Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin Văn Hóa

 
    Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 247656
 
Thông tin Văn Hóa - Thông tin cổ động
 
​Là đơn vị luôn dẫn đầu thi đua hoạt động văn hóa thông tin cơ sở nhiều năm liền của ngành văn hóa và thông tin huyện Tân Hưng, riêng trong năm 2016 thị trấn Tân Hưng được huyện chọn đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong hoạt động văn hóa và thông tin cơ sở.Với thuận lợi cơ bản là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện, có 04 khu ph... 
 
​Tối ngày 16-10 -2015, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An tổ chức đêm văn nghệ mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020 thành công tốt đẹp. Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Trần Thị Nhanh đến dự. Tất cả các ca khúc trong đêm văn nghệ đều thể hiện tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ vĩ đại,… Đêm văn nghệ đã để lại nhiều ấn tượng đáng nhớ ... 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU QUAN THÁNH ĐẾ

Vừa qua, UBND tỉnh Long An đã ra Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 24/10/2019 về việc xếp hạng cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế. Di tích hiện tọa lạc tại phường 1, thành phố Tân An, là một công trình kiến trúc cổ đặc thù kiểu Tứ trụ của đình, miếu Nam Bộ có niên đại hơn 103 năm. Đồng thời, trong miếu còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như hệ thống hoành phi, liễn đối, bao lam…được chạm trổ hết sức tinh xảo, công phu vừa có giá trị về mặt nghệ thuật, vừa có giá trị về mặt lịch sử.

18-11-2019 Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế.jpg

Bằng xếp hạng di tích lịch sử Miếu Quan Thánh Đế

Di tích lịch sử miếu Quan Thánh Đế còn là chứng tích của quá trình khai phá vùng đất Vũng Gù (Tân An ngày nay) của cộng  đồng cư dân Việt - Hoa. Bởi, sau khi Cù Lao Phố và Mỹ Tho Đại Phố tan rã, một số nhóm người Hoa đã di cư đến sống ở vùng Tân An. Vì đa số người Hoa di cư thường làm nghề kinh doanh buôn bán nên khi đến Tân An họ thường tụ cư ở những trung tâm thương mại, khu vực chợ búa, và cùng với người Việt chiếm đa số chung sức đồng lòng lập phố xá, chợ sầm uất mà nổi tiếng là chợ Hưng Lợi (nay là chợ Phường 1). Bên cạnh đó, khi di - định cư đến Tân An, họ đã xây dựng miếu để làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và đã thu hút đông đảo người Việt đến lễ bái như chính cơ sở tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình trong suốt quá trình cộng cư và giao lưu văn hoá.

Trong miếu, vị thần được thờ chính là Quan Thánh Đế Quân tức Đại tướng quân Quan Vũ, một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc được kính ngưỡng về lòng trung nghĩa và chí khí anh hùng. Khi đến định cư ở vùng đất Tân An nói riêng, ở Long An nói chung, người Hoa đã mang nhiều hành trang văn hóa từ những thiết chế xã hội, phong tục tập quán đến các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thánh truyền thống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Ông Bổn… từ quê cha đất tổ đến vùng đất mới lập nghiệp, góp phần cùng các dân tộc anh em khác xây dựng và phát triển nơi đây ngày một trù phú. Một trong những hành trang quý giá ấy chính là tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân mang nhiều nét nổi bật, tiêu biểu cho văn hóa tinh thần người Hoa cũng như  sự giao lưu văn hóa Việt - Hoa. Khi cộng cư lâu dài với người Việt trên vùng đất mới, tín ngưỡng thờ Quan Thánh Đế Quân của người Hoa dần được người Việt tiếp nhận, thờ tự trang nghiêm thể hiện sự kính ngưỡng đối với phẩm cách chính trực trung nghĩa, cương cường, dũng cảm của Ông, đồng thời tin tưởng Ông sẽ phù hộ cho sự bình an của mọi người, thậm chí thờ Ông như là thần bảo mạng của nam giới trong gia đình. Quan Thánh Đế Quân không chỉ là thần linh được thờ phụng trong gia đình, mà còn là thần linh đặc trưng trong các cơ sở tôn giáo người Việt, được biến thể hóa từ các tôn giáo lớn như: Nho Giáo tôn xưng Ông là Văn Hoành Thánh Đế;  Đạo Giáo tôn xưng Ông là Hiệp Thiên Đại Đế; còn Phật Giáo tôn xưng Ông là Hộ Pháp Già Lam. Đây là một dạng thức tín ngưỡng thể hiện sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng cư dân Việt - Hoa trong quá trình tụ cư, chung sống với nhau như anh em một nhà suốt bao thế kỷ qua và là một nét đẹp trong ứng xử văn hóa, đã làm cho sắc thái văn hóa của vùng đất Long An nói riêng thêm đa dạng và phong phú.

