kiến thức

08 12052016.jpg

Các em học sinh Trường Tiểu học Binh Hòa Tây huyện Mộc Hóa  tham gia trò chơi giải ô chữ trên giấy

09 12052016.jpg

Phát thưởng các em học sinh Trường Tiểu học Binh Hòa Tây huyện Mộc Hóa đạt giải  trò chơi giải ô chữ

10 12052016.jpg

Ông Nguyễn Tuấn Kiệt – Giám đốc Thư viện tỉnh tặng sách Trường Tiểu học Bình Hòa Tây huyện Mộc Hóa

11 12052016.jpg

Bà Nguyễn Thị Thủy – Phó Giám đốc Sở VH,TT và DL tỉnh Long An tặng giấy khen tại buổi lễ tổng kết "Chuyến xe tri thức"

Bài: Tuấn Kiệt; ảnh: Việt Hùng.

Thư viện Long An

12/05/2016 4:00 CHĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ KHU HỘI ĐỒNG SẦM DI TÍCH LỊCH SỬ KHU HỘI ĐỒNG SẦM

    ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG TỈNH LONG AN (30/12/1961)

            Hội Đồng Sầm là tên một địa chủ người Sài Gòn đến khai phá lập đồn điền ở vùng Bình Hòa Bắc - Bình Thành, đất đai tổng cộng 800 mẫu, dinh cơ, nhà cửa và toàn bộ cơ sở vật chất tập trung ở một khu khoảng 20 mẫu gọi là: “Khu Hội Đồng Sầm”. Di tích lịch sử Khu Hội Đồng Sầm là địa điểm thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng(MTDTGP) tỉnh Long An 30/12/1961, tọa lạc tại ấp Tân Hòa, xã Bình Hòa Bắc, huyện Đức Huệ. (Theo Địa chí Long An – ngày thành lập MTDTGP tỉnh Long An là 30/12/1960).

            Năm 1954, Hiệp định Geneve được ký kết, phía cách mạng nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định nhưng Mỹ ngụy nhanh chóng đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền thay cho chính phủ thân Pháp và trắng trợn phản bội Hiệp định bằng những thủ đoạn như: không hiệp thương tổng tuyển cử, cướp đoạt ruộng đất của nông dân, tiến hành chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, ra Luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam … Trong hoàn cảnh đó, tháng 5/1959, Ban chấp hành trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 khẳng định: Cách mạng miền Nam không có con đường nào khác là cách mạng bạo lực, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Trên cơ sở đó cộng với thời cơ cách mạng đã đến, Đảng bộ Long An chủ trương tiến hành khởi nghĩa vũ trang. Ngày 25/01/1960 mở đầu cho phong trào Đồng Khởi ở Long An tiểu đoàn 506 đã tấn công tiêu diệt đồn Đức Lập, thu toàn bộ vũ khí. Sau đó ta tiếp tục tiến đánh một số đồn như Đông Thạnh, Long Phụng (Cần Giuộc), Long Định (Cần Đước)… thu được nhiều thắng lợi.

            Thắng lợi của phong trào Đồng Khởi lan rộng trên khắp chiến trường miền Nam đã làm tan rã hệ thống chính quyền cơ sở của địch, tạo bước chuyển biến nhảy vọt cho phong trào cách mạng miền Nam, ta đã thoát ra thời kỳ đen tối và chuyển sang thế tấn công.

            Trong bối cảnh đó, ngày 20/12/1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) ra đời đánh dấu một bước ngoặt lớn lao và tạo sự chuyển biến trong công cuộc đấu tranh giành độc lập. Từ khi ra đời, khắp nơi các đoàn thể, tổ chức, các cấp của Mặt trận được thành lập tạo nên khối đoàn kết lớn dưới ngọn cờ của MTDTGPMNVN.

            Ở Long An, để tập hp mọi lực lượng yêu nước cùng hòa chung phong trào yêu nước miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh giành hòa bình độc lập, ngày 30/12/1961, tại khu Hội Đồng Sầm Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Long An ra đời.

Đại hội đã qui tụ tất cả các đại biểu của Đảng, lực lượng vũ trang, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, các đoàn thể, trí thức, học sinh sinh viên, các Đảng phái tôn giáo…tập trung về trường học xóm Công Đoàn trong khu Hội Đồng Sầm (tức trường phổ thông cơ sở I-II Bình Hòa Bắc ngày nay) để tiến hành đại hội. Sau hai ngày họp, thảo luận, đại hội đã chính thức tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Long An gồm 11 thành viên, do đồng chí Châu Văn Bảy làm chủ tịch, các phó chủ tịch là đồng chí Nguyễn Ngọc Việt, Nguyễn Văn Đậu, Nguyễn Văn Thông, đồng chí Nguyễn Văn Vệ là Tổng thư ký.

            Sau khi thành lập, Mặt trận tổ chức mít tinh công khai ra mắt quần chúng ngay hôm đó. Buổi mít tinh được tổ chức trọng thể, trang nghiêm lúc 18 giờ, thu hút khoảng 7.000 người từ khắp nơi kéo về. Sau phần chào cờ, công bố danh sách các thành viên, Ủy ban Mặt trận đọc tuyên ngôn và chương trình hành động của mình, trong đó việc đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ là 2 trong 10 nội dung quan trọng của chương trình hành động.

            Từ khi Mặt trận ra đời, vấn đề tập huấn, đào tạo cán bộ được gấp rút tiến hành nhằm tung cán bộ đi vào các giới, tập hp lực lượng và phát động phong trào đấu tranh. Do chương trình hành động của Mặt trận phù hợp với nguyện vọng thiết thực của quần chúng, sách lược của Mặt trận hết sức mềm dẻo nên thu hút được đông đảo quần chúng tham gia từ công nhân, nông dân, trí thức, tôn giáo….. Nổi bật là các phong trào diệt ác phá kiềm, phá ấp chiến lược, chống địch bắn phá bừa bãi. MTDTGP tỉnh Long An đã trở thành trung tâm đoàn kết tất cả các lực lượng yêu nước của tỉnh hòa chung vào phong trào yêu nước miền Nam. MTDTGPMN nói chung, MTDTGP tỉnh Long An nói riêng là một nhân tố quyết định để cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.

            Sự kiện thành lập MTDTGP tỉnh Long An 30/12/1961 diễn ra ở khu Hội Đồng Sầm, nhưng địa điểm tiến hành cuộc họp để bầu ra Ủy ban Mặt trận là trường học xóm Công Đoàn (thuộc khu Hội Đồng Sầm), ngày nay là khu vực Trường phổ thông cơ sở I-II Bình Hòa Bắc.

 Trường cấp I- II Bình Hòa Bắc nơi bầu ra Ủy ban MTDTGP tỉnh

            Trường học của xóm Công Đoàn vào thời điểm 1960 có 3 dãy phòng theo dạng hình chữ u, cột cờ nằm ở giữa sân. Mái trường được lợp bằng tranh, vách dựng bằng đưng, lác… Khu vực này ngày nay đã hoàn toàn thay đổi, trường phổ thông cơ sở I-II Bình Hòa Bắc đã được xây dựng lại trên nền cũ nhưng khang trang hơn, khu Hội Đồng Sầm nay là trung tâm xã Bình Hòa Bắc dân cư đông đúc hơn.

Năm mươi năm đã trôi qua, những hiện vật liên quan đến sự kiện thành lập Mặt trận đã bị thất lạc và chưa có cuộc sưu tầm nào được tiến hành trong một thời gian dài. Vì vậy thiết nghĩ, cần có những công trình tôn tạo phù hợp và kế hoạch sưu tầm hiện vật để bảo tồn và phục vụ công chúng để di tích phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống và trở thành điểm đến của mọi tầng lớp nhân dân.

 Trường PTCS Bình Hòa Bắc, địa điểm khoanh vùng bảo vệ DT khu Hội Đồng Sầm

 

            Di tích lịch sử khu Hội Đồng Sầm là nơi ghi dấu một sự kiện trọng đại trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Long An, gắn với việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh. Đây là chứng tích khẳng định sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Long An 30/12/1961 là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh và đáp ứng kịp thời nhu cầu đấu tranh của quần chúng nhân dân, tạo ra sự đối trọng trước những chiến lược chiến tranh mới của địch vào thời điểm ấy. Đây cũng là kết quả của quá trình lớn mạnh của phong trào yêu nước ở Long An, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, vì sứ mệnh lịch sử thiêng liêng đánh đổ đế quốc Mỹ tay sai bán nước. Với ý nghĩa ấy, di tích khu Hội Đồng Sầm một lần nữa chứng minh cho truyền thống đấu tranh cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân Long An, xứng đáng với danh hiệu “Long An trung dũng kiên cường toàn dân đánh giặc”./.

                                                                          Bài và ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

09/01/2012 7:12 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về việc xếp hạng cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế. Di tích hiện tọa lạc tại phường 1, thành phố Tân An, là một công trình kiến trúc cổ đặc thù kiểu Tứ trụ của đình, miếu Nam Bộ có niên đại hơn 103 năm. Đồng thời, trong miếu còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như hệ thống hoành phi, liễn đối, bao lam…được chạm trổ hết sức tinh xảo, công phu vừa có giá trị về mặt nghệ thuật, vừa có giá trị về mặt lịch sử.

18-11-2019 Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế

Di tích lịch sử miếu Quan Thánh Đế còn là chứng tích của quá trình khai phá vùng đất Vũng Gù (Tân An ngày nay) của cộng  đồng cư dân Việt - Hoa. Bởi, sau khi Cù Lao Phố và Mỹ Tho Đại Phố tan rã, một số nhóm người Hoa đã di cư đến sống ở vùng Tân An. Vì đa số người Hoa di cư thường làm nghề kinh doanh buôn bán nên khi đến Tân An họ thường tụ cư ở những trung tâm thương mại, khu vực chợ búa, và cùng với người Việt chiếm đa số chung sức đồng lòng lập phố xá, chợ sầm uất mà nổi tiếng là chợ Hưng Lợi (nay là chợ Phường 1). Bên cạnh đó, khi di - định cư đến Tân An, họ đã xây dựng miếu để làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và đã thu hút đông đảo người Việt đến lễ bái như chính cơ sở tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình trong suốt quá trình cộng cư và giao lưu văn hoá.

Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Thánh Đế Quân tức Đại tướng quân Quan Vũ, một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc được kính ngưỡng về lòng trung nghĩa và chí khí anh hùng. Khi đến định cư ở vùng đất Tân An nói riêng, ở Long An nói chung, người Hoa đã mang nhiều hành trang văn hóa từ những thiết chế xã hội, phong tục tập quán đến các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thánh truyền thống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Ông Bổn… từ quê cha đất tổ đến vùng đất mới lập nghiệp, góp phần cùng các dân tộc anh em khác xây dựng và phát triển nơi đây ngày một trù phú. Một trong những hành trang quý giá ấy chính là tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân mang nhiều nét nổi bật, tiêu biểu cho văn hóa tinh thần người Hoa cũng như  sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa. Khi cộng cư lâu dài với người Việt trên vùng đất mới, tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân của người Hoa dần được người Việt tiếp nhận, thờ tự trang nghiêm thể hiện sự kính ngưỡng đối với phẩm cách chính trực trung nghĩa, cương cường, dũng cảm của Ông, đồng thời tin tưởng Ông sẽ phù hộ cho sự bình an của mọi người, thậm chí thờ Ông như là thần bảo mạng của nam giới trong gia đình. Quan Thánh Đế Quân không chỉ là thần linh được thờ phụng trong gia đình, mà còn là thần linh đặc trưng trong các cơ sở tôn giáo người Việt, được biến thể hóa từ các tôn giáo lớn như: Nho Giáo tôn xưng Ông là Văn Hoành Thánh Đế;  Đạo Giáo tôn xưng Ông là Hiệp Thiên Đại Đế; còn Phật Giáo tôn xưng Ông là Hộ Pháp Già Lam. Đây là một dạng thức tín ngưỡng thể hiện sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng cư dân Việt - Hoa trong quá trình tụ cư, chung sống với nhau như anh em một nhà suốt bao thế kỷ qua và là một nét đẹp trong ứng xử văn hóa, đã làm cho sắc thái văn hóa của vùng đất Long An nói riêng thêm đa dạng và phong phú.

18-11-2019 Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải), Châu Xương (bên trái).jpg

Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải),
Châu Xương (bên trái)

Tìm hiểu về niên đại xây dựng miếu, theo thông tin từ các dòng lạc khoản ghi trên câu đối, hoành phi (Quang Tự nhị thập ngũ niên tuế thứ Kỷ Hợi trọng hạ kiết lập) cho biết kiến trúc hiện trạng và hệ thống tượng thờ, bài vị, các chi tiết trang trí, trống, chuông đồng… có niên đại Quang Tự, năm Kỷ Hợi (1899). Ngoài ra, trên bao lam khám thờ bên phải có khắc năm 1916, đánh dấu cho lần trùng tu miếu.

18-11-2019 Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ.jpg

Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ

Ngôi miếu tọa lạc trên mảnh đất có diện tích 330.8 m2 có bố cục hình chữ tam gồm hậu điện, chính điện và tiền điện với đặc điểm nổi bật là xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ mang nét đặc trưng của đình làng vùng đất Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, điều này cho thấy kiến trúc miếu đã có yếu tố Việt ngay từ những buổi đầu xây dựng.

18-11-2019 Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ.jpg

Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ

Đặc biệt, trong miếu còn thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Hoa qua cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) vốn là hiện vật phổ biến trong các ngôi đình của người Việt, thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu của nền văn hóa Việt, được đặt chung trong khám thờ Quan Thánh Đế Quân.

18-11-2019 Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong bàn thờ Quan Thánh Đế Quân.jpg

Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong
bàn thờ Quan Thánh Đế Quân

Hàng năm, Miếu Quan Thánh Đế diễn ra lễ vía Ông vào các ngày 13 tháng Giêng (Vía chánh), 13 tháng 5 và 24 tháng 6, là nơi đến của đông đảo đồng bào Việt - Hoa ở thành phố Tân An, các hội Miếu Quan Thánh lân cận, thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân địa phương. Tuy ban đầu miếu do người Hoa thành lập nhưng trong quá trình giao thoa văn hóa đã thu hút cộng đồng người Việt đến thắp hương... thể hiện sự giao lưu giữa đời sống tâm linh và cuộc sống hàng ngày của hai tộc người. Trong tâm thức người dân, đây là tiêu biểu cho những giá trị tinh thần tốt đẹp cũng như thể hiện tính bao dung, cởi mở trong tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Việt. Mặt khác, không chỉ là những khách hành hương, người Việt còn nằm trong Ban Quản trị, là ông từ trực tiếp trông coi, sớm chiều hương khói, chung tay góp sức với người Hoa cùng nhau thờ tự, giữ gìn miếu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt - Hoa trên mảnh đất Long An.

Ngày nay, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa lẫn nhau giữa người Việt và người Hoa ngày càng trở nên mạnh mẽ, các yếu tố văn hóa Việt,  văn hóa Hoa tồn tại đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Ví như trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người Việt không phân biệt rạch ròi giữa miếu, miễu và chùa thường gọi lẫn lộn. Trong khi đó, miếu, miễu là nơi thờ Thần, còn chùa là nơi thờ Phật, nhưng đối với Miếu Quan Thánh Đế của người Hoa, người Việt thường gọi là Chùa Ông... Qua đó cho thấy, sự giao lưu văn và tiếp biến hóa giữa người Việt - Hoa được diễn ra một cách hòa hợp vì giữa hai nền văn hóa có nhiều yếu tố tương đồng, giống nhau. Tuy là miếu Hoa nhưng vẫn thấy được văn hóa Việt, đó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Long An nói riêng. Bởi văn hóa là hòa bình, không bao giờ phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay thể chế chính trị - kinh tế - xã hội.

Do đó, việc xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với Miếu Quan Thánh Đế là cần thiết, nhằm bảo tồn và giữ gìn được di sản văn hóa của tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung, góp vào nguồn lực phát triển văn hóa vùng đất Nam Bộ trong hiện tại cũng như trong tương lai./.

Hồng Nhung

25/11/2019 7:00 CHĐã ban hànhApproved
TRIỂN LÃM MỸ THUẬT KHU VỰC VIII – ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LẦN THỨ 24 NĂM 2019  TRIỂN LÃM MỸ THUẬT KHU VỰC VIII – ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LẦN THỨ 24 NĂM 2019 

Ngày 08/8/2019, Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Long An tổ chức Lễ khai mạc Triển lãm Mỹ thuật khu vực VIII – Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 24 năm 2019. Đến dự có ông Phạm Tấn Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An; ông Trần Khánh Chương, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam; cùng đại diện các sở, ban, ngành tỉnh Long An và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật các tỉnh, thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Triển lãm diễn ra trong 10 ngày, từ ngày 08 đến ngày 17/8/2019, tại Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh Long An (số 9, đường Trương Định, Phường 2, thành phố Tân An).

9-8-2019 Đại biểu cắt băng khai mạc triển lãm.jpg

Nghi thức cắt băng khai mạc triển lãm

Triển lãm lần này giới thiệu đến công chúng 175 tác phẩm của 155 tác giả ở 13 tỉnh, thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ. Đây là những tác phẩm tiêu biểu, có nội dung tư tưởng sâu sắc, mang tính nghệ thuật cao, phản ánh đa dạng, sinh động hình ảnh con người và sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Long An nói riêng và của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Ông Phạm Tấn Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh ghi nhận và đánh giá cao tinh thần sáng tạo của các họa sĩ với nhiều tác phẩm có chất lượng nội dung cao.

9-8-2019 Trao giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam cho các tác giả.jpg

Các tác giả nhận giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam

9-8-2019 tác giả Lê Thị Thắm đoạt giải I Giải thưởng Mỹ thuật Đồng bằng sông Cửu Long.jpg

Tác giả Lê Thị Thắm nhận giải I giải thưởng Mỹ thuật Đồng bằng sông Cửu Long

Tại lễ khai mạc, Ban Tổ chức đã trao giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam và giải thưởng Mỹ thuật Đồng bằng sông Cửu Long cho 22 tác phẩm. Giải A giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam thuộc về tác giả Hà Phước Duy (Long An) với tác phẩm Đồng trưa; tác giả Lê Duy (Tiền Giang) với tác phẩm Quê mẹ đạt giải B và tác giả Bùi Quang Vinh (An Giang) với tác phẩm Xâm thực đạt giải C. Tác giả Lê Thị Thắm (Bến Tre) đạt giải I giải thưởng Mỹ thuật Đồng bằng sông Cửu Long với tác phẩm Thiếu nữ,… Cũng trong dịp này, Ban Tổ chức tiến hành trao Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam" và Bằng khen của Hội Mỹ thuật Việt Nam cho các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp trong hoạt động mỹ thuật.

9-8-2019 dai bieu du xem trien lam 1.png

9-8-2019 Đại biểu tham quan triển lãm tại buổi khai mạc.jpg

Đại biểu xem triển lãm

Triển lãm Mỹ thuật khu vực VIII – Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 24 năm 2019 là dịp để các họa sĩ, hội viên, cộng tác viên chuyên ngành mỹ thuật trong tỉnh và khu vực giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm, không ngừng nâng cao tính sáng tạo trong nghề nghiệp. Đồng thời, tạo điều kiện cho hoạt động mỹ thuật phát triển rộng rãi, thông qua các tác phẩm mỹ thuật phản ánh những giá trị văn hóa, những thành tựu kinh tế, xã hội của khu vực và đất nước./.

Ngọc Thanh

09/08/2019 8:00 SAĐã ban hànhApproved
Khánh Hậu - Vấn đề bảo tồn và phát triểnKhánh Hậu - Vấn đề bảo tồn và phát triển

Văn hóa Việt Nam được hình thành bởi ba trụ cột, đó là gia đình - làng - nước, trong đó làng xã là nơi nuôi dưỡng mạch ngầm văn hóa, nơi sáng tạo, duy trì và chuyển giao kho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng và hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng cư dân các làng xã và của cả dân tộc. Có thể khẳng định rằng, dù trong hoàn cảnh nào, làng xã vẫn là những thực thể văn hóa đặc biệt, có đóng góp xứng đáng vào diện mạo và bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó là:

- Những cộng đồng lãnh thổ, do tất cả các thành viên góp phần khai phá, xây dựng.

- Những cộng đồng kinh tế bền vững, là đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp trên cơ sở nền nông nghiệp lúa nước.

- Những cộng đồng văn hóa, cùng nhau sáng tạo những giá trị văn hóa đặc sắc và lại cùng nhau bảo vệ, giữ gìn và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống từ đời này sang đời khác.

Di sản văn hóa làng cần được xem xét như một chỉnh thể thống nhất không tách rời giữa di tích động sản và bất động sản; di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, môi trường thiên nhiên và môi trường nhân tạo. Theo quy định của Luật di sản văn hóa của nước ta, di sản văn hóa được phân chia ra hai thành tố cơ bản là: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, với các bộ phận cấu thành như sau:

- Di sản văn hóa phi vật thể gồm: Các hình thức biểu diễn truyền khẩu; các hình thức trình diễn nghệ thuật; các phong tục tập quán; nghi thức và lễ hội; quan niệm, hiểu biết về thiên nhiên và thái độ ứng xử với thiên nhiên.

- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.

Từ góc độ di sản văn hóa làng, chúng ta nhận thấy rằng văn hóa vật thể được thể hiện dưới các dạng thức có tính phổ quát như: Môi trường sinh thái - nhân văn, khung cảnh thiên nhiên thuộc về địa bàn cư trú - sản xuất của cộng đồng làng xã; các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng (đình, chùa, đền, miếu…), các công trình kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống; các di vật là công cụ lao động, phương tiện vận chuyển và các sản phẩm của quá trình lao động sáng tạo - đặc biệt là các sản phẩm lao động thủ công ở các làng nghề truyền thống.

Tham gia chương trình Khảo sát, đánh giá hiện trạng và đề xuất hướng phát triển kiến trúc nông thôn khu vực Khánh Hậu - do Hội Kiến Trúc Sư Long An tổ chức, tác giả trình bày một số nhận thức ở góc độ bảo tồn và phát triển khu vực văn hóa đặc sắc này.

1. Lịch sử hình thành: Khoảng đầu và giữa thế kỷ XVII, lưu dân người Việt đến đồng bằng sông Cửu Long, bởi nhiều động lực thúc đẩy khác nhau về chính trị, kinh tế, tôn giáo, quân sự và xã hội. So với tiến trình lập cư ở đồng bằng sông Hồng và sông Mã thì tốc độ di dân lập cư ở đồng bằng sông Cửu Long đã diễn ra rất nhanh, chỉ trong thời gian hơn hai thế kỷ rưỡi; đồng thời mạng lưới làng xã cũng đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp theo cương vực châu thổ. Chính khối dân cư giàu tính năng động đến lập nghiệp mới ở đây, sẽ dần dần xây dựng các làng xã với những cơ cấu kinh tế, xã hội, chính trị và tinh thần hoàn chỉnh hơn, theo trình độ và khả năng chủ quan của họ cũng như các điều kiện khách quan và cụ thể khác của môi trường bên ngoài.

Về cơ bản trong bối cảnh truyền thống, lưu dân vẫn là những nông dân, do đó trong sinh hoạt kinh tế của họ chủ yếu vẫn dựa trên nông nghiệp. Lao động trực tiếp để khai phá đất hoang và một phần nào kế thừa những thành quả khai thác của người bản địa, là hai nguồn gốc chủ yếu cho tiến trình sở hữu ruộng đất của lưu dân tại đồng bằng sông Cửu Long.

Những lưu dân xưa, khi đến vùng đất Ba Giồng- Khánh Hậu ngày nay, cũng không ngoài hoàn cảnh ấy. Ở Gia Định vào thế kỷ XVII- XVIII có những loại tổ chức làng xã mang tên như thuộc, trại, bãi, nguồn, cửa, nậu, trường, điếm, sở, súc… chưa ổn định và chưa thống nhất ở mỗi địa phương, một phần nào đó có các chức năng tương đương với các thôn làng truyền thống. Cơ cấu tinh thần truyền thống của làng xã ở đây thể hiện rõ nét nhất ở các tập tục tín ngưỡng đình làng, nơi đây còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng thường trực của dân làng, ở Khánh Hậu thuở ấy, sau khi hình thành hai thôn Tường Khánh và Nhơn Hậu, nhân dân cũng lập nên 2 ngôi đình Tường Khánh (nay là đình Khánh Hậu) và Nhơn Hậu (thế kỷ XVIII).

Khi họ Nguyễn chạy vào đất Gia Định, sau cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn, tổ chức cơ chế quyền lực làng xã được quan tâm tổ chức, nhằm tạo điều kiện chống lại Tây Sơn trong 14 tổng, thuộc 3 dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Long Hồ và đạo Trường Đồn. Theo truyền thống, làng xã được ở Nam Bộ vào lúc này thường được điều khiển bởi một Hội Đồng Kỳ Mục hay Hương Chức gồm các hương chức lớn và các chức dịch nhỏ phụ tá. Các hương chức được chọn trong số những người có địa sản, hay có uy tín và khả năng. Công việc chung trong làng được bàn bạc trong hội làng, được tổ chức tại đình làng vào mùa xuân và mùa thu trong năm.

Trong những năm thế chiến thứ hai, làng mạc ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung được Việt Minh hỗ trợ để tổ chức các hoạt động kháng chiến chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. Năm 1945, sau khi người Nhật rút khỏi Việt Nam, chính quyền Việt Minh nắm quyền lực và thay đổi các hội đồng làng- xã truyền thống bởi những Ủy ban hành chánh, do nhân dân bầu cử .

Tuy nhiên, khi thực dân Pháp trở lại Việt Nam vào năm 1946, họ đã phục hồi Hội đồng hương chức truyền thống và tái lập chính quyền thuộc địa tại Đông Dương. Thời kỳ tiếp theo, 1946- 1954, là thời gian của sự bất ổn lớn đã được lưu ý từ trước đó, nhưng điều này chỉ được giảm thiểu một phần bởi Hiệp định Geneva được ký kết vào tháng 7 năm 1954. Tiếp theo là thời kỳ của chế độ Sài Gòn cũ, đã đề ra nhiều thay đổi lớn trong chính quyền làng - xã cùng với những nỗ lực hoạt động nhằm giới thiệu một số cải cách về kinh tế và những hoạt động kích thích nền kinh tế phát triển, nhưng các chương trình ấy vẫn không có sự thành công cần thiết, trong đó trường hợp xã Khánh Hậu là một thực tế.

Ngày nay, dưới ngọn cờ cách mạng, cùng cả nước đi lên theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã Khánh Hậu ngày xưa - nay là phường Khánh Hậu và phường Tân Khánh, thuộc thành phố Tân An có hệ thống chính trị vững chắc, gồm Đảng bộ cơ sở, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân với sự giúp việc của các ban ngành và sự phối hợp của các tổ chức đồn thể chính trị - xã hội cùng hoạt động điều hành các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và xã hội của địa phương ngày càng phát triển trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

2. Đặc trưng văn hóa và cư dân: Cư dân Khánh Hậu là hậu duệ của những lưu dân Nam tiến, đa số có nguồn gốc từ vùng ngũ Quảng. Họ đã kế thừa truyền thống văn hóa nơi cố hương và biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của người Hoa, người Chân Lạp, người Chăm để tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mình. Về phong tục của huyện Kiến Hưng, trong đó có đất Ba Giồng, Trịnh Hoài Đức có viết: “Huyện Kiến Hưng nửa cày ruộng, nửa đất trồng, mọi người làm nghề cày ruộng, trồng dâu, có nhiều người dũng cảm tiết nghĩa”. Sách Đại Nam nhất thống chí cũng có viết: “Phong tục giống như Gia Định nhưng vật lực có hơn nên cũng ham vui và thích chơi nhiều hơn. Phục sức cũng xa xỉ hơn, phụ nữ nuôi tằm dệt lụa cũng hơn mà nhà nông cày cấy, làm ăn cũng hơn. Lại hay tin quỷ thần, hay mời đồng cốt để họ múa hát làm vui. Chưa đổi hết được phong tục Ba Giồng, rất thượng võ và thích diễn võ nghệ. Đó là di tập của quân Đông Sơn xưa”.

Qua đó ta thấy rằng đặc trưng trong tính cách và phong tục tập quán của người dân Ba Giồng là : dũng cảm, tiết nghĩa; làm ra làm, chơi ra chơi; có tinh thần thượng võ và ham chuộng võ nghệ. Qua đó ta có thể hiểu được vì sao nhân dân Khánh Hậu xưa và nay đều rất sùng kính Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức- một con người nổi tiếng về nghĩa khí và võ nghệ của giồng Cái Én.

Ở Khánh Hậu, người Việt là thành phần chủ yếu trong cộng đồng dân cư nên ở đây chủ yếu là tín ngưỡng của người Việt. Bên cạnh đó, ta còn thấy một số yếu tố tín ngưỡng của người Hoa, cộng đồng người có mặt ở đất Ba Giồng từ rất sớm. Ở những dòng họ đầu tiên đến khai phá Khánh Hậu, có lễ cúng Việc Lề hoặc giỗ Hội. Mỗi kiến họ có nghi thức và thời gian cúng Việc Lề khác nhau. Lễ cúng Việc Lề thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với tổ tiên đã có công khai cơ, mở đất và kết chặt tình thân giữa người trong cùng một dòng họ.

Sự ra đời của đình làng đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng của cư dân Khánh Hậu trong quá trình khẩn hoang lập ấp. Đình làng là nơi thờ vị thần của làng (Thành Hoàng bổn cảnh), các vị tiền hiền, hậu hiền và cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân. Khánh Hậu ngày nay còn lưu giữ hai ngôi đình là Tường Khánh và Nhơn Hậu, được xây dựng từ cuối thế kỷ XVIII. Đình Tường Khánh hiện còn lưu giữ 6 đạo sắc của 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức phong tặng. Hai ngôi đình ở Khánh Hậu hằng năm đều tổ chức cúng 4 kỳ vào các lệ: kỳ yên, thượng điền, hạ điền và cầu bông. Lệ kỳ yên ở đình Tường Khánh còn có thêm lễ tống phong, được dân làng tổ chức một cách trọng thể. Những lễ nghi nông nghiệp này thể hiện nguyện vọng của quần chúng nhân dân về một cuộc sống sung túc, đầy đủ, mùa màng tươi tốt, quốc thới dân an. Vào dịp được mùa, cứ đáo lệ 3 năm một lần, vào lễ kỳ yên dân làng còn được thưởng thức nghệ thuật hát bội ở võ ca đình làng. Tiếc rằng nét đẹp văn hóa này đã bị mai một vài chục năm nay và chưa được phục hồi.

Ở Khánh Hậu còn có một thiết chế tín ngưỡng dân gian đặc biệt là lăng miếu Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức (nay thuộc khu phố Giồng Dinh, phường Khánh Hậu). Nhân dân ở đây coi ông như là một vị tiền hiền có công khai cơ, mở đất và là một vị thần tiêu biểu cho lòng trung nghĩa nên đã cùng gia tộc tổ chức trọng thể lễ Chu Niên của ông vào 3 ngày mồng bảy, mồng tám, mồng chín tháng chín âm lịch hàng năm. Truyền thống này được kéo dài gần 200 năm, bắt đầu từ năm 1820 (sau khi ông qua đời một năm).

 

Di tích đền thờ và lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức

Chánh điện đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức

Bình phong lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức

Lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức

Ngoài ra, tại Khánh Hậu còn hiện diện một thiết chế tín ngưỡng đặc trưng của người Hoa, đó là chùa Ông ở khu phố Nhơn Hậu, phường Tân Khánh.

Về tôn giáo, ở Khánh Hậu có hai đạo chính là Phật giáo và Cao Đài. Phật giáo đã theo chân những lưu dân Nam tiến đến Khánh Hậu từ thời kỳ khai phá và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cư dân nơi đây. Đa số cư dân ở Khánh Hậu đều chịu ảnh hưởng bởi triết lý nhân quả, luân hồi, tứ diệu đế... của đạo Phật. Một số phong tục, tập quán như: cúng rằm, ăn chay, kiêng kỵ sát sinh, đi chùa lễ Phật cũng bắt nguồn từ tôn giáo này. Hiện tại, trên địa bàn Khánh Hậu có 3 ngôi chùa là: Diêu Quang tự (Chùa Cây Trôm, khu phố Quyết Thắng, phường Khánh Hậu, Thiên Phước tự (khu phố Nhơn Cầu 1, phường Tân Khánh), Khánh Điền tự (Khu phố Nhơn Cầu 1, phường Tân Khánh).

Đạo Cao Đài tuy ra đời muộn (1926) nhưng khá phát triển ở Khánh Hậu. Người theo đạo Cao Đài ban đầu đa số là hương chức, điền chủ… thuộc tầng lớp trung lưu của xã hội. Sau này, con cháu họ theo truyền thống của gia đình, cũng theo đạo Cao Đài. Hiện tại, ở Khánh Hậu có 3 cơ sở hành lễ của đạo Cao Đài gồm: Tam Thanh bửu điện (khu phố Giồng Dinh, phường Khánh Hậu), thánh thất Quyết Thắng (khu phố Quyết Thắng, phường Khánh Hậu), thánh thất Thủ Tửu  (khu phố Thủ Tửu 1, phường Tân Khánh).

Ngày nay, thực hiện chủ trương lớn của Nhà nước về phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, bộ mặt văn hóa ở Khánh Hậu thêm phần khởi sắc với hệ thống giao thông, cơ quan, xí nghiệp, nhà cửa đều khang trang hơn; bên cạnh đó là những hình thức sinh hoạt văn hóa như các lễ hội cổ truyền, câu lạc bộ thơ - ca, câu lạc bộ đờn ca tài tử diễn ra ngày càng sinh động và phong phú.  Những yếu tố lịch sử và văn hóa cùng với những đặc trưng kiến trúc truyền thống của người Việt, thông qua kết quả nghiên cứu bước đầu của chương trình khảo sát - điều tra mà chúng ta thảo luận hôm nay đã hình thành nên một khu vực văn hóa truyền thống giữa lòng thành phố mới.

3. Vấn đề bảo tồn và phát triển khu vực Khánh Hậu: Hiện nay đất nước ta đang chuyển mạnh trên con đường hội nhập và phát  triển kinh tế, thu nhập của người dân đang gia tăng và các hoạt động thương mại và dịch vụ cũng tấp nập hơn. Khu vực Khánh Hậu của thành phố Tân An cũng đang ở trong xu thế ấy, do vậy, để thực hiện mục tiêu bảo tồn các di sản văn hóa ở đây, chúng ta cùng xem xét những nội dung cơ bản nhằm thảo luận, tham khảo ý kiến nhân dân, đề xuất lãnh đạo tỉnh và thành phố cùng các ngành chức năng có chính sách cho việc bảo tồn và phát triển khu vực một cách bền vững.

Mục tiêu của việc bảo tồn khu vực Khánh Hậu là phải nhằm nâng cao mức sinh hoạt và môi trường sống của người dân. Để làm được điều này phải bảo đảm được ba yếu tố chủ yếu như sau:

- Bảo tồn di sản văn hóa.

- Duy trì cải tạo môi trường sống.

- Phát triển kinh tế, xã hội.

Trong đó, có những mâu thuẫn không dễ giải quyết, bởi lẽ:

- Phát triển kinh tế thì rất khó bảo tồn được di sản văn hóa, ngược lại bảo tồn di sản thì khó có thể phát triển được kinh tế. Do vậy, rất cần thiết phải tạo được một cấu trúc kinh tế thúc đẩy việc bảo tồn di sản văn hóa. Mặt khác cũng có thể tách rời việc phát triển kinh tế đối với việc bảo tồn trong những trường hợp đặc biệt.

- Nếu quá nhấn mạnh những lý luận về di sản văn hóa thì sẽ gây ra nhiều bất tiện trong sinh hoạt thường nhật cũng như việc tu sửa, cải tạo nhà cửa của người dân theo nhu cầu và khuynh hướng phát triển xã hội, nhưng nếu theo đuổi hiện đại hóa sinh hoạt và nơi ở thì không phải không có ảnh hưởng đến di sản văn hóa. Từ đó, chúng ta cần nghiên cứu và định hướng sao cho những ngôi nhà truyền thống phù hợp với sinh hoạt hiện đại, đồng thời tổng thể kiến trúc của khu vực vẫn giữ được bản sắc không gian văn hóa làng Khánh Hậu xưa, trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay.

Cho dù chúng ta nói đến “bảo tồn di sản văn hóa”, “xây dựng một cuộc sống lành mạnh sung túc”, “thực hiện sự phát triển kinh tế - xã hội” thì vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, cấp thốt nước, thủy lợi… là vấn đề cơ bản nhất cần được đặt lên hàng đầu, việc thực hiện các công trình này cần được quy hoạch tránh tác động đến khu vực bảo tồn và các di tích lịch sử - văn hóa.

Vẻ đẹp của Khánh Hậu là làng mạc, đồng quê, đối lập với những khu phố trong đô thị sầm uất. Phong cảnh đồng ruộng rất quan trọng. Do vậy, bên cạnh việc bảo tồn di tích kiến trúc truyền thống, cần bảo tồn những khu vực hiện nay là ruộng lúa, đồng thời nhất thiết phải có quy chế và quy hoạch sử dụng đất cho việc phát triển ngoại vi khu vực bảo tồn một cách hợp lý.

Chúng ta cũng cần xác định ranh giới giữa các cộng đồng, đặc biệt là giữa khu vực mang tính lịch sử và khu quy hoạch mới, cần có những vùng chuyển tiếp giữa khu cũ và mới. Những thảm ruộng lúa có thể đóng vai trò là ranh giới chuyển tiếp lý tưởng cho hai khu vực nêu trên. Bên cạnh đó là việc bảo vệ cảnh quan tự nhiên của hệ thống sông rạch trong vùng, bảo tồn những loại cây cổ thụ cũng cần được quy hoạch.

Việc quy định chiều cao và số tầng các công trình kiến trúc mới cũng cần được quan tâm nhằm hạn chế ảnh hưởng của chúng đối với các kiến trúc cổ trong khu vực. Bên cạnh đó, việc sử dụng vật liệu xây dựng cũng như màu sắc của các công trình kiến trúc mới trong khu vực bảo tồn cũng cần được nghiên cứu và thể hiện nhằm tạo nên sự hài hòa trong không gian khu vực bảo tồn.

Về mặt phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh việc phát triển kinh tế khu vực Khánh Hậu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thương mại dịch vụ theo tuyến Quốc lộ I, đầu tư sản xuất nông nghiệp tại chỗ và ở cơ sở 2 (vùng Đồng Tháp Mười) chúng ta còn có triển vọng định hướng phát triển kinh tế khu vực này trên cơ sở khai thác khu vực văn hóa truyền thống đặc sắc ở đây, đó là việc tổ chức Khánh Hậu thành một bảo tàng di sản văn hóa làng mà chủ thể hoạt động là cộng đồng cư dân địa phương; đối tượng hoạt động là di sản văn hóa làng, bao gồm môi trường sinh thái nhân văn, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán và lễ hội… nhằm mục đích giữ gìn, trao truyền di sản văn hóa, khai thác di sản văn hóa làng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, mang lại lợi ích vật chất và tinh thần cho cư dân địa phương. Trong điều kiện thực tiễn ở Long An, khu vực Khánh Hậu có thể trở thành điểm đến quan trọng trong một chương trình tham quan du lịch chuyên đề, bao gồm một số điểm chính như sau:

- Làng nghề dệt chiếu Long Định (Cần Đước).

- Làng nghề nấu rượu Gò Đen (Bến Lức).

- Làng nghề làm trống Bình An (Tân Trụ).

- Bảo tàng Long An.

- Khu vực Khánh Hậu.

Việc khai thác đúng mức văn hóa ẩm thực dân gian cũng như nghệ thuật đờn ca tài tử, với những nét riêng của Long An sẽ là những mối dây liên kết làm tăng thêm sự hài hòa và đa dạng của diện mạo văn hóa tỉnh nhà, trong đó công việc của nhà chuyên môn về quy hoạch,  kiến trúc và xây dựng trong việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững, ngày càng được tôn vinh. Bởi lẽ, “Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”./.

                                                                                Bài và ảnh: Vương Thu Hồng

Tài liệu tham khảo 

  1. Mạc Đường, chủ biên, 1995, Làng xã ở châu Á và ở Việt Nam. NXB thành phố Hồ Chí Minh.
  2. James B. Henry, 1964, The small world of Khanh Hau. Aldine/ Chicago (Mỹ).
  3. Vương Thu Hồng, 2004, Làng Khánh Hậu - xưa và nay, tiểu luận, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Nguyễn Văn Huyên, 1996, Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  5. Thạch Phương- Lưu Quang Tuyến (đồng chủ biên), 1989, Địa chí Long An,  NXB Khoa học Xã hội và NXB Long An.
  6. Cục Di sản văn hóa, 2007, Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập I, NXB Thế giới, Hà Nội. 

28/02/2012 9:16 SAĐã ban hànhApproved
CÁ LÓC NƯỚNG CUỐN LÁ SEN NON – MÓN NGON VÙNG BƯNG BIỀN ĐỒNG THÁP MƯỜI CÁ LÓC NƯỚNG CUỐN LÁ SEN NON – MÓN NGON VÙNG BƯNG BIỀN ĐỒNG THÁP MƯỜI
Một lần đến tham quan vùng Đồng Tháp Mười, được hòa mình vào không gian thiên nhiên của vùng sông nước Nam Bộ mà ở đó có những rừng tràm bạt ngàn xanh ngát, xa xa những đàn cò trắng kéo nhau về và đâu đó nghe thoang thoảng mùi hương của hoa thơm, cỏ dại… Ấn tượng nhất là những đóa sen đua nhau nở cùng những lá sen non cuốn tròn trên mặt nước…Một cảm giác thật dễ chịu với những ai thích sự yên tĩnh và dung dị của thiên nhiên nơi này. Ngồi trên thuyền, đưa tay ngắt một lá sen non, anh hướng dẫn viên bảo mọi người rằng đây là một sản vật của địa phương được ăn cùng với cá lóc nướng mà hương vị của nó đã làm cho nhiều thực khách sành ẩm thực đến đây phải “tương tự”!