18-11-2019 Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải), Châu Xương (bên trái).jpg

Cụm tượng thờ QuanThánh Đế Quân (ở giữa) và Quan Bình (bên phải),
Châu Xương (bên trái)

Tìm hiểu về niên đại xây dựng miếu, theo thông tin từ các dòng lạc khoản ghi trên câu đối, hoành phi (Quang Tự nhị thập ngũ niên tuế thứ Kỷ Hợi trọng hạ kiết lập) cho biết kiến trúc hiện trạng và hệ thống tượng thờ, bài vị, các chi tiết trang trí, trống, chuông đồng… có niên đại Quang Tự, năm Kỷ Hợi (1899). Ngoài ra, trên bao lam khám thờ bên phải có khắc năm 1916, đánh dấu cho lần trùng tu miếu.

18-11-2019 Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ.jpg

Năm trùng tu miếu (1916) được khắc trên bao lam khám thờ

Ngôi miếu tọa lạc trên mảnh đất có diện tích 330.8 m2 có bố cục hình chữ tam gồm hậu điện, chính điện và tiền điện với đặc điểm nổi bật là xây dựng theo lối kiến trúc Tứ trụ mang nét đặc trưng của đình làng vùng đất Nam bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, điều này cho thấy kiến trúc miếu đã có yếu tố Việt ngay từ những buổi đầu xây dựng.

18-11-2019 Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ.jpg

Miếu có kiến trúc kiểu Tứ trụ của đình làng Nam Bộ

Đặc biệt, trong miếu còn thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Hoa qua cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) vốn là hiện vật phổ biến trong các ngôi đình của người Việt, thể hiện sự trường tồn, vĩnh cửu của nền văn hóa Việt, được đặt chung trong khám thờ Quan Thánh Đế Quân.

18-11-2019 Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong bàn thờ Quan Thánh Đế Quân.jpg

Cặp qui - hạc (hạc chầu trên lưng rùa) đặt chung trong
bàn thờ Quan Thánh Đế Quân

Hàng năm, Miếu Quan Thánh Đế diễn ra lễ vía Ông vào các ngày 13 tháng Giêng (Vía chánh), 13 tháng 5 và 24 tháng 6, là nơi đến của đông đảo đồng bào Việt - Hoa ở thành phố Tân An, các hội Miếu Quan Thánh lân cận, thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân địa phương. Tuy ban đầu miếu do người Hoa thành lập nhưng trong quá trình giao thoa văn hóa đã thu hút cộng đồng người Việt đến thắp hương... thể hiện sự giao lưu giữa đời sống tâm linh và cuộc sống hàng ngày của hai tộc người. Trong tâm thức người dân, đây là tiêu biểu cho những giá trị tinh thần tốt đẹp cũng như thể hiện tính bao dung, cởi mở trong tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng người Việt. Mặt khác, không chỉ là những khách hành hương, người Việt còn nằm trong Ban Quản trị, là ông từ trực tiếp trông coi, sớm chiều hương khói, chung tay góp sức với người Hoa cùng nhau thờ tự, giữ gìn miếu. Điều này càng thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, gắn bó của cộng đồng các dân tộc Việt - Hoa trên mảnh đất Long An.

Ngày nay, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa lẫn nhau giữa người Việt và người Hoa ngày càng trở nên mạnh mẽ, các yếu tố văn hóa Việt,  văn hóa Hoa tồn tại đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Ví như trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, người Việt không phân biệt rạch ròi giữa miếu, miễu và chùa thường gọi lẫn lộn. Trong khi đó, miếu, miễu là nơi thờ Thần, còn chùa là nơi thờ Phật, nhưng đối với Miếu Quan Thánh Đế của người Hoa, người Việt thường gọi là Chùa Ông... Qua đó cho thấy, sự giao lưu văn và tiếp biến hóa giữa người Việt - Hoa được diễn ra một cách hòa hợp vì giữa hai nền văn hóa có nhiều yếu tố tương đồng, giống nhau. Tuy là miếu Hoa nhưng vẫn thấy được văn hóa Việt, đó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Long An nói riêng. Bởi văn hóa là hòa bình, không bao giờ phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay thể chế chính trị - kinh tế - xã hội.

Do đó, việc xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh đối với Miếu Quan Thánh Đế là cần thiết, nhằm bảo tồn và giữ gìn được di sản văn hóa của tỉnh nhà nói riêng, cả nước nói chung, góp vào nguồn lực phát triển văn hóa vùng đất Nam Bộ trong hiện tại cũng như trong tương lai./.