​Cá lóc nướng, cuốn với lá sen non món ăn có tự bao giờ ? phải chăng nó là một trong số những thức ăn dân dã có mặt trong những ngày đầu khai phá vùng đất phương Nam của lưu dân người Việt. Theo những ghi chép còn lưu giữ trong gia phả của một số dòng họ lớn ở Long An thì cá lóc nướng trui là một trong những thức cúng không thể thiếu trong ngày cúng Việc lề 1. Đó là một con cá lóc được để nguyên, không đánh vảy, đem nướng với lửa rơm được bày biện cùng với một số thức cúng khác đặt lên tấm đệm bàng hay chiếc chiếu lác trải trên đất để cúng trước sân nhà.

36.jpg

Món cá lóc nướng được bày biện cùng các 

thức cúng khác trong ngày Cúng việc lề 

của họ Võ ở thị xã Kiến Tường​

37.jpg

 Món cá lóc nướng được bày biện cùng các 

thức cúng khác trong ngày Cúng việc lề 

của họ Đỗ ở huyện Châu Thành​

Như vậy, cá lóc nướng trui là món ăn của vùng đất phương Nam trù phú đã có từ rất lâu, ngày nay nó là một trong những đặc sản quý của vùng đất bưng biền. Ăn cá lóc nướng cuốn lá sen non gợi nhớ về cuộc sống nhọc nhằn, cơ cực của tổ tiên thời xưa đi khai hoang, mở đất:

“Cháo ám đựng muỗng vùa, tiên tổ khai đường hậu thế

Rơm đồng thui cá lóc, cháu con cảm đức tiền nhân” 

Thông qua tên gọi, cũng có thể hình dung được thành phần chính của món ăn gồm: cá lóc nướng và lá sen non. Theo kinh nghiệm dân gian, chọn cá lóc để nướng phải lựa những con cá đồng, có trọng lượng khoảng 800g đến 1kg thì vừa ăn, bởi thịt cá của những con này đang ở độ ngon nhất trong thời kỳ phát triển (thịt chắt, ngọt và ít xương). Tìm lá sen ở vùng Đồng Tháp Mười thì không khó. Nơi đây, tha hồ ngắt những lá sen non còn ngậm sương đêm, nhô lên mặt nước. Trước khi nướng, cho cá vào thau rồi rải đều một lớp muối hột lên trên và đậy kín lại. Một lúc sau, cá vùng vẫy sẽ sạch chất nhờn, rửa cá lại và tiến hành công đọan chế biến. Nướng cá cũng phải có chút ít kinh nghiệm nếu để quá lửa sẽ bị cháy khét mất đi vị thơm, ngọt của thịt cá. Có nhiều cách nướng cá: nướng trui hoặc nướng rơm nhưng dù nướng kiểu nào, cá cũng được nướng nguyên con, giữ lại bộ đầu lòng. Dùng một que tre, vót nhọn xiên từ miệng đến đuôi cá, quấn cá kín lại bằng hai ba lớp lá sen già rồi tiến hành nướng. Đợi khi lá sen cháy hết cũng là lúc cá chín.  ​

38.jpg

Cá lóc nướng rơm 

39.jpg

 Cá lóc nướng củi

Ăn cá lóc nướng cuốn lá sen non không thể thiếu nước chắm. Làm nước mắm me để chắm phải sử dụng nước mắm ngon, pha với đường, tỏi, ớt và me sao cho thơm ngon đậm đặc, vừa ăn, có thể chấm ngập cuốn cá mà vẫn vừa miệng.

Sau khi bày biện rau, cá nướng, nước chắm lên bàn là ăn liền không nên để nguội mới thưởng thức trọn vẹn hương vị của món này khi còn nóng. Lấy một lá sen non, tách cánh ra đặt vào đó ít rau diếp cá, húng câu, khế chua, dưa leo, chuối chát…, gắp một ít thịt cá thơm nức, cuốn gọn lại rồi chắm vào chén nước mắm me sánh sánh. Sự hòa trộn của nhiều vị nhẫn, chát, thơm, ngọt, chua, cay, mặn… của lá sen non, của rau thơm, của các gia vị nước chắm, của thịt cá nướng cho ta một hương vị khác lạ, thưởng thức đến đâu cảm nhận được vị ngon ngọt đến đó, ăn một cuốn muốn thêm cuốn thứ hai, thứ ba và hơn thế nữa.

Thật khó phai trong lòng qua chuyến hành trình đến với Đồng Tháp Mười, khi chiều đến, bên hồ sen, chúng tôi cùng thưởng thức món cá lóc nướng cuốn lá sen non, mọi người cùng vui, cùng cạn ly rượu nồng, quên đi bao chuyện buồn phiền trong cuộc sống.

Một lần đến với Long An, thưởng thức món ăn dân dã này chắc hẳn bạn sẽ thú vị và lưu luyến mãi !

Bài:  Đỗ Lan

Ảnh: Văn Ngọc Bích

  Bảo tàng Long An ​


22/10/2014 10:00 SAĐã ban hànhApproved
SẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANSẮC PHONG TRIỀU NGUYỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
  1. Sắc phong

        Sắc phong (gọi đầy đủ là đạo sắc phong) xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ XV, dưới triều nhà Lê, được xác nhận bằng ấn triện của nhà vua mang nội dung công nhận có tính nhà nước, đồng thời thể hiện quyền lực của triều đình đối với các làng xã. Cùng với các loại văn bản và thư tịch cổ như chiếu, chỉ, hịch, văn bia, gia phả… sắc phong được xem như một loại văn bản chính thống của nhà nước phong kiến.

        Về cơ bản, sắc phong gồm có hai loại: sắc phong chức tước cho quý tộc, quan chức của các vương triều và sắc phong thần do nhà Vua phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình, đền, miếu, từ đường…Loại thứ nhất không còn nhiều và đây được xem như vật gia bảo, thường được cất giữ cẩn thận tại các gia đình hoặc nhà thờ họ. Loại thứ hai tuy đã mất mát nhiều nhưng khối lượng còn lại đến nay khá lớn và thường được bảo tồn trong các kiến trúc tín ngưỡng của làng, xã. Các vị thần được phong tặng có thể là nhân vật lịch sử có công với nước, thường gọi là nhân thần và các thần linh trong tín ngưỡng dân gian như nhân vật huyền thoại, vật linh, các hiện tượng thiên nhiên...

        Sắc phong là một nguồn tư liệu có giá trị về nhiều phương diện: mang tên tuổi và công lao của một số nhân vật lịch sử kèm theo quê quán, công tích và xếp hạng; các sắc phong phản ánh vai trò tối thượng của nhà vua, không chỉ trị vì muôn dân trong thế giới trần tục mà còn cai quản cả thế giới thần linh, kết hợp với các tín ngưỡng và đời sống tâm linh (Thành hoàng, Tổ tiên, Vật  linh, Tổ sư, Sùng bái thiên nhiên…); sắc phong phản ánh hệ thống hành chính với những địa danh và đơn vị hành chính mang niên đại cụ thể; đó là chứng cứ về những đặc trưng của thư pháp Hán Nôm và sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử…

        Phân tích kỹ dưới nhiều góc độ chuyên môn còn có thể khai thác từ sắc phong nhiều thông tin mang nhiều ý nghĩa và giá trị…Vì thế, sắc phong là nguồn tư liệu quý, một di sản văn hoá cần được bảo tồn. Ở Long An, hiện còn tồn tại cả hai loại sắc phong như vừa nêu.

        Di tích Lăng mộ và đền thờ Kiến xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích cấp quốc gia (QĐ số 435/QĐ/BT-ngày 11/5/1993), tọa lạc tại phường Khánh Hậu, thành phố Tân An. Lăng mộ được xây dựng năm 1817, là một trong những lăng mộ cổ nhất của Long An còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay. Ngoài đền thờ và những hiện vật có giá trị, di tích hiện đang lưu giữ 08 sắc phong, chiếu, chế, chỉ của các vua triều Nguyễn, tiêu biểu cho loại thứ nhất, cụ thể:

        Chỉ sai Nguyễn Huỳnh Đức đem quân giúp nước Xiêm chống lại sự xâm lăng của Miến Điện, chất liệu giấy, kích thước 0,37 x 0,32m. Năm Cảnh Hưng thứ 59 (1798), ngày mồng hai, tháng hai.

        Sắc phong quan tước cho Nguyễn Huỳnh Đức ngày mồng một tháng năm, năm Gia Long Nguyên niên (1802). Sắc bằng giấy dó màu bạc, in rồng chìm, dài 1,35m, rộng 0,50m.

        Sắc vua Gia Long truy phong cho ông Huỳnh Công Châu, tổ phụ Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức. Sắc bằng lụa vàng, thêu rồng, dài 0,75m, rộng 0,40m. Ngày mồng một, tháng chín, năm Gia Long thứ ba (1804).

        Chiếu vua Minh Mạng phong chức tước cho Nguyễn Huỳnh Thành (thứ nam Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chiếu bằng giấy vàng, in rồng chìm, dài 0,8m, rộng 0,4m. Ngày 22 tháng 8 năm Minh Mạng thứ 10 (1829).

        Chế của vua Tự Đức tập phong cho Nguyễn Huỳnh Kim (cháu nội Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức). Chế bằng lụa trắng thêu rồng vàng, dài 1,3m, rộng 0,3m. Ngày 2 tháng 8 năm Tự Đức thứ 3 (1851).

 chiếu Minh Mạng năm thứ 10 (22-8-1829) tại lăng Nguyễn Huỳnh Đức

 Ấn triện trên sắc phong Tự Đức tam niên (11-12-1850) tại Đình Khánh Hậu

 Sắc thần đình Tân Chánh bị hư hỏng nặng

        Ngoài sắc phong cho các quan lại, trên địa bàn tỉnh còn tồn tại loại sắc phong các vị thần trong các đình, miếu. Trong tổng số 90 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh, đình chiếm số lượng khá lớn và đây cũng là đối tượng chính được triều đình Nguyễn phong sắc. Trong số những ngôi đình được phong sắc như đình Vĩnh Phong, đình Phú Khương, Tân Xuân, Xuân Hòa, Hòa Điều, Vĩnh Bình… thì đình Khánh Hậu thuộc khu phố Quyết Thắng 2, phường Khánh Hậu, thành phố Tân An là có nhiều sắc nhất (06 sắc). Thời gian phong sắc sớm nhất (theo số liệu hiện có) là năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) và muộn nhất là của vua Khải Định năm 1925. (Sắc phong cho Thành Hoàng bổn Cảnh làng Long Hậu Tây (xã Long Hậu, Cần Giuộc) của vua Khải Định năm 1925).

         Các vị thần được vua sắc phong chủ yếu là thần Thành hoàng Bổn cảnh và các vị phúc thần như Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Chi Thần, Dũng Mẫn Nghiêm Dực nhị đại Tướng quân...  nhằm giúp vua bảo hộ lê dân của mình.

        Về tình trạng các sắc phong, do phải trải qua một thời gian dài, điều kiện khí hậu, các biến cố lịch sử và do cả sự bất cẩn của con người nên nhiều sắc phong đã bị hư hỏng, hủy hoại. Các nguyên nhân thường do:

        -Thiếu phương tiện bảo quản, các sắc phong thường được quấn lại rồi bọc giấy bên ngoài, đựng trong ống tre, do không được chăm sóc thường xuyên cộng với khí hậu nóng ẩm làm các sắc phong hư hỏng dần, có nơi còn bị mối mọt, côn trùng gặm nhấm, phá họai.

        - Người bảo quản không có ý thức hay thiếu hiểu biết, để cho mọi người mở xem tùy tiện làm hư hại, rách nát sờn vụn những giấy sắc đã lâu đời. Cũng có người lợi dụng lòng tin của người bảo quản, mượn sắc rồi không trả lại.

Hiện nay, hiện tượng sắc phong bị lấy trộm để bán cho những người sưu tầm đồ cổ hay bán ra nước ngoài ngày càng phổ biến, trở thành một mối đe dọa lớn đối với loại di sản quí báu này.

        Tuy nhiên, đó chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể, đa số người dân hiểu biết về giá trị văn hoá và tâm linh của sắc phong, có ý thức bảo quản nghiêm ngặt nhờ vậy mà một số lượng lớn sắc phong triều Nguyễn vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

  1. Phương án bảo tồn sắc phong

        Để bảo tồn vốn di sản văn hóa đã tồn tại hàng trăm năm này, thiết nghĩ nên áp dụng một số phương án như mở các lớp tập huấn cho người dân, chủ nhân di tích về phương pháp bảo quản hiện vật giấy, đặc biệt là các đạo sắc phong.

        Là hiện vật có giá trị đặc biệt, gắn liền với cộng đồng, tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân địa phương nên việc sưu tầm sắc phong là rất khó. Vì vậy cần có một dự án bảo tồn, trong đó thuê các nghệ nhân bồi lại sắc phong và sử dụng phương tiện bảo quản phù hợp; lưu giữ phần chữ và trang trí của các sắc phong bằng cách chụp ảnh kỹ thuật số với những thông tin về tên gọi và địa điểm nơi đang gìn giữ đi kèm rồi đưa vào đĩa. Những đĩa này sẽ được sắp xếp theo hệ thống đơn vị hành chính hiện nay (tỉnh, huyện, xã, ấp) và tập trung bảo quản tại Thư Viện Quốc Gia ( cùng trong phòng tư liệu Hán Nôm) - nếu thực hiện ở qui mô lớn - cũng như bảo quản ở địa phương.

Thông qua các hình thức trưng bày, triễn lãm, giới thiệu trên phương tiện truyền thông đại chúng… nhằm giới thiệu, tuyên truyền đến nhân dân những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của sắc phong để nâng cao ý thức trân trọng giữ gìn loại di sản văn hóa quí báu của dân tộc.

        Là một trong những tỉnh được khai phá sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, Long An còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, sắc phong là một di sản quý của dân tộc và là nguồn tư liệu quý hiếm cần được bảo vệ và nghiên cứu hơn nữa để phát huy tác dụng. Với những giải pháp như vừa nêu, nếu được thực hiện kịp thời sẽ góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản quý báu này.

                                                                                        Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

                                                                                  Ảnh: Văn Ngọc Bích 

21/12/2011 6:56 SAĐã ban hànhApproved
Di tích khảo cổ học Gò Ô ChùaDi tích khảo cổ học Gò Ô Chùa

      Đồng Tháp Mười là vùng đất mới đối với khảo cổ học, tuy nhiên từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay, nhiều di tích khảo cổ học thời tiền sử và Óc Eo đã được phát hiện và khai quật. Di tích Gò Ô Chùa là một trong số đó. Di tích này đã được phát hiện năm 1986 và khai quật nhiều lần nhằm tìm hiểu tiến trình khai phá, chinh phục Đồng Tháp Mười của các cộng đồng cư dân cổ.

    Về cảnh quan, Đồng Tháp Mười của Long An có thể được chia làm hai phần:

        -Vùng rìa, từ biên giới Việt Nam-Campuchia xuống (vùng phía Bắc Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng) là dãi đất chuyển tiếp giữa phù sa cổ và phù sa mới, gồm các gò đất cao nằm rải rác giữa các bãi lầy thấp.   

        -Tiếp giáp với vùng rìa về phía Nam là bồn trũng với độ cao thay đổi từ 0,50 đến 3m, nhưng trông rất bằng phẳng, phù sa mới của bồn trũng phủ lên phù sa cổ ngày một dày từ Bắc xuống Nam..

    Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11o0008vĩ độ Bắc- 105o4618 kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam- Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3m, dài 450m theo hướng Bắc- Nam, rộng 150m theo hướng Đông-Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam- Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

    Di tích đã được khai quật 04 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng Hòa Liên bang Đức. Hiện vật thu thập được trong các đợt khai quật  khá phong phú, gồm nhiều chất liệu khác nhau, nhiều nhất là đồ gốm. Đồ gốm bao gồm trên 70 đồ đựng còn tương đối nguyên vẹn hoặc có thể phục nguyên và hàng vạn mảnh gốm vỡ, mảnh đất nung, mảnh cà ràng.... Một số lớn trong số đồ gốm này được sử dụng làm đồ tùy táng, số còn lại phân bố rải rác trong tầng văn hóa. Chúng gồm các loại hình khác nhau như nồi, chum nhỏ, bình đáy tròn, tô chậu, mâm bồng, vung... Gốm Gò Ô Chùa có độ nung cao, mặt được phủ áo lấy từ sét trắng, được miết láng và tô đỏ hoặc đen bóng. Ngoài ra, còn tìm được nhiều công cụ xương, sừng và gạt hươu, công cụ sắt như mũi nhọn, thuỗng có họng tra cán, hạt chuỗi bằng đá quý, lục lạc và vòng đồng, mảnh khuôn đúc, nồi rót kim loại...

 

 Hiện trường khai quật di tích

 Hố khai quật di tích Gò Ô Chùa, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, Long An.

 Di vật tìm thấy ở di tích Gò Ô Chùa, xã Hưng Điền A, huyễn Vĩnh Hưng tỉnh Long An.

 

    Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày khoảng 3m, chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ  đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến hai ngàn năm. Cuộc sống của họ khá phát triển, liên tục, vững chắc và ngày càng trở nên  phong phú và tinh tế, cuối cùng trở nên khác biệt với thuở ban đầu (diễn biến của gốm, tầng văn hóa và táng tục...). Những sản phẩm bằng đồng vào lúc này đã xuất hiện. Nồi nấu kim loại và khuôn đúc đồng đã được phát hiện trong khai quật. Vào cuối giai đoạn này, kỹ thuật đã được phát triển hơn nữa, sắt được dùng cùng với đồng. Đồ trang sức như hạt chuỗi bằng đá quý, vòng đeo tay bằng đồng... đã được sử dụng rộng rãi trong khi đồ đá, đồ xương đã giảm vai trò trong đời sống xã hội, nhưng bằng cách này hay cách khác vẫn giữ vai trò trong những tập tục lễ nghi...Nghề dệt ở đây rất được coi trọng, thể hiện qua khối lượng lớn dọi xe chỉ đã thu thập được và việc sử dụng phổ biến nó làm đồ tùy táng. Dấu vết vải để lại trên rất nhiều mảnh gốm, trên các đồ tùy táng bằng sắt, chứng tỏ những người thợ ở đây đã sản xuất được loại vải mịn và mỏng với chất lượng cao. Lúa, gạo đã trở thành nguồn lương thực chủ yếu.

    Di chỉ Gò Ô Chùa được cộng đồng cư dân cổ lựa chọn gần nguồn nước nhưng có thế đất hơi cao thoát khỏi lũ lụt. Hệ thống hào, rạch bao quanh di chỉ nối liền với những sông lớn Cái Cỏ, Long Khốt là khá nổi bật. Nó không những được dùng để cung cấp nước cho đồng lúa mà còn được dùng như những đường thoát nước vào mùa mưa và như những hồ chứa nước vào mùa khô. Súc vật được thuần dưỡng như heo, chó nhà, trâu mà những di cốt được tìm thấy khá phổ biến. Rất nhiều những vỏ trấu, hạt lúa được tìm thấy trong xương gốm, cho biết rằng vào thời này, lúa  đã được cư dân ở đây canh tác đầy đủ và vai trò của nó trong đời sống xã hội là rất quan trọng. Rất nhiều sản phẩm ở Gò Ô Chùa đặc biệt là gốm ba chạc được sản xuất với mục đích trao đổi nói lên rằng cộng đồng cư dân cổ ở đây đã có tiếp xúc, trao đổi với những trung tâm buôn bán lớn trong vùng thuở ấy.

    Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu vừa qua, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

    Do nội hàm văn hóa phong phú và quan trọng như trên, di tích được công nhận cấp Quốc gia theo Quyết định của Bộ Văn hóa- Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) số 1570/VHQĐ ngày 15- 9- 2009. Hiện nay di tích này là điểm tham quan để tìm hiểu về văn hóa cổ không chỉ của Long An mà còn của cả nước để so sánh với cuộc sống cư dân cổ cùng thời ở khu vực Đông Nam Á.

    Để đi đến di tích, du khách có thể dùng thuyền từ Vĩnh Hưng đi về hướng Hưng Điền A khoảng một giờ hoặc có thể đi ô tô từ Vĩnh Hưng theo tỉnh lộ 831 đến trụ sở xã Khánh Hưng rẽ phải 15 km thì gặp di tích ở phía bên trái./. 

                                                                                           Tiến sĩ Bùi Phát Diệm

17/02/2012 2:05 SAĐã ban hànhApproved
Xã Vĩnh Thuận - huyện Vĩnh Hưng tổ chức Lễ phát động xây dựng xã văn hóa - nông thôn mới năm 2016Xã Vĩnh Thuận - huyện Vĩnh Hưng tổ chức Lễ phát động xây dựng xã văn hóa - nông thôn mới năm 2016

Vừa qua, tại UBND xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Hưng long trọng tổ chức lễ phát động xây dựng xã văn hóa - nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, ông Nguyễn Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An đến dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ.

Về phía địa phương có lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND, Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện, các phòng, ban chuyên môn của huyện và lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã, cùng ban ngành, đoàn thể và nhân dân xã đến tham dự.