Hồng Nhung

25/11/2019 7:00 CHĐã ban hànhApproved
Huyện Tân Hưng thực hiện Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóaHuyện Tân Hưng thực hiện Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

Thực hiện Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 22/01/2014 của UBND huyện Tân Hưng về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH) huyện Tân Hưng. Trong thời gian qua, BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH huyện đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng về nội dung và phương thức hoạt động, thực hiện đạt được những kết quả nhất định

Về thực hiện nhiệm vụ của BCĐ và cơ quan thường trực BCĐ:

- Hoạt động của BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH nhằm chỉ đạo triển khai thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH ngày càng sâu rộng, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về văn hóa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. 

- Hàng năm, đề ra kế hoạch hoạt động với các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể và các giải pháp để thực hiện có hiệu quả, nhất là công tác tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH.

- BCĐ huyện thường xuyên được kiện toàn khi có thành viên BCĐ thay đổi do chuyển công tác khác, có phân công thành viên phụ trách từng xã, thị trấn. Thực hiện hội họp theo định kỳ và tổ chức sơ kết hàng năm, tổng kết theo giai đoạn khi có sự chỉ đạo của BCĐ tỉnh. Tổ chức kiểm tra, phúc tra phong trào theo định kỳ 6 tháng, năm đối với cơ sở để kịp thời hỗ trợ, tìm các giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện phong trào. Tổ chức xét thi đua khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, có đóng góp cho phong trào.

- Quan tâm chỉ đạo các xã, thị trấn thường xuyên kiện toàn BCĐ, ban hành Quy chế làm việc và xây dựng kế hoạch hoạt động với các chỉ tiêu cụ thể để phấn đấu thực hiện có hiệu quả.

Quang cảnh buổi làm việc.JPG

Quang cảnh buổi làm việc

Về thực hiện nhiệm vụ của thành viên BCĐ:

- Thành viên BCĐ dự họp đầy đủ, tham gia tốt các đoàn kiểm tra, phúc tra phong trào xây dựng đời sống văn hóa hàng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu, tich cực tham gia góp ý xây dựng phong trào.

- Chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các tiêu chí của phong trào TDĐKXDĐSVH thuộc ngành, lĩnh vực mình phụ trách. Định kỳ báo cáo về Thường trực BCĐ theo yêu cầu hoặc đột xuất.

Về thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thành viên BCĐ:

- Các cơ quan thành viên của BCĐ phụ trách các mô hình, phong trào cụ thể lồng ghép vào việc thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH, cụ thể như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện chủ trì thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Liên đoàn Lao động huyện chủ trì thực hiện phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa, Công an huyện chủ trì thực hiện phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc", Phòng Giáo dục và Đào tạo chủ trì phong trào "Trường học thân thiện, học sinh tích cực"

- Hàng năm các ngành thành viên và cơ sở xây dựng kế hoạch hoạt động, bám sát vào nhiệm vụ chuyên môn, các ngành thành viên đeo bám tiêu chuẩn ngành mình phụ trách để tham gia thực hiện phong trào. Định kỳ có kiểm tra kết quả thực hiện và báo cáo với cơ quan thường trực.

- Công tác phối hợp với cơ quan thường trực cũng như giữa các ngành thành viên huyện với cơ sở được thực hiện thường xuyên, liên tục như: Hỗ trợ cơ sở tổng vệ sinh môi trường, tập trung nguồn lực đầu tư theo lộ trình xây dưng xã đạt chuẩn văn hóa.

- Công tác tuyên truyền vận động từng bước được thực hiện và được nhiều tầng lớp nhân dân ủng hộ tham gia phong trào và mang lại hiệu quả.

Về chế độ làm việc của BCĐ:

BCĐ huyện đã thực hiện tương đối tốt chế độ làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, Trưởng BCĐ trực tiếp lãnh đạo, điều hành hoạt động của BCĐ. Thường trực BCĐ và các thành viên BCĐ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, tuân thủ theo sự phân công của Trưởng ban.

BCĐ hội họp theo định kỳ 03 tháng một lần, trong trường hợp cần thiết, có thể họp bất thường.

Tổ chức kiểm tra, phúc tra phong trào TDĐKXDĐSVH mỗi năm 02 lần, riêng đối với các xã đang trong lộ trình xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa thì Thường trực BCĐ cùng với một số ngành thành viên thường xuyên kiểm tra, hỗ trợ việc thực hiện phong trào.

Nguyên nhân đạt được:

- Các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện phong trào được triển khai kịp thời, phù hợp với thực tế ở địa phương, cơ sở và được sự đồng thuận trong xã hội.

- Công tác lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp được kịp thời, công tác kiểm tra đánh giá hiệu quả phong trào được duy trì theo hướng không ngừng nâng cao chất lượng phong trào. Từ đó, tạo được lòng tin trong nhân dân.

- Các ngành và cơ sở có sự phối hợp thực hiện phong trào, có đề ra kế hoạch thực hiện, có kiểm tra, đánh giá kết quả theo từng thời gian.

- Công tác tuyên truyền, vận động phong trào từng bước đi vào chiều sâu, làm cho người dân thấy được hiệu quả cũng như lợi ích của phong trào.

- Ban chỉ đạo các cấp được kiện toàn theo đúng qui định, đảm bảo được quy chế hoạt động, từng thành viên có trách nhiệm với phong trào và tham gia thực hiện.

Hạn chế, tồn tại:

- Công tác tuyên truyền chưa đi vào chiều sâu, còn nhiều người dân chưa nắm hết được nội dung tiêu chí của gia đình văn hóa, ấp, khu phố văn hóa. Thành viên BCĐ có lúc, có nơi chưa bám sát nhiệm vụ thành viên của mình tham gia phong trào nên chưa chủ động trong chỉ đạo thực hiện các tiêu chuẩn của ngành, lĩnh vực mình phụ trách.

- Còn nhiều ngành thành viên chưa xây dựng được kế hoạch hoạt động của ngành mình thực hiện phong trào mà chủ yếu lồng vào kế hoạch chuyên môn của ngành, lĩnh vực mình phụ trách nên hiệu quả hoạt động đạt được chưa cao.

- Công tác phối hợp giữa các ngành thành viên với nhau và với cơ sở có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, thông tin thiếu kịp thời. Tính chủ động thực hiện phong trào ở một số ngành thành viên và cơ sở còn nhiều hạn chế.

- Công tác tham gia hội họp BCĐ, sơ kết phong trào, công tác phúc tra đời sống văn hóa hàng năm cũng như tham gia đoàn kiểm tra đột xuất phong trào vẫn còn một số thành viên cử nhân viên đi thay chưa nắm hết nội dung lĩnh vực mình phụ trách nên chưa phát huy được trách nhiệm của ngành mình thực hiện phong trào.

Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại:

- Công tác lãnh, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, nhất là ở cơ sở có lúc, có nơi chưa thật chặt chẽ, thiếu thường xuyên.

- Do công việc chuyên môn nhiều nên nhiều ngành thành viên chưa đeo bám phong trào, có thành viên Ban chỉ đạo huyện ít đi cơ sở để hỗ trợ cho phong trào.

- Kinh phí hoạt động của BCĐ huyện và cấp xã còn hạn chế chủ yếu phục vụ hội họp, kiểm tra, sơ kết, các khoảng kinh phí để phục vụ phong trào như công tác tuyên truyền, khen thưởng, in ấn giấy công nhận các danh hiệu văn hóa còn gặp  khó khăn.

Một số giải pháp thực hiện trong thời gian tới:

- Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Quy chế hoạt động của BCĐ phong trào TDĐKXDĐSVH cho phù hợp với thực tế, phân công phân nhiệm cụ thể từng thành viên BCĐ. Kiện toàn lại thành viên BCĐ huyện, hướng dẫn kiện toàn thành viên BCĐ các xã, thị trấn.

- Đảm bảo các văn bản chỉ đạo của cấp trên đều được triển khai kịp thời, đúng qui định.

- Tập trung hơn nữa cho công tác tuyên truyền, vận động, kịp thời nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, khen thưởng, động viên kịp thời, tạo sức lan tỏa phong trào trong mọi tầng lớp nhân dân. Đài truyền thanh huyện duy trì,  nâng cao chất lượng tiết mục xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

- Từng ngành thành viên từ huyện tới cơ sở phải có kế hoạch cụ thể thực hiện phong trào, thường xuyên phối hợp với cơ sở để có các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Định kỳ và thường xuyên kiểm tra kết quả trên từng tiêu chí mà ngành mình phụ trách, có giải pháp duy trì và nâng cao chất lượng.

- Từng ngành thành viên và cơ sở đảm bảo chế độ báo cáo theo đúng qui định về cơ quan thường trực, công tác tham mưu, đề xuất phải kịp thời, đúng qui định. Đảm bảo chế độ hội họp, phân công, phân nhiệm rõ ràng, quy rõ trách nhiệm trên từng lĩnh vực gắn với đánh giá cán bộ, đảng viên, công chức cuối năm.

- Từng thành viên BCĐ từ huyện đến các xã, thị trấn phải bám sát địa bàn, định hướng xây dựng phong trào phù hợp với từng địa bàn; lắng nghe, thấu hiểu nhân dân, xác định nhiệm vụ cần làm để phát động phong trào đảm bảo hiệu quả và được nhân dân đồng thuận.