Xã Vĩnh Thuận là một trong những xã nội địa của huyện Vĩnh Hưng, phía Đông giáp thị trấn Vĩnh Hưng và xã Vĩnh Bình, phía Tây giáp xã Vĩnh Thạnh và xã Thạnh Hưng thuộc Tân Hưng, phía Nam giáp xã Vĩnh Lợi huyện Tân Hưng, phía Bắc giáp xã Vĩnh Trị. Diện tích tự nhiên 3.412 ha, xã có 5 ấp, dân số tự nhiên có 1.146 hộ với hơn 4248 nhân khẩu, trong đó số người trong độ tuổi lao động  chiếm 65,14%. Số hộ nghèo toàn xã có 117 hộ và hộ cận nghèo có 132 hộ.

DSVH.jpg

Ông  Nguyễn Văn Danh – P. Giám đốc Sở VH,TT Và DL phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ

Về thực hiện các tiêu chí xã Văn hóa:

 Đến nay xã đạt 16/28 tiêu chí xây dựng xã văn hóa, phấn đấu đến năm 2018 sẽ hoàn thành 28 tiêu chí và đề nghị Ban Chỉ đạo tỉnh phúc tra công nhận là xã đạt chuẩn văn hóa.

Về kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế của xã chủ yếu là nông nghiệp chiếm 85%, công nghiệp và thương mại dịch vụ chiếm 15%. Thu nhập bình quân đầu người là 30tr/người/năm, công tác xóa đói giảm nghèo luôn được xã quan tâm, triển khai thực hiện, thường xuyên tham mưu cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo ở cơ sở, xã có 01 cụm và 01 tuyến dân cư vượt lũ, kết cấu hạ tầng kỹ thuật từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện cho kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng nâng cao, quốc phòng an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã được đảm bảo.

Về văn hóa, y tế, giáo dục: Phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao phát triển khá mạnh, hàng năm tổ chức các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục -  thể thao thu hút hàng trăm lượt người tham gia, đến nay có 5/5 ấp đạt chuẩn ấp văn hóa, có 1.024 hộ đạt chuẩn gia đình gia văn hóa. Các ấp đều trang bị các loa trạm truyền thanh ấp và 01 trạm truyền thanh xã hoạt động thường tuyên truyền các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay xã có 01 trường đạt chuẩn quốc gia, chất lượng giáo dục ngày càng nâng lên, giảm tình trạng bỏ học, công tác phổ cập các cấp được quan tâm và nâng cao chất lượng, đảm bảo theo yêu cầu của từng cấp. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ngày càng giảm, đến nay tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em của xã là 11,98%, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3, không có tình trạng tảo hôn.

Về cảnh quan môi trường: Công tác vệ sinh môi trường luôn được quan tâm, các cơ sở kinh doanh đều đạt tiêu chuẩn môi trường, không có hoạt động gây ô nhiễm môi trường, tính đến nay tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt trên 98%, đường trục chính của Trung tâm xã được nhựa hóa, đường liên xóm được cứng hóa, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, công tác thu gom rác và giữ gìn vệ sinh môi trường được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân làm cho nhận thức mỗi hộ gia đình chuyển biến tích cực.

Về an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội: Tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định, tệ nạn xã hội không xảy ra, công tác hòa giải được thực hiện tốt, trên địa bàn xã không có tình trạng ma túy, mại dâm, được công nhận là xã vững mạnh về phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc.

Về thực hiện tiêu chí nông thôn mới:

Đến nay xã đạt 13/19 tiêu chí xã nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 sẽ hoàn thành 19 tiêu chí và đề nghị Ban Chỉ đạo tỉnh phúc tra công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Các tiêu chí chưa đạt bao gồm: tiêu chí số 2 về giao thông, tiêu chí số 5 về  trường học, tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa, tiêu chí số 9 về nhà ở dân cư, tiêu chí số 15 về y tế, tiêu chí số 18 về xây dựng hệ thống chính trị.

Giải pháp khắc phục những khó khăn và triển khai thực hiện các tiêu chí chưa đạt  trong thời gian tới của của xã đó là: Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, sự giám sát của HĐND xã và sự quản lý có hiệu quả của UBND xã trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng xã Vĩnh Thuận trở thành xã văn hóa - nông thôn mới. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể xây đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch đã đề ra, phát huy sức mạnh toàn dân, vận động doanh nghiệp, các Mạnh Thường Quân và nhân dân trên địa bàn cùng nhau chung sức xây dựng xã văn hóa - nông thôn mới theo đúng lộ trình, kế hoạch đề ra./.

Bài và ảnh: Ngọc Phát

 Chuyên viên, Phòng XDNSVH và GĐ - Sở VH,TT và DL

03/08/2016 5:00 CHĐã ban hànhApproved
THỦ THỪA TÍCH CỰC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ THÔNG TIN NĂM 2020THỦ THỪA TÍCH CỰC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ THÔNG TIN NĂM 2020

Từ đầu năm 2020 đến nay, huyện Thủ Thừa đã tích cực tổ chức các hoạt động văn hóa và thông tin. Hoạt động thông tin tuyên truyền được thực hiện tốt từ huyện đến cơ sở thông qua hệ thống đài truyền thanh và thông tin lưu động. Qua đó, kịp thời thông tin những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến tận người dân với trên 170 chương trình phát thanh và đã sử dụng trên 1.900 tin bài, trong đó có trên 592 tin bài do cộng tác viên cộng tác.

Cán bộ Văn hóa-Thông tin-TRuyền thanh huyện, đứng thứ nhất và nhì từ trái qua được khen thưởng 2020.JPG

Cán bộ Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện (thứ nhất và nhì từ trái qua)
được UBND huyện Thủ Thừa khen thưởng năm 2020

Bên cạnh đó, huyện còn tích cực tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp; công tác chăm sóc gia đình chính sách, hộ nghèo; an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn giao thông; phòng chống tệ nạn xã hội, dịch bệnh gia súc, gia cầm, dịch bệnh Covid-19; kết quả thực hiện Nghị quyết Huyện ủy, HĐND, kế hoạch UBND huyện và hoạt động của các ngành, đoàn thể huyện, các luật mới ban hành… với nhiều hình thức tuyên truyền như: Truyền thanh trực tiếp, xe ô tô, mô tô lưu động, pano, áp phích. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức như: Hội thi đơn ca Bolero, Liên hoan Lân Sư Rồng, Giải Bóng đá thiếu niên, nhi đồng, Giải Việt dã, Hội khỏe Phù Đổng, Bơi lội, Đá cầu, Điền kinh, Đẩy gậy, Quần vợt… tạo điều kiện cho người dân tham gia giải trí và rèn luyện nâng cao sức khỏe.

Đội Thể dục duỡng sinh huyện đạt giải cấp tỉnh và chuẩn bị dự thi Toàn quốc 2020.jpg

Đội Thể dục duỡng sinh huyện Thủ Thừa đạt giải cấp tỉnh

Phát động thi đua thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" năm 2020; tập trung công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực gia đình, lễ hội…; chất lượng từng mô hình được nâng dần, các công trình phúc lợi công cộng, thiết chế văn hóa - thông tin được quan tâm xây dựng, duy tu, bảo quản phục vụ tốt, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt vui chơi, giải trí lành mạnh, góp phần xây dựng phong trào đời sống văn hóa cơ sở.

Ngoài ra, Đội kiểm tra liên ngành văn hóa - thông tin huyện thường xuyên kiểm tra, rà soát các cơ sở kinh doanh dịch vụ câu lạc bộ bida, dịch vụ làm đẹp, phòng tập thể dục thẩm mỹ, phòng tập thể hình, hồ bơi, đại lý Internet, trò chơi điện tử, Karaoke… Qua kiểm tra đã tiêu hủy 21 máy bắn cá, máy đua ngựa, máy pass, máy video game./.

Trần Thị Kim Phụng

17/08/2020 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Kỷ niệm 310 năm ngày Mai Công Hương tuẫn tiết (1-12 Âm lịch) và khánh thành Miễu Ông Bần Quỳ ngày 19-1-2015Kỷ niệm 310 năm ngày Mai Công Hương tuẫn tiết (1-12 Âm lịch) và khánh thành Miễu Ông Bần Quỳ ngày 19-1-2015

Hạo khí trung liệt

Ảnh 3.JPG

Có thể người ta ít biết đến nhân vật Mai Công Hương nhưng nói đến ngôi miếu nhỏ với tên gọi dân gian Miễu Ông Bần Quỳ ở xã Nhựt Ninh, huyện Tân Trụ được xếp hạng di tích lịch sử năm 1993, nơi thờ phượng một tấm gương trung liệt thời chúa Nguyễn thì ai cũng biết.

Hỏi thử nhà ta giống Lạc Hồng

Gần đây ai chết được như ông

Chở lương bị giặc ngăn đường nước

Đục ván cho thuyền lặn đáy sông

(Vịnh Mai Công Hương, 1872)

Ngược dòng lịch sử, năm Ất Dậu (1705), nước Cao Miên có loạn. Vua Nặc Ông Yêm bị người em là Nặc Ông Thâm viện binh Xiêm La về đánh, phải chạy sang Gia Định cầu cứu. Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Cai cơ Nguyễn Cửu Vân đem quân đi đánh Nặc Ông Thâm ở Rạch Gầm. Mai Công Hương chỉ huy đoàn thuyền vận chuyển lương thực theo sau.

Mai Công Hương tên thật là Mai Bá Hương, quê ở làng Tân Hương, Cái Quao (nay thuộc tỉnh Trà Vinh), làm Xá lại thuộc Ty Xá Sai ở dinh Phiên Trấn, nên tục gọi là Xá Hương, trông coi việc chuyên chở lương thực. Thời bấy giờ chưa đào kênh Ruột Ngựa  (kênh Trà Cú hay kênh Thủ Thừa) và kênh Bảo Định nên để hành quân từ dinh Phiên Trấn đến Rạch Gầm bằng đường thủy phải đi từ sông Bình Dương vào sông Đại Phong, xuống hạ khẩu Sa Giang, qua sông Phước Lộc, lên sông Bao Ngược đến vàm Kỳ Hôn rồi qua sông lớn Mỹ Tho. Đoàn thuyền lương của Mai Công Hương đến Vàm Bao Ngược, tức khoảng hợp lưu của sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây thì bị giặc chặn đánh. Quân ít, liệu bề khó chống giữ, ông lệnh đục chìm thuyền và tuẫn tiết để không rơi vào tay giặc.

Quân Mên triệt ngã Bần Quỳ,

Mai công liệu thế hiểm nguy nhãn tiền!

Truyền quân lập tức đục thuyền

Mình cùng lương phạn xuống miền Tiêu Tương

(Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca)

Dẹp yên giặc, chúa Nguyễn truy phong ông là "Vị quốc tử nghĩa thần" và cho lập đền thờ gọi là Xá Hương Từ, dân quen gọi là Miễu Xá Hương, quay mặt ra Vàm Bao Ngược, ghi vào điển lệ. Đoạn sông trước miễu cũng được gọi là sông Xá Hương. Đến triều Minh Mạng, ông được truy tặng là Thừa vụ lang, tước Tử.

 "Tướng giỏi triều trước, gương sáng đời nay", cảm gương trung liệt của Mai Công Hương, nhân dân ngày đêm hương khói, cúng tế hàng năm vào ngày 30 tháng 11 và 1 tháng 12 âm lịch.

Xá Hương miếu cũ còn nguyên đó

Chỉ khác bia danh với tượng đồng

(Vịnh Mai Công Hương, 1872)

Nhiều giai thoại được lưu truyền mà qua đó, gạt bỏ yếu tố hoang đường, người ta thấy hiển hiện lòng kính ngưỡng sâu sắc của nhân dân dành cho ông. Tương truyền khi ông tuẫn tiết, những cây bần ở khu vực này đều quỳ xuống như cảm kích trước hành động của ông mà không cần quan tâm đến sự thật là do những luồng nước xoáy và gió ở khu vực hợp lưu hai con sông lớn làm cho bần bị trốc gốc và nghiêng ngã. Cái tên Miễu Ông Bần Quỳ đầy tôn kính ra đời là vì vậy và cũng đi vào lòng dân gian một cách tự nhiên mà tưởng chừng như không hề có cái tên Xá Hương Từ trước đó. Người ta còn truyền rằng ông thường hiển linh và mỗi lần như vậy, ngã ba Bần Quỳ nổi lên những đợt sóng thần. Đến khi không thấy sóng thần xuất hiện nữa thì dân gian cho rằng do văn chương chân thành mãnh liệt của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản khi đi thuyền ngang qua đây nghe câu chuyện hiển linh đã ghé vào Miếu thắp hương và đề câu đối đã làm xoa dịu nỗi căm hờn của người liệt sĩ khí khái năm xưa:

Nghĩa báo Nam thiên cương thượng thường bồi cao tiết,

Khí hiềm Tây tặc giang tiền do khởi nộ ba.

Tạm dịch:

Nghĩa báo trời Nam, trên nỗng, thường bồi tiết cả,

Nỗi oán giặc Tây, trên sông còn nổi sóng giận.

 mà không hề quan tâm đến nguyên nhân là do sự cộng hưởng của gió và dòng chảy nơi hợp lưu hai con sông lớn. Hai câu đối ấy nay vẫn còn đề ghi ở hai bên cửa Miễu, bên trong bàn thờ chính là "Vị quốc tử nghĩa thần" và phía trên là "Hạo khí trung liệt". Người ta còn lý giải rằng, dòng họ Mai Bá ở đây là những người lính trong đoàn vận lương của ông khi xưa còn sống sót đã ở lại lập làng vì mến nghĩa ông mà lấy họ Mai làm họ cho mình.

Kỷ niệm 310 năm ngày tuẫn tiết của Mai Công Hương, Miễu Ông Bần Quỳ được xây dựng mới vì ngôi miễu cũ đã xuống cấp và có nguy cơ bị sụp lở do nước làm xói mòn. Miễu Ông Bần Quỳ là một trong những ngôi miếu cổ xưa nhất ở Long An và Nam Bộ. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, qua bao lần trùng tu, xây dựng lại và di dời do dòng nước xâm thực, do đạn pháo chiến tranh, Miễu Ông Bần Quỳ gắn với tấm gương trung liệt của Mai Công Hương vẫn trường tồn cho đến ngày nay. Phải chăng đây là sự khởi đầu của đôi dòng Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây oai hùng, bất tử.

Về thăm lại xã Nhựt Ninh anh hùng – quê hương của Đám Lá Tối Trời lừng danh trong thời bom đạn, nhìn những cánh đồng lúa trải dài, chứng kiến bao sự đổi thay mà miên man suy tưởng, phải chăng nó được khơi nguồn từ quá khứ bi tráng mà hào hùng của lớp cha ông từ những ngày đầu đi mở đất phương Nam./.

      Người viết

Nguyễn Tấn Quốc

02/02/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
ĐỨC HUỆ QUAN TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐỨC HUỆ QUAN TÂM CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

Thời gian qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền và tổ chức đoàn thể huyện Đức Huệ luôn xác định việc xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh là một trong những giải pháp quan trọng trong việc phòng, chống tệ nạn xã hội và các sản phẩm văn hóa độc hại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Huyện luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người được tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Lãnh đạo huyện và cơ sở luôn quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng giáo dục chính trị tư tưởng để mọi người nâng cao nhận thức, xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

18-5-2020 Duc Hue quan tam cong tac xay dung doi song VH.png

Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Đức Huệ

Bên cạnh đó, huyện luôn quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp hệ thống các thiết chế  văn hóa, thể thao để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, thể thao của nhân dân. Trong thời gian qua, huyện đã xây mới Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh với cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị cơ bản đảm bảo phục vụ cho nhu cầu phát triển văn hóa, thể thao và truyền thanh của địa phương. Đồng thời, khai thác và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa gồm: 1 bưu điện trung tâm, 11 bưu điện văn hóa xã – thị trấn, 1 đội thông tin lưu động, 1 thư viện, 1 công viên, 3 sân bóng đá, 4 sân bóng chuyền, 18 sân cầu lông, 9 Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Học tập cộng đồng xã, thị trấn. Hệ thống truyền thanh của huyện có 11 Đài cấp xã, 60 trạm truyền thanh ấp, khu phố đã cơ bản phủ sóng toàn bộ địa bàn huyện, các thiết chế này, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. Ngoài ra, huyện thực hiện tốt công tác xây dựng gia đình văn hóa, nhân dân tích cực hưởng ứng xây dựng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.

Hiện tại, toàn huyện có 96,15% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa, 49/49 ấp, khu phố đạt chuẩn văn hóa. Các giá trị văn hóa truyền thống được nhân dân bảo tồn, phát huy, các hủ tục lạc hậu được xóa bỏ. Từ đó, khơi dậy niềm tin trong cộng đồng dân cư, phát huy vai trò tự quản, góp phần xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội ./.         

Tấn Hữu

19/05/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI KỂ CHUYỆN THEO SÁCH NĂM 2020 CẦN ĐƯỚC TỔ CHỨC HỘI THI KỂ CHUYỆN THEO SÁCH NĂM 2020

Với hình thức sân khấu hóa, Hội thi kể chuyện theo sách năm 2020 do Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Cần Đước phối hợp cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức thu hút sự tham gia của các em học sinh, tạo sự lan tỏa hơn trong phong trào đọc sách ở các trường.

1.2 Tiet muc thi ke chuyen theo sach tai truong THCS My Le.JPG

Hội thi được tổ chức từ ngày 23 - 31/10/2020 tại 5 điểm trường trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện gồm Trường THCS Tân Lân, THCS Tân Chánh, THCS Phước Đông, THCS Mỹ Lệ và THCS Long Hòa, với 43 thí sinh tham gia dự thi được chọn từ các phần thi kể chuyện tiêu biểu ở các khối lớp. Thấy được tầm quan trọng của việc đọc sách đối với học sinh nên Ban Giám hiệu các trường có sự quan tâm, đầu tư cho hội thi, nhất là từng lớp học khối THCS đều có thí sinh tham gia dự thi và có sự đầu tư cho các tiết mục khá công phu. Với chất giọng ngọt ngào cùng phần sân khấu hóa sinh động, các em đã tái hiện những câu chuyện về tình yêu quê hương, đất nước, về Bác Hồ, anh hùng liệt sĩ, tình cảm gia đình, lòng yêu thương bao la của cha mẹ và phê phán những thói hư tật xấu, lòng tham của con người, ca ngợi tinh thần hiếu học, vượt khó vươn lên.

Đây là năm thứ 3 liên tiếp kể từ năm 2018, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện phối hợp với phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức Hội thi kể chuyện theo sách ở tất cả các trường THCS. Kết quả hội thi cho thấy từng trường, từng thí sinh tham gia dự thi đều có sự tập trung và chăm chút cho phần thi của mình. Thông qua hội thi đã khuyến khích các em học sinh thêm yêu thích đọc sách, sưu tầm và kể những câu chuyện đã đọc, đã học, làm phong phú thêm vốn từ cho các em, giúp các em rèn luyện kĩ năng làm chủ bản thân, mạnh dạn, tự tin hơn trong các hoạt động phong trào./.

Cẩm Tú – Hồng Phong

04/11/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
NGƯỜI CÁN BỘ TÂM HUYẾT VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA NGƯỜI CÁN BỘ TÂM HUYẾT VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA

Gần 10 năm gắn bó với công tác văn hóa, anh Trương Văn Trẩn (sinh năm 1976), xã Lương Bình, huyện Bến Lức luôn được cấp trên và đồng nghiệp tin tưởng, người dân quý mến bởi sự năng động, nhiệt tình, không ngại khó khăn, luôn miệt mài với công việc.

ngay 22-12-2020, ben luc Nguoi can bo tam huyet voi hoat dong van hoa.jpg

Anh Trương Văn Trẩn – Người có nhiều đóng góp tích cực
trong hoạt động văn hóa tại địa phương

Năm 2011, anh Trương Văn Trẩn về công tác tại UBND xã Lương Bình với chức danh công chức Văn hóa - Xã hội. Sinh ra và lớn lên ở xã, nên anh Trẩn nắm rõ địa bàn và hiểu được đời sống văn hóa của người dân địa phương... Tuy nhiên, thời kỳ này do cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hóa của xã còn thiếu thốn, các ấp chưa có nhà văn hóa nên chưa có nhiều hoạt động, chưa thu hút được đông đảo nhân dân tham gia. Để từng bước khắc phục những khó khăn này, anh Trẩn đã làm tốt công tác tuyên truyền và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đưa ra các giải pháp phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, đồng thời kêu gọi các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn ủng hộ kinh phí, tạo nguồn lực để tổ chức các hoạt động. Với sự quan tâm đầu tư của xã, sự chung tay góp sức của các tầng lớp nhân dân, đến nay 4/4 ấp đều có nhà văn hóa, mỗi ấp thành lập 1 câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ hoạt động tích cực, sôi nổi. Là cán bộ văn hóa, anh Trẩn kiêm phụ trách hoạt động của đài truyền thanh xã. Bên cạnh việc tiếp âm 3 cấp, hàng ngày anh còn biên soạn, viết các tin, bài để phát thanh, giúp người dân nắm bắt kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các hoạt động của địa phương. Hình ảnh người cán bộ văn hóa đa năng thể hiện rõ nét ở các đợt tuyên truyền về những sự kiện lớn, các ngày lễ, tết của huyện, của xã, đặc biệt là trong đợt phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Anh Trương Văn Trẩn, cán bộ Văn hóa – Xã hội, xã Lương Bình chia sẻ: "Để xây dựng, tổ chức và phát huy tốt các hoạt động văn hóa, thể thao, người làm công tác văn hóa cơ sở phải luôn nỗ lực hết mình. Chính vì thế, bản thân luôn chủ động nghiên cứu nắm bắt các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp trên và cấp ủy, chính quyền địa phương thuộc lĩnh vực mình được giao; cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ, triển khai đến cơ sở. Đồng thời theo dõi, nắm bắt tình hình tại cơ sở, qua đó kịp thời phát hiện những hạn chế, thiếu sót để có những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động phong trào".