- Mặt trận Tổ quốc, các ngành, đoàn thể cần phát động sâu rộng trong nhân dân các mô hình thực tế như đường làng, ngõ xóm không rác thải, nhà nhà có hàng rào, cây xanh, từng hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, nhà đạt 3 sạch "sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ".

- Đảm bảo bố trí kinh phí cho hoạt động phong trào trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả./.

Bài, ảnh: Nguyễn Thị Liễu

 Phòng VH và TT huyện Tân Hưng.

28/04/2017 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa về Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Long An để phục vụ công tác giáo dục truyền thốngBảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa về Khởi nghĩa Nam Kỳ ở Long An để phục vụ công tác giáo dục truyền thống

Bảy mươi mốt năm đã trôi qua nhưng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) vẫn còn để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Trên mảnh đất Long An (vào thời điểm 1940 là tỉnh Tân An và tỉnh Chợ Lớn), những chứng tích về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn còn hiện hữu như nhắc nhở cho chúng ta một giai đoạn lịch sử hào hùng và oanh liệt của các thế hệ người đi trước.

Khởi nghĩa Nam Kỳ là biểu hiện cụ thể cho truyền thống yêu nước, bất khuất trước ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cuộc khởi nghĩa còn là quy luật tất yếu của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp mỗi khi tình thế và thời cơ cách mạng đã đến gần. Mặc dù thực dân Pháp và tay sai đã tăng cường bộ máy cai trị phản động, dùng mọi thủ đoạn dã man, tàn bạo để đàn áp, đối phó với phong trào cách mạng nhưng chúng không thể nào ngăn nổi sự vùng dậy đòi quyền sống của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, trực tiếp là tỉnh ủy Tân An và tỉnh ủy Chợ Lớn, nghĩa quân và nhân dân 2 tỉnh đã nhất tề nổi dậy trừng trị bọn tay sai, đánh chiếm đồn bót, nhà việc, đốt hết sổ sách. Trong 128 làng của 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn, 94 làng có kế hoạch khởi nghĩa, trong đó có 48 làng thực hiện được kế hoạch. Có khoảng 1400 nghĩa quân và 30.000 quần chúng đã tham gia khởi nghĩa. Nghĩa quân đã tiến công 12 đồn bót, chiến nhà việc và treo cờ búa liềm ở 49 làng, trừng trị 49 tên tay sai, thu 52 súng các loại. Sau khởi nghĩa, nghĩa quân tiếp tục lập 6 lõm căn cứ  trong đó có căn cứ Mớp Xanh tiếp tục hoạt động vũ trang, duy trì chiến đấu, diệt 68 tên địch, làm bị thương 70 tên, thu 30 súng các loại.

Trong quá trình khởi nghĩa, dù tình thế không thuận lợi do không phối hợp được với lực lượng khởi nghĩa chủ yếu ở Sài Gòn nhưng lực lượng khởi nghĩa ở Tân An và Chợ Lớn đã nêu cao tinh thần kỷ luật, quyết tâm thực hiện đúng nghị quyết của Xứ ủy và kế hoạch. Thực dân Pháp đã tiến hành đàn áp khốc liệt cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ở 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn, chúng đã đốt hơn 300 ngôi nhà, giết hại hàng trăm dân thường. Ở Giồng Cám (xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa), chúng đã bắn chết 17 người, vùi xác xuống 1 con mương. Gia đình ông Huỳnh Văn Bài (cha đồng chí Huỳnh Văn Một) bị chúng đốt nhà, tàn sát cả 7 người rồi tưới xăng thiêu cháy. Cho đến tháng 1/1941, chúng đã bắt 421 người ở tỉnh Tân An và 522 người ở tỉnh Chợ Lớn và đày Tà Lài, Côn Đảo hoặc kết án tử hình 132 người. Cũng tại 2 tỉnh này, chúng đã lập 11 mô bắn sát hại nhiều chiến sĩ cách mạng. Tại pháp trường của giặc, nhiều chiến sĩ cách mạng đã nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, oanh liệt hy sinh trong niềm tiếc thương của nhân dân và sự kính phục của kẻ thù như: Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Văn Dương….

Trong điều kiện cuộc khởi nghĩa không giành được thắng lợi và bị địch đàn áp, khủng bố, truy quét khốc liệt, nghĩa quân vẫn thành lập các lõm căn cứ nhằm duy trì chiến đấu và bảo tồn lực lượng. Điều này là bằng chứng hùng hồn về tinh thần cách mạng tiến công và quyết tâm chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu lý tưởng giải phóng dân tộc của Đảng. Hoạt động của nghĩa quân sau Khởi nghĩa Nam Kỳ ở các căn cứ mà tiêu biểu là căn cứ Mớp Xanh chính là tiền đề để cho vùng đất bưng biền này trở thành căn cứ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Tân An và Chợ Lớn là 2 trong 9 tỉnh ở Nam Kỳ khởi nghĩa sớm và mạnh mẽ nhất trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuộc khởi nghĩa ở 2 tỉnh này đã góp phần làm rung chuyển bộ máy cai trì ở thuộc địa mà thực dân Pháp đã dựng lên gần 8 thập kỷ kể từ khi chúng nổ súng xâm lược nước ta. Là cuộc tập dượt sử dụng bạo lực vũ trang cách mạng, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là tiếng sấm rền báo hiệu cho cơn bão táp Cách mạng Tháng Tám quét sạch bọn xâm lược và bè lũ tay sai 5 năm sau đó. Đánh giá công trạng và thành tích của đội quân khởi nghĩa Nam Kỳ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 163-SL, ngày 14/4/1948 tặng thưởng Huân chương Huân công hạng nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ”. Trong niềm tự hào chung ấy, có phần đóng góp xứng đáng của quân và dân 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn.

Hơn bảy mươi năm đã trôi qua nhưng lớp bụi thời gian vẫn không thể xóa nhòa những sự kiện lịch sử oai hùng mà ông cha ta đã lập nên trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Những di tích về cuộc khởi nghĩa vẫn còn tồn tại như: Đài xử bắn các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa ở sân banh Cần Giuộc và Ngã tư Đức Hòa, địa điểm nghĩa quân quận Đức Hòa diệt tên Quản Nên và Bếp Nhung ở Giồng Cám, địa điểm Mớp Xanh-nơi  nghĩa quân  lập căn cứ để bảo tồn lực lượng và tiếp tục chiến đấu với kẻ thù. Để bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích này, phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân, Sở Văn hóa-Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tiến hành nghiên cứu, lập hồ sơ trình các cấp có thẩm quyền ra quyết định xếp hạng. Trong đó, di tích sân banh Cần Giuộc (địa điểm thực dân Pháp xử bắn đồng chí Nguyễn Thị Bảy và 4 chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Cần Giuộc) và Giồng Cám (nơi nghĩa quân quận Đức Hòa diệt Quản Nên, Bếp Nhung và là nơi thực dân Pháp giết 17 thường dân, vùi chung xác xuống mương) đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Đài xử bắn Đức Hòa nằm trong quần thể di tích Ngã tư Đức Hòa và căn cứ Mớp Xanh (tiền thân của căn cứ Bình Thành) đã được Bộ văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia. Các công trình trùng tu tôn tạo đã được Ủy ban nhân dân tỉnh đầu tư kinh phí xây dựng tại  những di tích này. Tại Giồng Cám và Sân banh Cần Giuộc, bia lưu niệm sự kiện lịch sử đã được xây dựng. Đài xử bắn tại di tích Ngã tư Đức Hòa sẽ được phục hồi trong giai đoạn 2 của dự án trùng tu, tôn tạo di tích Đức Hòa. Tại Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh (căn cứ Bình Thành), hạng mục Nhà truyền thống đang được xây dựng. Trong nội dung trưng bày của Nhà truyền thống, sẽ có một phần trang trọng để trưng bày những hình ảnh, tư liệu, hiện vật về căn cứ Mớp Xanh.

Cùng với các công trình lịch sử bằng chữ viết, các di tích lịch sử văn hóa nói trên sẽ là “cuốn sử sống” phản ánh sinh động cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ trên mảnh đất Tân An, Chợ Lớn năm xưa. Với ý nghĩa ấy, sau khi được trùng tu, tôn tạo, các di tích lịch sử-văn hóa về cuộc khởi nghĩa Nam kỳ sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ-thế hệ tương lai của đất nước.
                                                                                                Nguyễn Văn Thiện

26/06/2012 1:40 SAĐã ban hànhApproved
Đức Huệ, huyện giải phóng đầu tiên ở Khu 8Đức Huệ, huyện giải phóng đầu tiên ở Khu 8

Đức Huệ vào cuối thế kỷ XIX là vùng đất thuộc huyện Thuận An, rồi Cửu An của phủ Tân An, đầu thế kỷ XX thuộc quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An. Sau cách mạng tháng 8-1945, chính quyền kháng chiến lập khu Đông Thành, rồi huyện Đông Thành thuộc tỉnh Chợ Lớn, đến năm 1951 nhập với huyện Đức Hòa thành huyện Đức Hòa Thành, thuộc tỉnh Gia Định Ninh, sau 1954 cắt lại thuộc quận Thủ Thừa. Năm 1959, quận Đức Huệ chính thức được thành lập (Sắc lệnh 48/NV-VNCH, ngày 3/3/1959), gồm 3 xã của quận Đức Hòa, 5 xã thuộc đất Đông Thành. Năm 1963, Đức Huệ cùng với Đức Hòa, Trảng Bàng và Củ Chi lập thành tỉnh Hậu Nghĩa (Sắc lệnh 12/NV-VBCH ngày 15/10/1963). Sau ngày giải phóng 1975, Đức Huệ trở vể thuộc tỉnh Long An đến ngày nay.