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, anh Trẩn đã thường xuyên tuyên truyền, vận động các ấp và nhân dân ký cam kết thực hiện. Các ấp cũng đưa quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội vào quy ước hoạt động, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân. Việc xây dựng gia đình, ấp, khu phố văn hóa, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2020, xã Lương Bình có 97,07% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa; 4/4 ấp được công nhận văn hóa, 100% cơ quan, đơn vị và trường học được công nhận văn hóa. Nhiều năm nay, anh Trẩn cũng đã tham mưu cho lãnh đạo xã tổ chức các giải thể thao phong trào như giải bóng chuyền nam, bóng bàn, cờ tướng, cầu lông, bóng đá thanh, thiếu niên... Qua đó, đưa phong trào luyện tập thể dục thể thao trên địa phương ngày càng phát triển.

Anh Nguyễn Thanh An, Phó Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Bến Lức cho biết: "Anh Trương Văn Trẩn là người cán bộ văn hóa năng động, sáng tạo, đầy nhiệt huyết với phong trào chung, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng tại địa phương nói riêng và huyện Bến Lức nói chung".

Nhiệt tình, tâm huyết với công việc, lại có thời gian làm công tác văn hóa lâu năm, anh Trương Văn Trẩn đã có nhiều đóng góp tích cực, góp phần đưa xã Lương Bình đạt chuẩn xã văn hóa - nông thôn mới vào cuối năm 2020. Bản thân anh Trẩn đã được các cấp, các ngành ghi nhận, tặng nhiều giấy khen và bằng khen./.

Việt Hằng – Thái Tần

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
VĨNH HƯNG - SAU 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI VĨNH HƯNG - SAU 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ SỐ 41-CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC LỄ HỘI

Vĩnh Hưng là huyện biên giới thuộc vùng Đồng Tháp Mười và nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An với diện tích tự nhiên gần 37.811,89 ha, chia thành 10 đơn vị hành chính (9 xã, 1 thị trấn) với 55 ấp, khu phố; trong đó có 5 xã giáp biên giới Campuchia với chiều dài đường biên giới 45.62km (gồm các xã Thái Bình Trung, Thái Trị, Tuyên Bình, Khánh Hưng, Hưng Điền A), dân số là 50.274 người, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

Trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng hiện có 4 lễ hội chính đó là: Lễ cúng rằm tháng Giêng, Lễ Phật đản, Lễ Vu lan (rằm tháng Bảy) diễn ra tại Di tích văn hóa Chùa Cổ Sơn (Chùa Nổi) và lễ tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Di tích lịch sử Quốc gia khu vực Đồn Long Khốt vào ngày 19/5 hàng năm thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân trong và ngoài huyện đến tham dự.

Ngoài ra, hàng năm các cơ quan, đơn vị và các địa phương còn tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao đón Tết Nguyên đán, các sự kiện, các ngày lễ lớn, Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc, Đêm hội trăng rằm… đúng theo quy định của pháp luật, hiệu quả, tiết kiệm phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Bên cạnh đó, các trò chơi dân gian như kéo co, nhảy bao bố, đẩy gậy, bịt mắt đập niêu… cũng được tổ chức, tạo không khí vui tươi, lành mạnh thu hút đông đảo người dân tham gia.

Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 41-CT/TW, nhận thức của các cấp, các ngành và nhân dân được nâng lên rõ rệt. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội; bảo đảm việc quản lý và tổ chức lễ hội của từng ngành, địa phương theo đúng quy định của pháp luật; thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm; phù hợp với thuần phong mỹ tục, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có ý nghĩa giáo dục cao; đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn huyện từng bước đi vào nề nếp. Hoạt động lễ hội diễn ra phong phú, đa dạng, phát huy được vai trò chủ thể, năng lực sáng tạo các giá trị văn hóa của nhân dân; giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn", tôn vinh người có công với dân, với nước, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân, tạo khí thế vui tươi, lành mạnh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. 

Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa luôn được các ngành, các địa phương quan tâm, duy trì và thực hiện thường xuyên. Hiện nay, trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng có tổng cộng 7 di tích đã được công nhận gồm: 2 di tích cấp quốc gia (Di tích khảo cổ học Gò Ô chùa, Di tích lịch sử khu vực Đồn Long Khốt), 5 di tích cấp tỉnh (Gò Ông Lẹt, Gò Chùa Nổi, Sông Vàm Cỏ Tây, Lò Gạch, Gò Duối) và cây di sản tại Chùa Nổi (1 trôm mõ, 5 cây đầu rái). Qua đây nhằm góp phần giáo dục truyền thống, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức của mọi người trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử và văn hóa, nâng cao hơn nữa niềm tin, lòng tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc nói chung, về hình ảnh đất và con người Vĩnh Hưng nói riêng.

Nhìn chung các phong tục, tập quán lạc hậu trên địa bàn huyện từng bước được xóa bỏ, thay vào đó là việc thực hiện lối sống lành mạnh, văn minh. Môi trường văn hóa được cải thiện, công tác quản lý và tổ chức lễ hội được quan tâm thực hiện, từng bước được đầu tư cơ sở vật chất gắn với xây dựng nông thôn mới và xây dựng đô thị văn minh./.

Phú Hùng

05/11/2020 9:00 SAĐã ban hànhApproved
TÂN THẠNH TỔ CHỨC HỘI THI CA TÀI TỬ - VỌNG CỔ NĂM 2020 TÂN THẠNH TỔ CHỨC HỘI THI CA TÀI TỬ - VỌNG CỔ NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Tân Thạnh tổ chức Hội thi ca tài tử  - vọng cổ năm 2020. Hội thi thu hút sự tham gia của 34 thí sinh đến từ 13 xã, thị trấn trong huyện. Đến với hội thi, mỗi đơn vị tham gia một chương trình thể hiện tiết mục về ca cổ: Vọng cổ nhịp 16 (6 câu) hoặc vọng cổ nhịp 32 (4 câu). Về ca tài tử, các thí sinh chọn bài trong 20 bài tổ. Nội dung ca ngợi thành tựu xây dựng quê hương trong thời kỳ đổi mới; ca ngợi Đảng, Bác Hồ; ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước.

22-12-2020  Thí sinh đang biểu diễn tiết mục tham gia tranh tài tại hội thi.jpg

Thí sinh đang biểu diễn tiết mục tham gia tranh tài tại hội thi

Qua một ngày tranh tài, Ban Tổ chức đã trao giải cho các thí sinh đạt kết quả cao trong hội thi. Về ca vọng cổ, giải nhất thuộc về thí sinh Huỳnh Văn Vũ, đơn vị xã Hậu Thạnh Đông; giải nhì thuộc về thí sinh Châu Long Hiếu, đơn vị xã Tân Lập và Phan Thị Trúc Mai, đơn vị xã Nhơn Hòa; giải ba thuộc về các thí sinh Lê Văn Thuấn, đơn vị thị trấn Tân Thạnh, thí sinh Trần Hữu Hạnh, đơn vị xã Tân Bình và Nguyễn Thị Trấm, đơn vị xã Nhơn Ninh. Về ca tài tử, giải nhất thuộc về thí sinh Nguyễn Thanh Tâm, đơn vị xã Kiến Bình; giải nhì thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Cẩm ly, đơn vị xã Tân Bình; giải ba thuộc về thí sinh Nguyễn Duy Ánh, đơn vị xã Tân Ninh và thí sinh Nguyễn Thị Diệu, đơn vị thị trấn Tân Thạnh. Ngoài ra Ban Tổ chức còn trao giải cho thí sinh hát về Tân Thạnh hay nhất, thí sinh trẻ tuổi nhất và nhiều giải khuyến khích cho các thí sinh đạt thứ hạng cao trong hội thi.

22-12-2020 Các thí sinh đạt giải trong hội thi.jpg

Các thí sinh đạt giải trong hội thi

Hội thi nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử - vọng cổ; đồng thời nhân rộng phong trào đờn ca tài tử - vọng cổ ở khắp các xã, thị trấn, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; tạo điều kiện để các thí sinh trong huyện có dịp giao lưu, trao đổi kinh nghiệm; phát hiện những nhân tố mới để đào tạo, bồi dưỡng tài năng; nâng cao chất lượng hoạt động nghệ thuật; góp phần phát triển sự nghiệp văn hóa của huyện và phục vụ tốt đời sống tinh thần của nhân dân./.              

Kim Nhạn

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020 TRAO GIẢI CUỘC THI ĐỌC SÁCH TÌM HIỂU “ĐỨC HUỆ QUÊ HƯƠNG TÔI” NĂM 2020

Chiều ngày 03/11/2020, Ban Tổ chức cuộc thi đọc sách tìm hiểu "Đức Huệ quê hương tôi" tổ chức trao giải cho 10 cá nhân đạt giải nhất, nhì, ba và khuyến khích; 3 tập thể đạt giải nhất, nhì, ba do có số lượng bài tham gia nhiều và đạt chất lượng nhất tại cuộc thi. Thí sinh Tô Ngọc Thuận đến từ Công đoàn cơ sở (CĐCS) Khối Đảng đã xuất sắc đạt giải nhất cuộc thi.

4-11-2020 Thi sinh To Ngoc Thuan - CDCS dat giau nhat.JPG

Thí sinh Tô Ngọc Thuận, CĐCS Khối Đảng đạt giải nhất (áo dài vàng)

Đây là cuộc thi do Liên đoàn Lao động huyện Đức Huệ phối hợp với Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện tổ chức dành cho tất cả cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện. Qua gần 2 tháng phát động, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được 103 bài dự thi của các công đoàn viên thuộc 27 CĐCS trên địa bàn huyện. Mỗi bài dự thi phải trả lời đầy đủ 10 câu hỏi trắc nghiệm và viết tự luận bằng văn xuôi không quá 2.000 từ. Phần viết tự luận, thí sinh được phép viết tay hoặc đánh máy, trình bày rõ ràng, sạch đẹp, có tranh ảnh, minh họa và những tài liệu dẫn chứng liên quan đến bài thi. Ông Nguyễn Thành Hưng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện, Trưởng ban Tổ chức cuộc thi cho biết: Theo nhận xét của Ban Tổ chức cuộc thi thì đa số các bài dự thi đều có sự nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin liên quan đến nội dung thi và thể hiện được sự cảm nhận của bản thân về khó khăn của huyện Đức Huệ ngày xưa và sự chuyển mình, phát triển của huyện nhà ngày hôm nay và trong tương lai.

Mục đích của cuộc thi nhằm xây dựng và phát triển phong trào đọc sách trên địa bàn huyện, hướng tới xây dựng một xã hội học tập, một nét đẹp trong đời sống xã hội để tôn vinh giá trị của sách cũng như khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập… Điều quan trọng nhất là thông qua cuộc thi giúp cho cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động trên địa bàn huyện nghiên cứu, tìm hiểu sự phát triển của huyện nhà trong thời gian qua, đồng thời thể hiện sự quyết tâm đóng góp sức mình vào công cuộc đổi mới, phát triển của huyện nhà, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Đức Huệ lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020 - 2025./.

Tiến Anh

04/11/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
THÊM MỘT ĐỊA CHỈ ĐỎ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG THÊM MỘT ĐỊA CHỈ ĐỎ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

Vừa qua, Phòng Truyền thống lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) huyện Bến Lức được khánh thành và đi vào hoạt động đã trở thành một địa chỉ đỏ trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ trên địa bàn huyện.

5-10-2020 Thêm một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng.jpg

Sau khi Phòng Truyền thống LLVTND huyện được khánh thành và đưa vào hoạt động, Đảng ủy, Ban Chấp hành Đoàn các xã, thị trấn trong huyện đã phối hợp với Đảng ủy – Ban Chỉ huy Quân sự huyện tổ chức cho các bạn đoàn viên, thanh niên đến tham quan. Đến nay, Phòng Truyền thống LLVTND huyện đã tiếp nhiều đoàn với hàng trăm lượt đoàn viên, thanh niên, học sinh đến tham quan, tìm hiểu về truyền thống hào hùng của quê hương qua các thời kỳ.

Với các hiện vật được trưng bày tại Phòng Truyền thống LLVTND huyện như: Áo gối của bà Nguyễn Thị Ngọc Khọn tự thêu khi địch bắt giam tại nhà tù Côn Đảo cùng với câu chuyện đằng sau đó, hay chiến tích lịch sử về trận đánh vận động phục kích tại Rạch Mương Trám, xã Thạnh Lợi… đã bồi đắp, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống quê hương, hun đúc thêm tình yêu nước trong lòng thế hệ trẻ.

Ngoài các địa chỉ đỏ trên địa bàn huyện như: Khu di tích Đình Mương Trám, Khu vực Xóm Nghề, Nhà và lò gạch Võ Công Tồn… thì Phòng Truyền thống LLVTND huyện là một địa chỉ đỏ nữa góp phần vào việc giáo dục truyền thống cách mạng huyện nhà. Qua đây bồi đắp nâng cao tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ, khơi dậy, phát huy lòng tự hào dân tộc, tinh thần xung kích, tình nguyện đi đầu trong tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng huyện Bến Lức ngày càng phát triển, xứng danh huyện 3 lần được phong tặng danh hiệu anh hùng./.

Kim Phượng – Thanh Tâm

05/10/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
VĨNH HƯNG - CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA VĨNH HƯNG - CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA

Vĩnh Hưng là huyện biên giới thuộc vùng Đồng Tháp Mười và nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An với diện tích tự nhiên gần 37.811,89 ha, chia thành 10 đơn vị hành chính (9 xã và 1 thị trấn) với 55 ấp, khu phố; trong đó có 5 xã giáp biên giới Campuchia với chiều dài đường biên giới 45.62 km, dân số 50.274 người, đời sống nhân dân tương đối ổn định, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình hình thành và phát triển, địa phương có một số di tích lịch sử - văn hóa. Hiện nay, toàn huyện có tổng cộng 7 di tích đã được công nhận, trong đó: 2 di tích cấp quốc gia (Di tích khảo cổ học Gò Ô chùa, Di tích lịch sử Khu vực Đồn Long Khốt), 5 di tích cấp tỉnh (Di tích lịch sử trận đánh Gò Ông Lẹt, Di tích lịch sử trận đánh Đoạn sông Sông Vàm Cỏ Tây, Di tích lịch sử - văn hóa Chùa Cổ Sơn (Chùa Nổi), Di tích khảo cổ Lò Gạch, Di tích khảo cổ Gò Duối); Đền thờ Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Viết, 9 bia tưởng niệm ghi danh các anh hùng liệt sĩ tại các xã. Trong những năm qua, công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện luôn được cấp ủy, chính quyền và nhân dân quan tâm, duy trì và thực hiện.

22-12-2020 Den tho me VNAH Tran Thi Viet.jpg

Lễ khánh thành Nhà tưởng niệm Mẹ VNAH Trần Thị Viết tại xã Tuyên Bình Tây

Nhằm phát huy di tích lịch sử - văn hóa trong giáo dục truyền thống, lòng yêu nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn. Thời gian qua, huyện Vĩnh Hưng đã lập Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hầu hết các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện, tích cực phối hợp các ngành, các cấp bằng các nguồn kinh phí của Trung ương, tỉnh, huyện, xã, thị trấn và đóng góp của nhân dân, toàn huyện đã nâng cấp hàng nghìn mộ liệt sỹ; chỉnh trang nghĩa trang liệt sỹ huyện, nhà bia, đền thờ liệt sỹ ngày một khang trang hơn; đầu tư các hạng mục công trình của một số di tích lịch sử trên địa bàn như: Công trình Đền thờ nhà bia Di tích lịch sử trận đánh Gò Ông Lẹt, Di tích lịch sử Khu vực Đồn Long Khốt, Di tích lịch sử - văn hóa Chùa Cổ Sơn, Đền thờ Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Viết và các bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, với tổng nguồn vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng.

Trong kêu gọi xã hội hóa vận động các tổ chức, cá nhân đầu tư các hạng mục trong các khu di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện, có thể kể công trình tiêu biểu như Dự án cải tạo nâng cấp Di tích lịch sử quốc gia Đồn Long Khốt. Dự án này do Ban Liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 174 và Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh đã mời gọi được nhà tài trợ là Liên hiệp Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai tài trợ đầu tư xây dựng với kinh phí dự kiến tổng mức đầu tư dự án trên 84 tỷ đồng. Giai đoạn đầu, đầu tư trên 20 tỷ gồm các hạng mục: Đền thờ với diện tích xây dựng 1.100m, chiều cao 16,4m; không gian sử dụng: Đại sảnh, gian thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở chính giữa, bia ghi tên các anh hùng liệt sỹ, 1 giá chuông, 1 giá chống và 05 bàn thờ. Đây là công trình có quy mô và ý nghĩa to lớn, mang tính lịch sử và tri ân các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong các cuộc kháng chiến tại Đồn Long Khốt. Sau khi hoàn thành, Di tích lịch sử quốc gia Khu vực Đồn Long Khốt sẽ hòa cùng hệ thống các di tích văn hóa - lịch sử khác trở thành một quần thể di tích lịch sử - văn hóa rộng lớn trên địa bàn huyện Vĩnh Hưng, góp phần giáo dục truyền thống, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức của mọi người trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử và văn hóa, nâng cao hơn nữa niềm tin, lòng tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc nói chung, về hình ảnh đất và con người Vĩnh Hưng nói riêng.

22-12-2020 Đền tưởng niệm Dự án Khu di tích lịch sử Quốc gia Đồn Long Khốt.jpg

Đền thờ liệt sĩ, Di tích lịch sử Quốc gia khu vực Đồn Long Khốt
đang trong giai đoạn hoàn thành

Nhìn chung, các di tích được xây dựng và bảo tồn đã tái hiện một cách đầy đủ, toàn diện, chân thực, sinh động về truyền thống kiên cường, bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo của Đảng bộ và Nhân dân huyện Vĩnh Hưng, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho đời sau nhất là thế hệ trẻ.

Thời gian tới, Huyện ủy tiếp tục chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền và nhân dân đề cao hơn nữa hiệu quả công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa, di tích lịch sử cách mạng, cần nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn. Đồng thời, tăng cường liên kết, phối hợp với các ngành có liên quan, các địa phương để tuyên truyền đến người dân ý thức thực hiện việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích. Bên cạnh đó, thường xuyên khảo sát các di tích để kịp thời lập hồ sơ đề nghị xếp hạng đối với các di tích đủ điều kiện; kịp thời khảo sát, xây dựng kế hoạch để bố trí kinh phí thực hiện công tác trùng tu, tôn tạo đối với các di tích đã xếp hạng bị xuống cấp; phát hiện và có giải pháp thực hiện trùng tu, sủa chữa đối với các di tích chưa được xếp hạng hoặc đã xuống cấp; khoanh vùng, bảo vệ, kiểm tra và xử lý các trường hợp xâm chiếm di tích. Mặt khác, tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là kinh phí từ xã hội hóa, huy động nguồn lực từ Nhân dân tiếp tục kêu gọi, xúc tiến đầu tư triển khai các dự án du lịch tâm linh gắn với phát huy có hiệu quả các di tích văn hóa - lịch sử: Chùa Cổ Sơn, Khu vực tưởng niệm Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Viết và các dự án khác... tạo động lực phát triển kinh tế,đột phá du lịch của huyện; đồng thời thực hiện tốt công tác bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa của địa phương./.

                                Phòng VH và TT huyện Vĩnh Hưng

22/12/2020 8:00 SAĐã ban hànhApproved
CẦN GIUỘC: TỔ CHỨC LỄ DÂNG HƯƠNG KỶ NIỆM 48 NĂM NGÀY HY SINH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THÁI BÌNH CẦN GIUỘC: TỔ CHỨC LỄ DÂNG HƯƠNG KỶ NIỆM 48 NĂM NGÀY HY SINH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THÁI BÌNH

Ngày 02/7/2020, UBND thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc tổ chức Lễ dâng hương kỷ niệm 48 năm ngày hy sinh Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - liệt sĩ Nguyễn Thái Bình (02/7/1972 - 02/7/2020). Ông Nguyễn Phước Hùng, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy cùng lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể huyện, thị trấn đến dự.

2-7-2020 Quang canh le dang huong AHLLVTND Nguyen Thai Binh.png

Quang cảnh lễ dâng hương

Tại buổi lễ, các đại biểu ôn lại thân thế, sự nghiệp đồng chí Nguyễn Thái Bình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nguyễn Thái Bình sinh ngày 14/01/1948, trong một gia đình lao động nghèo đông anh em tại huyện Cần Giuộc. Anh từng theo học tại Trường Petrus Ký (Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong ngày nay), Cao đẳng Nông lâm súc trước khi được nhận học bổng du học tại Mỹ năm 1968. Anh được biết đến như là một trong những du học sinh Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ trong phong trào phản chiến ở Mỹ.

Trong suốt 4 năm du học tại Mỹ (1968-1972), Nguyễn Thái Bình đã có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí của Mỹ và lúc nào anh cũng giới thiệu một cách trang trọng "Tôi là người Việt Nam". Anh cũng dẫn đầu nhóm sinh viên Việt Nam tại Mỹ chiếm lĩnh Tòa lãnh sự của chính quyền Sài Gòn tại trụ sở Liên hiệp Quốc ở New York để phát đi những bản tuyên bố lên án đế quốc Mỹ và đòi trả tự do cho nhiều tù nhân trong các phong trào đấu tranh trong nước.

Ngày 19/5/1972, tại Mỹ, anh đã cùng các sinh viên Việt Nam yêu nước khác tổ chức Lễ kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì thế anh bị tước học bổng theo học Cao học tại Đại học Washington và buộc phải về nước. Tại buổi lễ trao học vị của mình, tháng 5/1972, anh đã phát truyền đơn phản chiến làm gián đoạn buổi lễ và tuyên bố rằng: "Chính Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về những tội ác tàn phá ở Việt Nam và Đông Dương". Anh còn viết hai bức thư ngỏ, một cho nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, một cho Tổng thống Mỹ Nixon để tuyên bố rằng: "Nếu tôi bị giết, hàng triệu người Việt Nam sẽ thay tôi chiến đấu cho đến khi chúng tôi chấm dứt cuộc chiến tranh". Thấy không khuất phục được anh, lúc 10 giờ sáng ngày 02/7/1972, trên chuyến phi cơ Boeing 747 mang số 841 đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, kẻ thù đã tìm cách bắn chết anh.

Ghi nhận thành tích đặc biệt xuất sắc của Nguyễn Thái Bình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 21/02/2010, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 2012, tỉnh Long An cho chủ trương xây dựng công viên, tượng đài Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thái Bình, đặt tại xã Tân Kim (nay thuộc thị trấn Cần Giuộc), khu vực ngã ba Nguyễn Thái Bình, quốc lộ 50 và cửa ngõ từ Thành phố Hồ Chí Minh vào trung tâm thị trấn Cần Giuộc. Việc hoàn thành công trình tượng đài tôn vinh Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thái Bình góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau, là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống giáo dục của cộng đồng dân cư./.

Phương Cảnh

03/07/2020 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”Chào mừng Liên hoan Cải lương toàn quốc - 2018 (Từ ngày 05 đến ngày 19/9/2018). Kỳ 3: “Cải cách hát ca theo tiến bộ”

Trải qua quá trình phát triển rực rỡ, cải lương đang mất dần vị thế "độc tôn" bởi qui luật phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển của công nghệ thông tin. Cải lương ở Long An không nằm trong ngoại lệ đó. Ngày 28/4/2018, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Trung ương và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học "Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương ở Việt Nam (1918-2018) - Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển". Kết thúc loạt bài này, tác giả muốn thể hiện quan điểm tiếp cận bảo tồn phát triển của cuộc hội thảo này.

1. Đôi điều suy nghĩ

Bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng phải chấp nhận những nguy cơ bị đào thải trong sự phát triển chung của nền văn hóa nghệ thuật, đó là qui luật, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin, các loại hình giải trí khác trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã dần tước đi vị thế "độc tôn" của Cải lương. Trong khi đó, quá trình chuyển giao thế hệ ở sân khấu cải lương có một khoảng trống về đội ngũ kế thừa, nhất là 3 nhân tố quan trọng làm nên vở cải lương là: tác giả, danh cầm và diễn viên. Cải lương vì vậy đang không theo kịp tiết tấu cuộc sống đương thời để thể hiện những cảm quan mới, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ trong công chúng nghệ thuật.

Trong bối khó khăn, khủng hoảng chung hiện nay, cải lương ở Long An có những thuận lợi cơ bản. Đó là được sự quan tâm và định hướng của lãnh đạo tỉnh về nghệ thuật truyền thống này, đầu tư kinh phí để đảm bảo tồn tại và hoạt động, có điều kiện đối nội, đối ngoại, nguồn kịch bản và những trụ cột nghề nghiệp liên kết các thế hệ, cơ sở vật chất trang thiết bị được đầu tư, sự hài hòa đồng điệu giữa các thế hệ diễn viên… Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của cải lương Long An là vấn đề kịch mục, Đoàn không có tác giả và đạo diễn riêng, phải lệ thuộc bên ngoài và công tác dàn dựng rất tốn kém.

Hai nghị quyết có tác động tích cực và trực tiếp đến đời sống, sự phát triển của nền văn học nghệ thuật cả nước là Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ngày 16/7/1998 về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" xác định nhiệm vụ trọng yếu là "phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người" và Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới" chỉ rõ "tài năng văn học nghệ thuật là vốn quý xã hội". Nghệ thuật Cải lương với những đóng góp cho nền nghệ thuật nước nhà suốt 100 năm qua phải chăng là "vốn quí xã hội". Chính vì vậy, người viết tán thành quan điểm mạnh dạn xác định Cải lương là di sản văn hóa phi vật thể, một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc và cần được Nhà nước bảo trợ nhằm bảo tồn trước nguy cơ bị tác động làm cho suy thoái, mai một.

Về vấn đề quan điểm bảo tồn, trở lại với tên gọi cải lương. Dưới dạng danh từ chung, cải lương (không viết hoa) hay chủ nghĩa cải lương là một học thuyết chính trị chủ trương cải cách thể chế xã hội đang tồn tại; dưới dạng động từ thì có nghĩa cải tiến, cải thiện, tiến bộ hay làm cho hoàn thiện; dưới dạng danh từ riêng, Cải lương (viết hoa) dùng để gọi tên một thể loại sân khấu ở Việt Nam ra đời vào đầu thế kỷ XX. Còn chính thức được gọi riêng cho một kiểu sân khấu mới, theo Giáo sư Trần Văn Khê (Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, 2004, Nhà xuất bản Trẻ) là do ghép lại từ hai chữ đầu của hai câu liễn treo trên bảng hiệu của gánh hát Tân Thinh - Sa Đéc của ông bầu Trương Văn Thông vào năm 1920, mọi người sử dụng dần dà rồi thành thông dụng: Cải cách hát ca theo tiến bộ/Lương truyền tuồng tích sánh văn minh. Như vậy, cải lương (không viết hoa) hay Cải lương (viết hoa) thì nội hàm đều là sự vận động và đổi mới (cải tiến, sáng tạo) không ngừng. Cải lương vì vậy từ bản chất và với tên gọi ban đầu của nó đã cho thấy luôn phải vận động để phù hợp với thời đại mà nó đang tồn tại.

2. Thử đi tìm giải pháp

Trên quan điểm đó, thiết nghĩ Long An trong bảo tồn và phát huy di sản cải lương là không thể theo kiểu bao cấp lâu dài vì địa phương còn nhiều khó khăn, cũng không thể bảo tồn và phát huy theo kiểu tự hào quá khứ, đề cao danh hiệu, mà không có kế hoạch chăm lo phát triển theo đà phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, chỉ có thể bảo tồn trên cơ sở phát huy.

Trước tình hình trên, Long An có hai hướng để giải quyết. Một, là về những vấn đề cần thiết trước mắt để duy trì và ổn định hoạt động cải lương chuyên nghiệp nhằm kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh nhà. Hai, là về lâu dài, từng bước giải quyết có định hướng phát triển nghệ thuật truyền thống này đi đôi với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, an ninh quốc phòng… nhằm đáp ứng nhu cầu nghệ thuật truyền thống tỉnh nhà hòa nhập với thời đại chung với yêu cầu phát triển các lĩnh vực của toàn tỉnh.

Từ định hướng đó, thiết nghĩ giải pháp bảo tồn và phát triển cần chú ý đến các vấn đề sau:

Một, nâng cao năng lực thưởng thức trong công chúng. Theo đó, các ngành truyền thông tỉnh Long An cần có chương trình phổ cập kiến thức âm nhạc tài tử, cải lương cho công chúng qua hình thức báo, đài với chương trình định kỳ để công chúng cơ hội nắm bắt, tiếp cận loại hình nghệ thuật truyền thống này. Tổ chức hội, chi hội sân khấu, trung tâm văn hóa, các câu lạc bộ… ngoài hoạt động chuyên môn nên dành thời gian và điều kiện cho hoạt động phổ cập kiến thức này thông qua tạp chí chuyên ngành, trang thông tin… Việc nâng cao năng lực thưởng thức nghệ thuật cải lương sẽ tác động tích cực đến các giải pháp khác như hỗ trợ bồi dưỡng nhân lực; duy trì và tăng cường hoạt động hội diễn/hội thi; góp phần hỗ trợ cho các câu lạc bộ.

Hai, bồi dưỡng nhân lực, do đặc thù đào tạo diễn viên sân khấu cải lương, nên cần phải có chiến lược bồi dưỡng nhân lực từ xa và có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng chuyên nghiệp hơn. Đó là bồi dưỡng từ xa là phải tạo ra cho đối tượng sự ham thích bộ môn nghệ thuật này thông qua chương trình đào tạo ngoại khóa ở nhà trường phổ thông và các khóa học chuyên môn ở các câu lạc bộ địa phương; có chính sách hỗ trợ cho việc bồi dưỡng có tính chuyên nghiệp là tạo cho lớp nhân lực này được vào các trường đại học sân khấu - điện ảnh và các trường đào tạo sân khấu, âm nhạc cổ truyền bậc đại học, cao đẳng, để sau này trở thành lực lượng chuyên nghiệp.

Ba, duy trì và tăng cường hoạt động tổ chức, tham gia hội thi, hội diễn, cần nên duy trì các hoạt động bằng nguồn ngân sách đã được hỗ trợ; mặt khác, vận động thêm các doanh nghiệp, công ty giúp kinh phí tăng cường tổ chức/tham gia hội thi/hội diễn của doanh nghiệp vừa để tạo phong trào, vừa để tăng thêm kinh phí hoạt động, nâng cao năng lực chuyên môn.

Bốn, thực hiện mô hình biểu diễn, cần vận động xã hội tạo điều kiện cho những mô hình ban hát hoạt động thường xuyên trong các dịp gia đình cần có âm nhạc để giúp vui hoặc chia buồn trong những đám tiệc, sinh nhật, cưới hỏi, hoặc tang gia, giỗ chạp ở địa phương. Sự tương tác này chắc chắn sẽ giúp gia chủ thỏa mãn nhu cầu âm nhạc; đồng thời hỗ trợ cho hoạt động cải lương có thêm kinh phí hoạt động nâng cao năng lực biểu diễn, bởi niềm đam mê nghệ thuật trong công chúng còn rất cao. Vấn đề là làm cách nào cho phù hợp với tình hình mới.

Thay lời kết

Xin gửi lời tri ân đến các thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ qua từng bước thăng trầm lịch sử của đất nước nói chung, nghệ thuật nước nhà nói riêng, đã suốt đời "tằm trả nợ dâu", hoạt động và cống hiến nghệ thuật không mệt mỏi để nhạc tài tử và cải lương góp phần làm nên "cốt cách Nam Bộ", trở thành một loại hình nghệ thuật dân tộc đặc trưng đất phương Nam, làm phong phú và đồ sộ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là làm sao để di sản tinh thần ấy tiếp tục trường tồn và phát huy, tiếp tục đóng góp vào quá trình hội nhập và phát triển của đất nước./.

 Nguyễn Tấn Quốc

(Hết)

12/09/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
SÂN KHẤU CUỘC ĐỜISÂN KHẤU CUỘC ĐỜI

"Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Lời nhân vật Giáo sư trong vở cải lương "Sân khấu cuộc đời" của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An trong cuộc thi nghệ thuật sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2015 tại tỉnh Bạc Liêu đầy cay đắng, chua xót. Bởi, bi kịch cuộc đời là những gì chết đi bên trong khi anh ta đang còn sống, khi đạo đức làm người không song hành cùng tài năng...

Cuộc đời là sân khấu...

"Sân khấu cuộc đời" – vở cải lương của tác giả Sỹ Hanh được chuyển thể cải lương bởi Đức Hiền, mới nghe qua, nhiều khán giả tưởng là câu chuyện về đời nghệ sĩ sau bức màn nhung sân khấu. Nhưng khi vở cải lương đi một nửa đoạn đường, nhiều khán giả sụt sùi nước mắt khi nhận ra, đây là vở diễn tâm lý - xã hội đầy bi kịch của đời người trong cuộc sống hôm nay. Và, ở thời đại ngày nay, sân khấu không là đời mà chính đời là sân khấu. Giữa cuộc sống, mỗi người như một diễn viên đang diễn một vai tuồng mà có kẻ diễn tốt đến độ che giấu bản chất xấu xa để lương tâm rơi vào hố sâu tội lỗi.

Thu Hương – vai chính trong vở cải lương là cô gái tròn tuổi 20 với nhiều ước mộng. Vốn yêu thích ca hát nên cô theo học trường chuyên về âm nhạc. Ngày ra trường, với tâm hồn non trẻ, cô thích được ngợi khen, tâng bốc và nhẹ dạ tin lời ngon ngọt của bác sĩ Hải – kẻ đánh mất đạo đức đem đến bi kịch cuộc đời cho cả Thu Hương và bác sĩ Mai.

Lối dạy dỗ hủ lậu, bảo thủ, chỉ muốn khư khư giữ con là của riêng mình từ mẹ khiến Thu Hương lạc lối, bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi trái tim với bác sĩ Hải. Tưởng rằng, tình yêu sẽ đẹp, sẽ êm như những lời hoa mỹ, năn nỉ mỗi khi cô ca sĩ giận hờn của Hải, nào ngờ trái tim Thu Hương đã trao lầm cho tên sở khanh. Lúc Thu Hương biết mình mang trong mình sinh linh bé nhỏ của Hải cũng là lúc tên bác sĩ có tài kém đức chuẩn bị làm lễ cưới với bác sĩ Mai – con gái Giáo sư. Cuộc hôn nhân chẳng xuất phát từ tình yêu chân thật mà chỉ là bàn đạp cho công danh, sự nghiệp của Hải đã đẩy người phụ nữ thứ 2 (Mai) rơi vào oan tình. Vì thương bác sĩ Hải là học trò giỏi, giáo sư đã truyền dạy tất cả những kinh nghiệm cả một đời làm nghề cứu người cho anh ta. Giáo sư còn tin tưởng giao đứa con gái cưng của mình cho Hải trước khi lo cho anh ta một chuyến du học 5 năm ở Pháp.

Cao trào của vở cải lương, nước mắt khán giả rơi khi ngày cưới của Hải và bác sĩ Mai tiến hành, Thu Hương là ca sĩ đến hát chúc mừng. Khi nhìn thấy người mình yêu sánh vai bên cô dâu khác, Thu Hương đau lòng và định tự tử nhưng nhờ Tuấn – một tài xế, một người bạn từ thuở ấu thơ giúp đỡ. Sợ mẹ, Thu Hương không dám về nhà mà sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của Tuấn, của Lan Anh – cô học trò cũ của mẹ Thu Hương. Nhưng thân gái yếu đuối sợ không sống nỗi giữa giông tố cuộc đời, Thu Hương tìm đến phòng khám bác sĩ Mai để bỏ đi giọt máu của mình. Câu chuyện giữa Thu Hương và bác sĩ Mai đã vạch trần bộ mặt người chồng sở khanh. Là người phụ nữ cao thượng có tính cách kiên cường, bác sĩ Mai khuyên Thu Hương giữ lại đứa bé và âm thầm bỏ đi núm ruột của chính mình khi niềm vui của người sắp làm mẹ chưa được trọn vẹn.

23-11-2015.JPG

MỘT CẢNH TRONG VỞ CẢI LƯƠNG "SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI"

Ngày du học của Hải đến cũng là lúc Mai bảo rằng đã biết hết sự thật. Đau, buồn, khóc thật nhiều nhưng Mai vẫn im lặng để ba mình lo tròn chuyến du học cho Hải. Ngày Mai nhận bức thư xin tha lỗi mà Hải gửi về từ Pháp cũng là lúc Thu Hương đang nằm trong phòng mổ của Mai để chào đón con trai ra đời. Tiếng đứa bé khóc thét trong phòng mổ như nhát dao cứa vào tim bác sĩ Mai. Cô nhớ đến đứa con của mình chưa kịp tượng hình chỉ vì người đàn ông bội bạc, chỉ vì cô muốn hy sinh cho Thu Hương. Tiếng khóc đứa bé đẩy Mai đến tột cùng đau khổ và cô đem sự thật kể hết với giáo sư. Ngày Hải trở về nước, ăn năn với tội lỗi của mình cũng là lúc Mai và Hải không còn nghĩa vợ tình chồng. Thu Hương bây giờ cũng đã qua khúc bi ai, trở lại nghề hát và cùng đứa con bé nhỏ về sống với mẹ.

Thông điệp về đạo đức làm người

Ngày bác sĩ Hải về nước cũng là lúc Giáo sư đã nói với anh ta "Đời người ai chẳng có lần rơi vào bi kịch. Vấn đề ở chỗ giải quyết bi kịch đó bằng cách nào. Trong chuyện này, tôi cũng có lỗi. Ngoài chuyên môn ra, tôi đã không dạy dỗ đủ cho anh về nhân cách". Câu nói vừa trách mình, vừa trách người của Giáo sư như một bức thông điệp gửi tới đời. Sống trong xã hội, ngoài tài năng cần luyện rèn đức độ. Bởi người có tài đến đâu nhưng không đủ đức vẫn rơi vào bi kịch của chính mình và mang đến đau thương, khổ ải cho những người trong cuộc. Tài năng nếu kém có thể bồi dưỡng từng ngày nhưng đức, đạo làm người luôn là tài sản vô giá.  

Bên cạnh nội dung mới, phản ánh cuộc sống đương đại thì nghệ thuật của vở diễn có nhiều đổi mới. Không còn cảnh ruộng lúa ao vườn, sân đình, cung cấm,... như cải lương truyền thống, các diễn viên của Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An diễn xuyên suốt trên cảnh trí là một chiếc cầu. Đây vừa là cách làm sáng tạo vừa mang tính ước lệ tượng trưng. Chiếc cầu cụt cũng như con người chưa toàn vẹn trong cuộc sống.

Về cách diễn, tuy chưa đều giữa các diễn viên nhưng nghệ sĩ Hồ Ngọc Trinh, Hoàng Oanh đã để lại dấu ấn bởi lối ca hay, diễn tốt. Vẫn như cuộc thi năm 2012, Hồ Ngọc Trinh hát rất chắc, tròn chữ và nhận rất nhiều tràng vỗ tay từ khán giả. Còn Hoàng Oanh – nghệ sĩ chính của Đoàn hiện nay cũng tiến bộ nhiều qua vai diễn. Hoàng Oanh diễn rất nhập vai, lột tả được nội tâm, tính cách nhân vật từ một cô bé thơ ngây, hồn nhiên ca hát đến lúc đau khổ khi rơi vào bi kịch.

Tuy giá trị nghệ thuật chưa tròn trĩnh nhưng vở "Sân khấu cuộc đời" đã mang đến cho cuộc thi một giá trị nội dung sâu sắc về nhân cách con người.

Bài, ảnh: THÙY HƯƠNG

23/11/2015 2:00 CHĐã ban hànhApproved
THỊ TRẤN CẦN ĐƯỚC ĐẠT CHUẨN VĂN MINH ĐÔ THỊ THỊ TRẤN CẦN ĐƯỚC ĐẠT CHUẨN VĂN MINH ĐÔ THỊ

Ngày 30/7/2020, thị trấn Cần Đước, huyện Cần Đước long trọng tổ chức Lễ công bố thị trấn Cần Đước đạt chuẩn văn minh đô thị. Bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo huyện Cần Đước và đông đảo người dân thị trấn tham dự.

4 Lanh dao huyen trao quyet dinh-bang cong nhan va bieu trung tien thuong-hong phong.JPG

Thị trấn Cần Đước nhận bằng đạt chuẩn văn minh đô thị

Qua hơn 3 năm tập trung xây dựng đến nay thị trấn Cần Đước đã đạt 24/24 tiêu chí văn minh đô thị về quy hoạch kiến trúc, nâng cao chất lượng gia đình văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa, phong trào văn hóa, thể thao… Thị trấn đã huy động tổng nguồn vốn trên 250 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 1,2 tỷ đồng và trên 2.000 m2 đất để đầu tư nâng cấp, mở rộng 40 công trình về điện, đường, trường học. Tỷ lệ đô thị hóa nhanh với 11 khu dân cư thương mại được quy hoạch với tổng diện tích 38 ha. Việc xây dựng cảnh quan xanh, sạch, đẹp, giữ gìn môi trường có nhiều tiến bộ, đã trồng hơn 700 cây hai bên đường Quốc lộ 50, Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong. Thị trấn có 3/4 trường đạt chuẩn quốc gia; 10/10 khu phốn văn hóa; nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; trên 98% hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa. Công tác giải quyết việc làm giảm nghèo đạt kết quả tốt, tính đến 6 tháng đầu năm 2020, thị trấn chỉ còn 32 hộ nghèo. Công tác xã hội hóa chăm lo gia đình chính sách, người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được phát huy, góp phần tích cực ổn định đời sống xã hội tại địa phương, tạo cơ hội cho người dân vươn lên trong cuộc sống, từng bước tăng dần hộ khá, giàu trên địa bàn. Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững và ổn định, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc hàng năm được huyện đánh giá vững mạnh xuất sắc.