Là vùng đất kiên cường trong hai cuộc kháng chiến và trong cuộc chiến tranh bảo vệ vùng đất biên cương phía Tây Nam Tổ quốc, nói đến Đức Huệ, không thể không nói đến chiến công là huyện được giải phóng đầu tiên ở Long An và Khu 8 trong kháng chiến chống Mỹ.

Khu trù mật điển hình ở Nam Bộ

 Nhân dân Đức Huệ phá khu trù mật trở về vườn cũ.

Đức Huệ là địa bàn có vị trí quan trọng đối với cả ta và địch trong kháng chiến chống Mỹ. Là nơi tiếp giáp giữa miền Đông với miền Tây Nam Bộ và phía Đông Campuchia, cách Sài Gòn 40 km đường chim bay, Đức Huệ là bàn đạp quan trọng tấn công vào đầu não của ngụy quyền ở Sài Gòn, và là hành lang cho cả mặt trận Tây Nam thành phố.

Chính vì vậy, từ năm 1957, trong chương trình thực hiện quốc sách Dinh điền mà đế quốc Mỹ đã tài trợ 11 triệu đô la, chính quyền Diệm đã chọn Quéo Ba, xã Mỹ Quý (nay thuộc xã Mỹ Quý Tây) để xây dựng khu trù mật vào loại điển hình ở Nam Bộ, nhằm cô lập quần chúng nhân dân với lực lượng cách mạng ở đây- một mô hình chống Cộng mà địch rút kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến tranh ở Malayxia. Giới chóp bu của địch vì thế mà rất quan tâm đến khu trù mật Quéo Ba. Đằng sau những lời lẽ mỵ dân để che đậy ý đồ thâm độc của chính sách dinh điền, khu trù mật, tỉnh trưởng Long An Mai Ngọc Dược lên Đức Huệ ba hoa rằng: “Ý nghĩa khu trù mật là xây dựng một xã hội mới để thực hiện công bằng bác ái, đồng tiến xã hội trong một nước kém mở mang”. Để xây dựng khu trù mật Quéo Ba, Mỹ-Diệm bắt dân 8 quận trong tỉnh có lúc lên đến hàng vạn người đi làm lao công ở đây, đồng thời lập thêm 3 khu gom dân lớn ở Giồng Bò, Giồng Bún, Tràm Bà Giang, tạo thành một hệ thống kềm kẹp 8.000 dân Đức Huệ. Địch đưa bộ máy ngụy quân, ngụy quyền cấp quận về đóng ở Mỹ Quý gồm 3 đại đội Bảo An nhiều đại đội dân vệ do quận trưởng Huỳnh Khương An cầm đầu. Kết hợp với từ 1 đến 2 tiểu đoàn lính biệt kích và chủ lực thường xuyên có mặt ở Đức Huệ, chúng hoạt động trên 4 xã trọng điểm là: Mỹ Quý Đông, Mỹ Quý Tây, Mỹ Thạnh Tây, Mỹ Thạnh Bắc; riêng ở xã Mỹ Quý Tây lúc nào cũng có 5 trung đội Bảo An, 6 trung đội thanh niên chiến đấu với số quân gần 400 tên. Sau 3 năm nỗ lực hoàn thành ý đồ, địch đánh giá khu trù mật Quéo Ba trong bản phúc trình ngày 5/10/1959 của trung tá Nguyễn Hữu Phước và Thiếu tá Phạm Ngọc Thảo gởi Tổng giám đốc Nha Kiến thiết của chính quyền Diệm, như sau: “... Chẳng những về phương diện chiến thuật đối với tỉnh Long An mà về phương diện chiến lược đối với miền Đông và miền Tây, khu trù mật Đức Huệ sẽ có tác dụng tranh thủ nhân tâm để phối hợp lực lượng quân sự, hạn chế sự giao thông liên lạc giữa lực lượng của Việt cộng ở miền Đông và miền Tây”.

Bản phúc trình cho thấy Mỹ-Diệm coi trọng và hy vọng ở khu trù mật Quéo Ba như thế nào. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã đề ra Nghị quyết và chỉ đạo huyện Đức Huệ phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị của quần chúng, tấn công, bao vây liên tục, đi đến bức hàng, bức rút quân địch ở khu trù mật Quéo Ba để giải phóng hành lang quan trọng này.