5 BTHU trao giay khen cho cac tap the.JPG

Ông Nguyễn Văn Đát, Bí thư Huyện ủy Cần Đước trao giấy khen cho các tập thể
có nhiều đóng góp trong xây dựng thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị

Dịp này, UBND huyện Cần Đước và UBND thị trấn Cần Đước đã tặng giấy khen cho 37 tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp tích cực trong quá trình xây dựng thị trấn Cần Đước đạt chuẩn văn minh đô thị./.

Hồng Phong

03/08/2020 2:00 CHĐã ban hànhApproved
TÂN THẠNH: TẬP HUẤN NÂNG CAO NGHIỆP VỤ VỀ LĨNH VỰC VĂN HÓA, QUẢNG CÁO NĂM 2020 TÂN THẠNH: TẬP HUẤN NÂNG CAO NGHIỆP VỤ VỀ LĨNH VỰC VĂN HÓA, QUẢNG CÁO NĂM 2020

Ngày 06/10/2020, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tân Thạnh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa, quảng cáo và hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch cho các thành viên Đội kiểm tra liên ngành văn hóa, thông tin và truyền thông cấp huyện, xã, thị trấn và các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo trên địa bàn huyện.

6-10-2020 tap huan van hoa quang cao nam 2020.jpg

Tại buổi tập huấn, các đại biểu được nghe ông Nguyễn Văn Tâm, Phó Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Quảng cáo năm 2012 và các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực văn hóa, quảng cáo. Trong đó, tập trung nhấn mạnh những nội dung sửa đổi bổ sung và những quy định mới trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo như: Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối vối một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Nghị định số 54/2019/NĐ-CP  ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Đồng thời, triển khai quán triệt Quyết định số 5015/QĐ-UBND ngày 29/11/2016 của UBND tỉnh Long An về việc ban hành Quy định quản lý hoạt động "nhạc sống" trên địa bàn tỉnh và các Chỉ thị của UBND tỉnh về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo, kinh doanh trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh và Quyết định của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phân cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke trên địa bàn tỉnh.

Qua hội nghị tập huấn nhằm bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác văn hóa, thể thao, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý lĩnh vực văn hóa, quảng cáo trên địa bàn huyện. Đặc biệt là nâng cao nhận thức và chấp hành pháp luật của các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo trên địa bàn, góp phần đảm bảo tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tân Thạnh./.

Duy Thanh

07/10/2020 11:00 SAĐã ban hànhApproved
HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC HỘI THI CHƯNG MÂM NGŨ QUẢ VÀ BÌNH BÔNG THỜ CÚNG GIA TIÊN MANG ĐẾN NÉT XUÂN CHO CẦN ĐƯỚC

Hội thi chưng mâm ngũ quả và bình bông thờ cúng gia tiên do Ban Tổ chức Hội Xuân huyện Cần Đước tổ chức mừng Xuân Canh Tý 2020 đã góp phần giữ gìn nét truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Tham gia hội thi, các xã, thị trấn đã mang đến những tác phẩm nhiều màu sắc, có sự sáng tạo, độc đáo trong cách trình bày và lựa chọn nguyên liệu. Những loại trái cây quen thuộc tượng trưng cho thành quả lao động cả năm của con cháu như dưa hấu, mãng cầu, dừa, bưởi, xoài,... được tạo dáng rồng, phụng, trang trí đèn led, dây chốp tắc khá công phu; hay các loại hoa với sự kết hợp nghệ thuật tạo hình và sự sáng tạo tạo nên những tác phẩm đẹp, tinh tế với ý nghĩa thể hiện tấm lòng và sự tưởng nhớ công ơn tổ tiên, cầu mong những điều tốt đẹp và may mắn trong năm mới.

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Dinh-1.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Định

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Long Huu Dong.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Long Hựu Đông

31-1-2020 Tac pham du thi cua xa Tan An.jpg

Tác phẩm dự thi của đơn vị xã Tân Ân

31-1-2020 trao giai cho cac don vi du thi.jpg

Ban tổ chức trao giải cho các đơn vị dự thi

Ban Tổ chức đã trao giấy khen của Chủ tịch UBND huyện cho 2 giải nhất, 2 giải nhì, 4 giải ba; giấy khen của Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện cho 6 giải khuyến khích. Qua hội thi nhằm duy trì nét văn hóa đặc trưng ngày Tết của người Việt, đồng thời thể hiện sự thành kính hướng về tổ tiên và ước mong một năm mới an khang và hạnh phúc./.

Cẩm Tú

03/02/2020 10:00 SAĐã ban hànhApproved
Bạn đọc và Thư việnBạn đọc và Thư viện

Trong cuộc sống, mỗi người sẽ có niềm vui riêng về hạnh phúc. Người bước lên đỉnh cao của danh vọng tiền tài, người bình dị với cuộc sống thường nhật. Với tôi, đọc sách là niềm vui, sở thích không thể cưỡng lại được. Bác Hồ từng nói: "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách là việc đáng quý", hay Thành ngữ có câu: "Đọc sách là nuôi dưỡng trí tuệ". Theo đó, mỗi ngày tôi đều dành ra một khoản thời gian nhất định để đọc sách và xem báo. Nhu cầu này vừa để tôi thư giản, vừa giúp ích cho công việc hiện tại và củng cố những kiến thức còn trống của mình. Nhưng thật ra cái sự ham mê đọc sách của tôi chẳng là bao nếu đem so với những người độc giả mà tôi đã gặp.

Trong lần trực thay đồng nghiệp ở Phòng mượn, tôi may mắn gặp và tiếp chuyện cùng bác Nguyễn Vĩnh Phú (nhà ở số 11 đường Hùng Vương, Phường 2, thành phố Tân An, Long An). Bắt đầu câu chuyện bác hỏi tôi quê ở đâu, đi làm rồi về ở đâu?… Đến khi bác biết tôi học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chuyên ngành Thư viện, bác cười: "Tốt lắm. Thư viện bây giờ có nhiều cán bộ trẻ rồi đấy chứ". Rồi đến việc bác nhờ tôi kiếm hộ cuốn "Nỗi buồn chiến tranh". Tôi không nghĩ mình sẽ tìm được bởi có quá ít thông tin về cuốn sách ngoài cái nhan đề mà bác vừa nêu nhưng tôi vẫn nhận lời. Bởi ngoài nhiệm vụ của người cán bộ thư viện phục vụ cho độc giả, tôi nhận lời còn vì tình cảm quí mến đối với bác. Bằng những kiến thức học ở trường cộng thêm một chút may mắn tôi đã hoàn thành tốt công việc của mình. Cầm cuốn sách trên tay, bác vừa cười vừa nói: "Sao hay thế? Làm sao kiếm được thế?". Quả thật, tôi không thể nào kiềm nén được cảm xúc của mình. Đối với người làm công tác thư viện không có gì vui bằng việc thấy độc giả hạnh phúc với cuốn sách trong tay. Bác nói: "Già rồi, xem lại những cuốn sách cũ như vậy cho đỡ buồn… Con tên gì?… Bác là độc giả của thư viện từ ngày mới thành lập". Như vậy nếu tính từ ngày thành lập đến nay, bác Phú đã đến đọc sách ở thư viện ngót hơn 30 năm. 30 năm đối với một đời người thì không thể coi là dài nhưng 30 năm đối với một người đến thư viện đọc sách, xem báo là một con số đáng khâm phục.

Riêng bác Trần Trí Hòa (nhà ở số 402/16 khu phố Bình Cư 2, Phường 4, thành phố Tân An, Long An), tôi may mắn biết bác nhiều hơn. Đầu tiên là những lần bác Hòa đem báo xuống phòng vi tính photo. Thấy tôi ngồi nhập báo trên máy vi tính, bác hỏi tôi có đánh được mười ngón không?. Bác chỉ đánh được hai, ba ngón thôi… Sau nữa, tôi biết bác Hòa với bài viết "Thư viện và sách vở" được đăng trên Đặc san Thông tin Thư viện năm 2003 của Liên hiệp Thư viện đồng bằng sông Cửu Long. Qua bài viết, tôi biết bác Hòa có nhiều kỷ niệm sâu sắc về thư viện, về sách vở, đặc biệt là tình cảm quý mến mà bác dành cho những người công tác trong ngành Thư viện.

Bác Hòa đến thư viện đọc sách từ ngày bác còn học Đại học Sư phạm ở Hà Nội. Ngày ấy, thư viện còn nghèo khổ, sách vở ít và lại cũ, nhưng đối với bác việc ấy chẳng hề ảnh hưởng gì. Bác say sưa ngấu nghiến đọc những trang sách của Tự Lực văn đoàn, những trang sách của dòng văn học hiện thực phê phán, thơ Đường, thơ Tống, bộ Chiến tranh và Hòa bình của Lép Tônxtôi. Bác Hòa cũng thường hay quan tâm đến việc đọc sách báo của lớp trẻ. Bác than phiền, lớp trẻ bây giờ không ham mê đọc sách báo như thời của bác, "Cái văn hóa đọc đã thua xa cái văn hóa nghe, nhìn, đỡ tốn công lại sinh động!". Từ cái buồn, cái trăn trở, bác Hòa đem niềm cảm nghĩ của mình chia sẻ cùng với người làm công tác thư viện để tìm phương hướng giải quyết.

Quí hai bác ở chổ "Siêng xem sách và đọc được nhiều sách", cảm động với việc hai bác nâng niu, gìn giữ sách báo như những món vật quý hiếm và không một lời hạ thấp, xem thường nghề nghiệp đối với những người công tác trong ngành Thư viện. Bác Hòa bộc bạch: "Rất mừng là người làm thư viện chẳng những thông thạo nghiệp vụ mà còn yêu nghề".

Ba, bốn mươi năm! Biết bao nhiêu sự đổi thay trong ngần ấy thời gian, nhiều cán bộ thư viện trước kia nay đã về hưu, thư viện ngày càng "lớn" và khang trang thêm nhưng với bác Phú và bác Hòa vẫn vậy, vẫn đến thư viện đọc sách báo và giữ "mối tình" chung thuỷ với thư viện. Hai bác coi đó như là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu, có thể vì một quyển sách mà quên cả ăn uống, ngủ nghê.

Hình ảnh của bác Phú và bác Hòa đã tiếp cho tôi thêm nhiều nghị lực, vững bước trên con đường mình chọn. Dù con đường phía trước vẫn còn nhiều chông gai nhưng tôi sẽ cố gắng để đem đến cho độc giả thư viện ngày càng có nhiều niềm vui về sự hạnh phúc. "Làm sao đốt sách cho được. Sách chứa biết bao tri thức. Chú cũng "lớn lên" từ thư viện mà", đó là lời tâm sự của chú Mộc Tùng ở thành phố Tân An. Mượn lời chú để kết thúc bài viết, hi vọng rồi ai ai trong chúng ta cũng nghĩ về thư viện như một điểm dừng chân lý tưởng cho việc thư giản, tìm tòi, nghiên cứu và học tập.

AN THANH

30/05/2013 2:08 CHĐã ban hànhApproved
Kỷ niệm 68 năm ngành Văn hóa - Thông tin 28/8/19450-28/8/2013Kỷ niệm 68 năm ngành Văn hóa - Thông tin 28/8/19450-28/8/2013

 Trụ sở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An

Văn hóa - Thông tin Long An 
từ Đề cương văn hóa Việt Nam đến Nghị quyết TW5 khóa 8

    Ngày 28/8/1945, Bộ Thông tin tuyên truyền được công bố trong danh sách các thành viên Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ đó, ngày 28/8 trở thành ngày truyền thống của ngành Văn hóa - Thông tin.

    Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tổng kết: “Tuyên truyền là phân nửa của cuộc kháng chiến”. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, quán triệt tư tưởng “kháng chiến hóa văn hóa” và “văn hóa hóa hóa kháng chiến”, chủ trương, đường lối kháng chiến của Đảng được đội ngũ cán bộ Văn hóa - Thông tin  hai tỉnh Tân An - Chợ Lớn nỗ lực tuyên truyền, đóng góp vào nhiệm vụ định hướng tư tưởng, nâng cao trình độ nhận thức và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên và quần chúng, góp phần vào thành công cuộc kháng chiến chín năm.

    Ý thức sâu sắc vai trò của văn hóa, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Đảng bộ hai tỉnh Long An - Kiến Tường tiếp tục phát huy sức mạnh của vũ khí tuyên truyền, báo chí, văn hóa - văn nghệ. Nằm trong tổ chức với tên gọi khác nhau tùy theo nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử, như: Ban Tuyên truyền báo chí (1957 - 1959), Ban Tuyên truyền cổ động (1960 - 1961), Ban Tuyên văn giáo (1962 - 1965) và Ban Tuyên huấn (1966 - 1975), dù phong trào cách mạng có lúc mạnh yếu, khó khăn, thuận lợi khác nhau, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngành Văn hóa - Thông tin hai tỉnh cũng luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy trong nhiệm vụ bám sát chiến trường, bám sát nhiệm vụ chính trị phục vụ kháng chiến.

    Trong từng thời kỳ, thông tấn, báo chí cách mạng với tờ báo Hòa Bình Thống Nhất, Tin Tức Kiến Tường, Phụ nữ, Thanh niên, Dân Cày (1954-1959), Văn nghệ Long An, Văn nghệ Kiến Tường (1961),Cờ Đỏ, Tin Tức Long An, Quyết Tiến (1963),Văn nghệ Vàm Cỏ, Văn nghệ quân giải phóng Bắc Long An, Văn nghệ Kiến Tường, Tháp Mười anh dũng (1964 - 1975)… đã vượt qua khó khăn, nguy hiểm, liên tục phát hành, kịp thời đưa đến cán bộ và nhân dân.

    Nhìn qui mô ngành in ngày nay ít ai biết rằng Nhà in đã ra đời giữa đồng bưng Đồng Tháp Mười, ngày 01/5/1961, mang tên người cộng sản kiên cường bất khuất Phan Văn Mảng, để từ đây, báo chí cách mạng, tài liệu học tập, sách giáo khoa, tác phẩm văn nghệ và truyền đơn... tỏa đi khắp mọi nẻo đường, thôn xóm. Mỗi trang in ngày ấy đến tay cán bộ, chiến sĩ, đồng bào thấm đượm mồ hôi và máu của biết bao cán bộ, nhân viên ngành văn hóa đã hy sinh trong lúc bảo vệ nhà in hoặc trên đường vận chuyển, phát hành.

    Chiến trường nóng bỏng và ác liệt ở cửa ngõ Sài Gòn có một sức hút kỳ lạ đối với văn nghệ sĩ cách mạng. Trong sự phong phú của tác giả, tác phẩm và đề tài kháng chiến trong lĩnh vực hội họa, không thể không kể đến tác phẩm “Dừng lại” của Lê Lam và “Bà má Long An” của Nguyễn Đức Lưu, góp phần tái hiện rõ nét thêm cuộc chiến tranh nhân dân trong những năm tháng hào hùng ấy.

    Truyền thống vẻ vang của ngành có sự đóng góp không nhỏ của hai đoàn văn công Long An (thành lập vào cuối năm 1959) và Kiến Tường (ra đời năm 1960) mà Trăng lên khỏi núi, Dậy lửa (của Nguyễn Vũ), Bám đất giữ làng (của Trần Ngọc), Dòng máu (của Phạm Ngọc Truyền), Lòng dân (của Nguyễn Văn Xe), Máu rơi bám đất (của Hà Mạnh Đức), Lá cờ giải phóng, Hồi trống đất (của Nguyễn Hữu Thường), Tô thuốc độc, Cô Điền (của Thanh Châu), v.v ... bên cạnh những tiết mục múa Giải phóng quân nhập thành, Những búp măng non, Xây làng chiến đấu, Trái lựu đạn gỗ, Ong vò vẽ đánh Mỹ, v.v... là những tác phẩm tiêu biểu, góp phần động viên cách mạng từ những ngày đầu chống Mỹ cho đến kết thúc thắng lợi 30/4/1975.

    Tiếp tục phát huy truyền thống trong kháng chiến, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân viên của ngành nỗ lực phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa, văn nghệ, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh nhà trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Từ buổi đầu khó khăn thiếu thốn, đến nay cơ sở vật chất của ngành cơ bản khang trang, đáp ứng các hoạt động nghiệp vụ phục vụ nhân dân. Các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng, kiện toàn và từng bước đi vào hoạt động có hiệu quả, góp phần đáp ứng và nâng cao đời sống tinh thần nhân dân. Các di tích lịch sử - văn hóa được đầu tư tôn tạo, nhiều di sản văn hóa phi vật thể được sưu tầm, bảo tồn. Một huyện đang được xây dựng thành huyện điểm điển hình về văn hóa. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa góp phần củng cố tình làng nghĩa xóm, từng bước đẩy lùi hủ tục lạc hậu, hình thành các chuẩn mực giá trị đạo đức mới phù hợp với sự phát triển của đất nước.

    68 năm hoạt động của ngành Văn hóa – Thông tin nói chung, của tỉnh nhà nói riêng là 68 năm phấn đấu xây dựng và phát triển nền văn hóa mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và đặt nền móng, là 68 năm dưới ánh sáng đường lối văn hóa của Đảng xuyên suốt từ Đề cương văn hóa Việt Nam đến Nghị quyết TW5 khóa 8 với những nhiệm vụ đặt ra cho từng giai đoạn lịch sử. Chính vì vậy, nhiệm vụ của ngành văn hóa tỉnh nhà trong thời gian sắp tới, nhất là từ khi có sự hợp nhất với các ngành Thể thao và Du lịch, trở nên nặng nề hơn trong mục tiêu góp phần để “văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực” cho sự phát triển của tỉnh nhà:

    - Tập trung phát triển văn hóa theo hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc; giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đảm bảo sự tăng trưởng liên tục, khắc phục tình trạng chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân giữa vùng nông thôn và đô thị. Xây dựng Long An thành một tỉnh năng động, đa dạng về văn hóa, vững vàng trong hội nhập.

    - Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở, tạo môi trường văn hóa lành mạnh và phong phú, tạo ra những sản phẩm văn hóa chất lượng ngày càng cao trên địa bàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, nhất là đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

    - Tăng cường đầu tư đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nhằm tạo điều kiện toàn dân được tham gia sáng tạo, tổ chức hoạt động và hưởng thụ thành quả văn hóa, xem đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững, gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, làm cho văn hóa tham gia tích cực vào nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An giai đoạn 2011 - 2015 và những năm tiếp theo.

    Đó là nhiệm vụ lãnh đạo tỉnh đề ra cho ngành Văn hóa tỉnh nhà trong giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020.

    Nâng cao nhận thức cán bộ, nhân viên của ngành, tập trung đầu tư tạo chuyển biến thật rõ nét trong những năm tới về công tác quản lý nhà nước về văn hóa, có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn, đạo đức, tác phong, lối sống lành mạnh, coi trọng và thường xuyên tăng cường công tác xây dựng Đảng, tập trung chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết 04 (khóa XI) đi đôi với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị. Đó là những giải pháp để ngành Văn hoá - Thông tin phấn đấu xứng đáng với vai trò, vị trí được giao phó là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh nhà phát triển./. 

          Bài, ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

09/09/2013 1:04 SAĐã ban hànhApproved
Bộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh ĐứcBộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức
Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức (1748-1819), người làng Tường Khánh, huyện Kiến Hưng (nay thuộc ấp Dinh, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An) là một đại thần của nhà Nguyễn, từng giữ những chức vụ quan trọng như: Chưởng Tiền quân, Tổng trấn Bắc Thành, Tổng trấn Gia Định Thành...Lăng mộ và đền thờ ông tọa lạc tại xã Khánh Hậu đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia từ năm 1993. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều hiện vật quý giá có niên đại thế kỷ XVIII-XIX vẫn còn được lưu giữ tại di tích, trong đó có bộ Ván Một.

Bo Van Mot.jpg

Với chiều dài 3,4m, chiều rộng 1,8m, dày 0,2m được tạo thành từ một khối gỗ duy nhất, có lẽ đây là bộ ván có kích thước lớn nhất Việt Nam còn tồn tại nguyên vẹn cho tới bây giờ. Trong lượng bộ ván cũng chưa có ai cân một cách chính xác. Chỉ biết rằng vào năm 1959, khi đền thờ Kiến Xương quận công được dời đến địa điểm hiện nay, gia tộc phải nhờ một trung đội lính mới khiêng nổi bộ ván. Theo lời kể của gia tộc Nguyễn Huỳnh, bộ Ván Một này là di vật của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, được ông sử dụng hồi còn ở quê nhà, lúc chưa đi theo phò Chúa Nguyễn. Từ đó suy ra, bộ ván này có niên đại muộn nhất cũng vào năm 1780.

Từ khi Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mất (9-9AL-1819), đến nay bộ ván được đặt một cách trân trọng tại chính điện đền thờ ngài. Tương truyền, đây là bộ ván linh thiêng, nếu ai có lòng tà vạy, gian tham dám ngồi lên bộ ván thì thế nào cũng bị Quận công Nguyễn Huỳnh Đức quở phạt. Cụ Nguyễn Huỳnh Tân (1878-1954) – cháu đời thứ năm của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức có truyền lại cho con cháu một mẩu chuyện thú vị xung quanh bộ Ván Một như sau:

Vào khoảng năm 1880, tại khu vực giáp ranh hai tỉnh Long An và Tiền Giang bây giờ có cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do ông Ong và ông Khả lãnh đạo. Lúc bấy giờ, tên việt gian Trần Bá Lộc đang trấn nhậm vùng Cái Bè đã đem quân đến đàn áp cuộc khởi nghĩa theo lệnh của Tây. Một hôm hắn dẫn lính vào lung sục, tra khảo nhân dân làng Tường Khánh. Khi đi ngang đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, Trần Bá Lộc rẽ vào và leo lên bộ ván ngồi một cách nghinh ngang. Giữa lúc con cháu Quân Công Nguyễn Huỳnh Đức đang lạy chào “quan” thì Trần Bá Lộc đột nhiên té nhào từ trên bộ ván xuống. Lính hầu lật đật khiêng Trần Bá Lộc lên giường nằm. Một lúc sau Trần Bá Lộc tỉnh lại, nét mặt hốt hoảng kể lại rằng:”Ta đương ngồi trên bộ ván thình lình có một bọn năm sáu người tự xưng là bộ hạ của Quan thượng Tiền quân vâng lệnh ngài đến bắt ta đem chém. Ta vùng vẩy, chống cự lại bọn lính hầu nên mới bị té xuống đất”. Ngừng một chút, Trần Bá Lộc nói tiếp:” Mấy chục năm nay ta đánh Nam dẹp Bắc, giết người như chém cỏ, từng đốn tre kẹp con nít, bỏ người vào cối quết chẳng gờm tay. Hôm nay là lần đầu tiên ta phải kiêng sợ bộ ván linh của Quan thượng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức vậy.”

Từ đó về sau, không một ai dám ngồi lên “Bộ Ván Linh” của Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.

Cùng với bộ sưu tập cổ vật tại di tích nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, bộ ván một là một hiện vật quý có giá trị lịch sử và niên đại so quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ.

​                                                                                             NGUYỄN VĂN THIỆN

22/10/2014 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Di tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn GiàuDi tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu

 

Di tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu tọa lạc tại ấp Hồi Xuân, xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Đây là nơi lưu niệm nhà cách mạng, nhà giáo ưu tú, nhà nghiên cứu khoa học lỗi lạc Trần Văn Giàu - người cống hiến cả cuộc đời cho đất nước đến hơi thở cuối cùng.

Trần Văn Giàu sinh ngày 11/9/1911 (Theo công văn số 167-CV/TU ngày 12/8/2011 của Thành ủy TP.HCM, giáo sư sinh ngày 11/9/1911, ngày sinh của giáo sư Trần Văn Giàu trong sơ yếu lý lịch đảng viên (khai ngày 21/11/1974) và phiếu kê (ngày 21/11/1997) để tặng huy hiệu 60 năm tuổi Đảng là ngày 11/9/1911.) trong một gia đình trung lưu ở xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An). Thuở nhỏ ông học ở Tân An, Sài Gòn rồi du học tại Đại học Toulouse (Pháp). Ông gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương, du học Đại học Đông Phương ở Matxcơva(Liên Xô), bị thực dân Pháp bắt giam qua các nhà lao Khám lớn Sài Gòn, Côn Đảo, Tà Lài. Năm 1943, ông được bầu làm Bí thư xứ Ủy Nam Kỳ. Năm 1945, ông lãnh đạo cuộc tổng nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Năm 1949, ông giữ chức Tổng giám đốc Nha Thông tin…Cùng những cống hiến lớn lao cho nền giáo dục nước nhà trên lĩnh vực triết học, sử học và văn học, Trần Văn Giàu được phong hàm Giáo sư trong lớp Giáo sư đầu tiên của nước nhà. Ông mất ngày 16 tháng 12 năm 2010 nhằm ngày 11 tháng 11 năm Canh Dần, hưởng thọ 100 tuổi.

Với tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ 7814m2, Khu lưu niệm còn lưu giữ được hai công trình gắn liền với giáo sư Trần Văn Giàu, đó là nhà thờ họ Trần và khu mộ của Giáo sư cùng gia đình.

NHÀ THỜ

Nằm trong khuôn viên vườn thanh long rộng khoảng 6.000 m2, ngôi nhà thờ họ Trần được chính Giáo sư xây dựng dựng năm 1995 với diện tích 52,5m2 ( dài 7,5m,  ngang 7m) theo kiểu một gian rộng (một gian hai chái).

       

 Nhà thờ họ Trần

 Song thân cố GS Trần Văn Giàu

 Gian thờ GS Trần Văn Giàu

Ngôi nhà thờ họ Trần hiện nay được xây dựng chính tại nền ngôi nhà xưa do cha mẹ Giáo sư Trần Văn Giàu xây cất. Theo lời kể của người cháu đời thứ 12 - Trần Văn Khoa, lúc nhỏ thường được ông nội là ông Trần Văn Nuôi - anh ruột của Giáo sư Trần Văn Giàu kể lại: ngôi nhà xưa được cất theo kiểu một căn hai chái bát dần, nhà rộng, mái lợp ngói vảy cá. Hệ thống cột được làm bằng gỗ căm xe, các vì, kèo, rui, mè làm bằng gỗ dầu. Phần trang trí, chạm khắc trong nhà được làm rất công phu, nội thất trưng bày phần lớn được làm từ các loại gỗ tốt và một phần hiện vật trong ngôi nhà xưa hiện vẫn được lưu giữ cho đến hiện nay. Vật liệu xây dựng ngôi nhà thờ hiện nay một phần được tận dụng từ chính ngôi nhà ngôi nhà thuở bé Giáo sư Trần Văn Giàu từng sống.

Ngôi nhà được xây dựng bằng chất liệu hiện đại, sơn màu xanh ngọc, cao khoảng 5m, mái lợp ngói tây. Nền nhà cao 70cm, lát gạch men màu xám trắng, trước nhà có một khoảng sân khá rộng. Cửa chính được làm bằng gỗ căm xe, kiểu cửa 4 cánh đơn giản, hai bên là hai cửa sổ với cùng kiểu dáng và chất liệu. Phía trên cùng là tấm biển với nội dung: “NHÀ THỜ HỌ TRẦN - ÔNG TRẦN VĂN GIÀU LẬP NĂM 1995”.

Bên trong ngôi nhà được thiết kế khá đặc biệt. Đó là một phần ở gian trung tâm được thiết kế có độ lùi về sau khoảng 0,75m, chiều ngang 3m, cao khoảng 1,7m, nền cao 0,3m. Không gian phần lùi dùng để đặt tủ thờ tạo nên một không gian riêng biệt, trang nghiêm, tôn kính. Tủ thờ được làm theo kiểu tủ Gò Công do ông Trần Văn Chơi (thân sinh ông Trần Văn Giàu) mua cùng thời điểm xây dựng ngôi nhà xưa. Tủ làm bằng gỗ giáng hương, màu nâu đỏ. Các họa tiết trang trí tương đối đơn giản nhưng sắc sảo, đường nét thanh thoát.

Phía trên tủ thờ, trên tường là bức họa song thân của Giáo sư, ông Trần Văn Chơi và bà Nguyễn Thị Phụng. Dù những đường nét đã nhuốm màu thời gian nhưng người xem vẫn nhận ra ông cụ mặc một chiếc áo dài đen, đầu đội khăn đóng đen. Mẹ của Giáo sư Trần Văn Giàu mặc chiếc áo dài đen, rộng, cổ tròn thấp, gương mặc đẹp phúc hậu, tóc búi theo kiểu truyền thống của người phụ nữ Nam Bộ. Bức họa phần nào giúp người xem nhận ra những nét đặc trưng trong trang phục người dân  miền Nam cuối thế kỷ XIX.

Giữa tủ thờ bày trí một lư hương và một lư trầm. Hai bên là hai chân đèn gỗ, ngoài ra còn có đĩa trái cây đặt trên chò gỗ và lục bình được bố trí theo qui tắc dân gian “Đông bình Tây quả”.

Hai bên tủ thờ là cặp liễn đối cẩn xà cừ, được làm bằng gỗ mun, kích thước: 250cm x 25cm. Trên liễn cẩn câu đối bằng chữ Hán cùng họa tiết mai, lan, cúc và đôi chim nhỏ. Tuy nhiên, với niên đại từ đầu thế kỷ XX nên cặp liễn đối không còn nguyên vẹn, vết tích của thời gian và sự tàn phá của các loại mối mọt ít nhiều ảnh hưởng đến hiện vật này.

Phía trước tủ thờ là ghế nghi bằng gỗ mun. Đối diện với ghế nghi, ở vị trí giữa nhà là bàn dài. Bên trái gian trung tâm là nơi thờ Giáo sư Trần Văn Giàu, rất trang nghiêm nhưng cũng thật giản dị, mang lại cảm giác ấm cúng, gần gũi mà tôn nghiêm. Tại đây đặt một bàn thờ và một bàn độc. Trên bàn thờ đặt di ảnh Giáo sư Trần Văn Giàu cùng lư hương, hai chân đèn, chò, đĩa trái cây và bình bông. Một nét khá đặc biệt là các đồ vật trên bàn thờ Giáo sư hầu hết đều được làm bằng gỗ mun, trừ chiếc bình bông bằng gốm. Riêng chiếc chò được cẩn xà cừ với các hoạ tiết hoa văn rất đẹp mắt.

Phía sau bàn thờ là bàn độc, trên đó bày trí một hộp kính nhỏ, bên trong những hiện vật đặc biệt có giá trị, là sự ghi nhận của Đảng và nhà nước đối với công lao, tâm huyết và đóng góp của Giáo sư dành cho đất nước. Đó chính là những huân, huy chương được treo trang trọng trên nền vải nhung đỏ thắm, bao gồm: Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương lao động hạng nhất; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng; Huy hiệu anh hùng lao động; Huy hiệu vì sự nghiệp giáo dục.

Sau cùng, trên tường treo tấm ảnh phóng to của Giáo sư cùng người vợ yêu quí. Bên dưới là khung hình con tem phóng lớn do Bộ thông tin truyền thông phát hành nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Giáo sư Trần Văn Giàu.

Bên phải gian trung tâm nhà thờ đặt một chiếc bàn tròn và ghế đi kèm. Dọc hai bên tường treo các vòng hoa do các đồng chí đại diện tổ chức Đảng và Chính phủ kính viếng.

Ngoài những hiện vật vừa nêu hiện khu di tích vẫn còn lưu giữ những đồ vật mà gia đình và Giáo sư đã từng sử dụng như tủ búp phê, tủ đồ cưới, tủ thuốc và nhiều hiện vật bằng gốm.

Nhìn chung, ngôi nhà thờ họ Trần được xây dựng và bày trí đơn giản nhưng rất ấm cúng và trang nghiêm. Bên cạnh nhà thờ là ngôi nhà của ông Trần Văn Khoa, cháu gọi Giáo sư bằng ông chú - người được thừa kế phần đất vườn, cũng chính là người trông nom, chăm sóc nhà thờ họ Trần và khu mộ.

KHU MỘ CỦA GIÁO SƯ CÙNG GIA TỘC

Khu mộ của Giáo sư Trần Văn Giàu và gia tộc được thực hiện theo Quyết định số 272/QĐ - SVHTTDL Long An ngày 18 tháng 4 năm 2011 về việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công .

         

 Mộ GS Trần văn Giàu và vợ

 Toàn cảnh khu mộ và nhà thờ họ Trần

Khu mộ có diện tích: 208m2 (13m x 16m), theo dạng hình chữ nhật, bao quanh là vườn thanh long xanh mát. Khu mộ gồm 06 ngôi mộ, nằm xoay về hướng Bắc được thiết kế cùng kiểu dáng, chất liệu, màu sắc tạo nên một tổng thể hài hòa, tinh tế.

Lối vào khu mộ khá rộng, được tráng xi-măng thẳng tắp. Mặt bằng bố trí theo trình tự từ ngoài vào là mộ Giáo sư Trần Văn Giàu và bà Đỗ Thị Đạo (kích thước 3,34m x 2,73m);  Mộ ông Trần Văn Nuôi - người anh ruột thứ 5 của Giáo sư; Mộ ba và mẹ Giáo sư Trần Văn Giàu; cuối cùng là mộ ông Trần Văn Bái - cháu ruột Giáo sư.

Mộ của Giáo sư Trần Văn Giàu và vợ - bà Đỗ Thị Đạo nằm ở vị trí đầu tiên từ ngoài vào, thân mộ có dạng hình chữ nhật, ốp đá granite đen Ấn Độ, chân mộ ốp đá granite màu xám ngà.

Mặt đứng chính mộ Giáo sư Trần Văn Giàu và bà Đỗ Thị Đạo có kích thước 2,78m x 1,96m, ốp đá granite đen Ấn Độ. Bia mộ được làm bằng đá trắng Na Uy hình chữ nhật, kích thước 50cm x 70cm, hai chữ “phần mộ” được đặt trang trọng bên trong cuốn thư, bên dưới là quốc huy nước Việt Nam cách điệu với hình bông lúa, bên trong là di ảnh của Giáo sư Trần Văn Giàu. Bên dưới ảnh khắc chữ với nội dung: “Giáo sư Trần Văn Giàu đời thứ 10 sinh ngày 11-9-1911 từ trần ngày 16-12-2010 nhằm ngày 11 tháng 11 năm Canh Dần hưởng thọ 100 tuổi”. Toàn bộ hình ảnh và chữ trên thân bia nằm trong khung viền có hoa văn hình học ở bốn góc, chữ và các họa tiết có màu đỏ nổi bật trên nền đá trắng.

Trước mỗi ngôi mộ đặt một lư hương bằng đá màu trắng - được thực hiện bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân điêu khắc đá ở Đà Nẵng - làng điêu khắc đá Non Nước nổi tiếng.

Các phần mộ còn lại của gia đình cố Giáo sư hầu như được thiết kế và xây dựng giống với phần mộ của Giáo sư Trần Văn Giàu.

Ngoài ra, bao bọc xung quanh khu mộ là các cây hoàng nam, mai chiếu thủy kết hợp với các loại cây xanh, sứ trắng, bông giấy, ắc ó… được tạo dáng và sắp đặt khéo léo tạo nên mảng cây xanh cho khu mộ.

Với thiết kế đơn giản nhưng tinh tế kết hợp với vật liệu xây dựng đẹp, quý hiếm và bền vững trong một không gian thoáng đãng, gần gũi thiên nhiên nên mộ Giáo sư Trần Văn Giàu và vợ nói riêng, khu mộ của Giáo sư và gia đình nói chung mang một vẻ đẹp trang nghiêm, tôn kính nhưng vẫn thật bình dị, hài hoà với cuộc sống của người dân quê hương ông.

Với những giá trị văn hóa, lịch sử tiêu biểu, Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 23 tháng 8 năm 2012.

Di tích lịch sử Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu - địa điểm lưu niệm nhà cách mạng, nhà giáo nhân dân, nhà khoa học lỗi lạc - mà cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng cho hậu thế. Với những giá trị văn hóa, lịch sử quí báu Khu lưu niệm sẽ là nơi nghiên cứu, tham quan tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của một bậc hiền tài nói riêng, truyền thống lịch sử, văn hóa địa phương, nước nhà nói chung. Trong tương lai, với việc lập dự án quy hoạch và tôn tạo Khu lưu niệm gồm quần thể khu mộ của Giáo sư và gia tộc, nhà thờ, nhà trưng bày về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư cùng những hạng mục khác... Khu lưu niệm Giáo sư Trần Văn Giàu sẽ là một trong những điểm đến lý tưởng cho những chuyến về nguồn, tham quan tìm hiểu văn hóa, lịch sử tỉnh nhà, góp phần không nhỏ vào công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau./.

Bài, ảnh: Hồ Phan Mộng Tuyền

17/10/2012 2:01 SAĐã ban hànhApproved
Bến Lức: Nâng cao văn hóa đọc cho học sinh tiểu học  Bến Lức: Nâng cao văn hóa đọc cho học sinh tiểu học 

Để tạo cho học sinh có thói quen tiếp xúc hàng ngày với tri thức mới qua những trang sách, thì việc xây dựng không gian văn hóa đọc trong trường học là hết sức quan trọng. Ý thức được điều đó, các trường học trên địa bàn huyện Bến Lức đã có những phương pháp tổ chức thiết thực để khơi dậy văn hóa đọc trong học sinh, trong đó đặc biệt chú trọng việc phát triển và đổi mới hệ thống thư viện xanh.

Nhiều năm trở lại đây, Trường Tiểu học Thạnh Đức đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền để mỗi học sinh nhận thức được vai trò của sách đối với việc học tập và cuộc sống; giúp các em hiểu rằng sách là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, một cuốn sách tốt giống như một người bạn hiền… Xuất phát từ mục đích đó, nhà trường đã đầu tư và xây dựng hệ thống thư viện nhằm đưa văn hóa đọc đến gần hơn với từng học sinh. Ngoài thư viện chung, nhà trường còn triển khai hiệu quả mô hình thư viện xanh. Tận dụng không gian nhỏ ở  góc sân trường, nhà trường bố trí nhiều giỏ sách nhỏ cùng hoa trên những dãy bàn, ghế được sắp xếp ngay ngắn để thu hút các em học sinh ngồi đọc trong giờ ra chơi và trong các tiết học đọc sách theo quy định của nhà trường. Hiện nay, nhờ làm tốt công tác xã hội hóa mà thư viện của trường đã có 6.674 quyển sách các loại như: đạo đức, khoa học, văn học, lịch sử, kỹ năng sống và ngoại ngữ, truyện thiếu nhi... giúp cho các em học sinh tự tìm đọc những cuốn sách mà mình yêu thích.

11-10-2018 Mô hình Thư viện xanh của trường Tiểu học Thạnh Đức Hinh 5.JPG

11-10-2018 Mô hình Thư viện xanh của trường Tiểu học Thạnh Đức Hinh 6.JPG

11-10-2018 Mô hình Thư viện xanh của trường Tiểu học Thạnh Đức Hinh 7.JPG

Hình 1,2,3: Mô hình Thư viện xanh của Trường Tiểu học Thạnh Đức

Để định hướng văn hóa đọc cho học sinh, giúp các em có niềm say mê với việc đọc sách và thực hiện theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo, nhà trường đã sắp xếp thời khóa biểu với 1 tiết/1 tuần để học sinh đọc sách tại thư viện nhà trường. Ngoài ra, trường còn thường xuyên lồng ghép tổ chức những hoạt động như: Thi giới thiệu sách, thi kể chuyện, đọc thơ trong các buổi sinh hoạt tập thể của các khối lớp,… Chính nhờ những hoạt động thực tiễn này đã giúp văn hóa đọc có thêm sự lan tỏa trong các em học sinh nhà trường, qua đó cũng truyền thói quen tốt tới gia đình các em.

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức 1.JPG

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức hinh 2.JPG

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức hinh 3.JPG

11-10-2018 Tiết học tại thư viện Trường Tiểu học Thạnh Đức hinh 4.JPG

Hình 4,5,6,7: Tiết học tại thư viện trường học của học sinh lớp 4,
Trường Tiểu học Thạnh Đức

Ông Nguyễn Thành Được, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thạnh Đức, huyện Bến Lức cho biết: "Việc học tập, tìm hiểu tri thức bộ môn và cuộc sống qua kênh sách bằng hình thức đọc tuy là phương pháp truyền thống nhưng không hề cũ đối với người học. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện, nhà trường đã đưa hoạt động văn hóa đọc trở thành những nội dung ngoại khóa bổ ích tới học sinh. Văn hóa đọc góp phần hình thành nhân cách, giúp các em phát triển toàn diện cả về giáo dục và trí dục. Những trang sách hay mở ra cho các em những thế giới muôn màu, hướng các em biết yêu cái đẹp, biết cảm thụ cái đẹp. Song song đó, hoạt động đọc sách còn hỗ trợ rất nhiều đến quá trình dạy và học của thầy và trò. Đặc biệt để hưởng ứng "Tuần lễ học tập suốt đời", diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 07/10/2018 nhà trường còn tổ chức cho các em nói chuyện về các vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Với những buổi nói chuyện như vậy, học sinh được cập nhật thêm nhiều kiến thức phong phú, truyền cho các em tình yêu với tri thức. Bên cạnh đó, trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa những nội dung như: phòng cháy chữa cháy, an toàn giao thông, tuyên truyền về phòng chống xâm hại tình dục đối với trẻ em… cũng được lồng ghép tuyên truyền và cập nhật tới từng đối tượng học sinh".

Xây dựng thư viện trong các trường học, không chỉ giúp các em học sinh trau dồi kiến thức, khơi gợi cho các em sở thích đọc sách, mà đây cũng là một trong những tiêu chí xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực góp phần tạo môi trường xanh, sạch đẹp nâng cao chất lượng giáo dục./. 

Việt Hằng

17/10/2018 9:00 SAĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​