“Quéo Ba” là địa danh nay đã thành tên ấp, ấp Quéo Ba, do nơi đây xưa kia có 3 cây quéo cổ thụ (một loại xoài hoang dại, trái nhỏ, hột to) mọc chung một chỗ. Tên gọi Quéo Ba gắn liền với vùng đất này qua từng giai đoạn lịch sử: khu trù mật Quéo Ba, chi khu Quéo Ba. Di tich lịch sử ghi dấu giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ, 18-10-1964 mang tên “Khu vực Quéo Ba”(Quyết định số 1659/QĐ.UB, ngày 22-8-1994). Tháng 10-1994, kỷ niệm 30 năm sự kiện trên, huyện Đức Huệ xây dựng tại địa điểm lịch sử này bia truyền thống mang tên Bia chiến thắng Quéo Ba. Khu vực này còn có ngôi mộ tập thể Quéo Ba, là di tích lịch s ghi dấu tội ác thảm sát của thực dân Pháp năm 1948.

Vùng lên từ Đồng khởi rồi giải phóng huyện

 Bia chiến thắng Quéo Ba, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ

 Sau khi có Nghị quyết 15 Trung ương Đảng và nhận được chỉ đạo của Liên tỉnh ủy Trung Nam Bộ về xây dựng lực lượng 03 thứ quân để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy khởi nghĩa, ngày 6-1-1960, Tỉnh ủy Tân An triệu tập hội nghị mở rộng ở Giồng Ông Tưởng (xã Bình Thành, huyện Đức Huệ) để bàn kế hoạch triển khai nghị quyết.

Ở Đức Huệ, đồng chí Nguyễn Văn Tân (Sáu Thành), Bí thư Huyện ủy sau khi dự hội nghị về đã xây dựng lực lượng chiến đấu ở huyện và trực tiếp chỉ huy, gồm: một trung đội địa phương quân, mỗi xã có một chi bộ từ 3 đến 4 đảng viên, một tiểu đội du kích và khoảng 15-20 cơ sở nòng cốt trong quần chúng. Sau khi Tỉnh ủy cho phát đi Bản nhật lệnh kêu gọi khởi nghĩa (25/1/1960), từ năm 1960-1961, được hỗ trợ của mũi vũ trang, nhân dân Đức Huệ vùng lên mạnh mẽ, phá tan khu gom dân ở Giồng Bún, sau đó cùng với bộ đội tỉnh đánh những trận lớn ở Tho Mo diệt hàng trăm lính biệt động của Tiểu đoàn Trần Lệ Xuân. Ngày 12/12/1961, tại bến phà Đức Huệ, ta diệt một đại đội chủ lực của Sư đoàn 7 ngụy. Trận Giồng Nhỏ sau đó tiếp tục diệt một đại đội Bảo An. Cuộc chiến đấu lâu dài để giải phóng Đức Huệ bắt đầu bằng việc vây ép các tua vòng ngoài là Giồng Bún, Giồng Bò, Tràm Bà Giang, rồi phá banh 3 khu gom dân ở đây giải phóng 3.000 dân, cô lập khu trù mật Quéo Ba-nơi đặt chi khu Đức Huệ. Sau 3 đợt đồng khởi, Đức Huệ đã được giải phóng gần hết trừ khu đầu não của chúng ở Quéo Ba. Mũi đấu tranh chính trị cũng phát triển mạnh, những cuộc biểu tình, đấu tranh do phụ nữ tổ chức đã thu hút hàng trăm, hàng ngàn chị em tham gia. Kết hợp với đấu tranh chính trị, các trận đánh, các cuộc đột nhập khu trù mật để diệt ác của lực lượng vũ trang do huyện ủy, các chi bộ xã lãnh đạo, cùng với mũi đấu tranh binh vận liên tục đã tạo thành một thế trận đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần. Ngày 3/11/1962, thiếu tá Nguyễn Viết Thanh, tỉnh trưởng Long An vội đệ trình lên Ngô Đình Diệm một kế hoạch mở mang khu trù mật Đức Huệ với kinh phí 6.600.000 đồng để củng cố tình hình.

            Sang năm 1963, phong trào đấu tranh bằng ba mũi giáp công ở Đức Huệ theo đà ấy tiếp tục đi lên và phát triển rất mạnh, nhất là từ sau trận chiến thắng Hiệp Hòa 23/11/1963 mở đầu cho cao trào phá ấp chiến lược trên toàn tỉnh. Bước sang năm 1964, ta mở liên tiếp các đợt tiến công trên cả hai hướng Bắc và Nam lộ 4, lực lượng bình định chủ yếu của địch lúc này ở Long An là Sư đoàn 25 ngụy phải căng lực lượng ra để chống đỡ. Trong tình hình ấy, địch điều Trung đoàn 46 từ Hậu Nghĩa về Cần Đước, Cần Giuộc để tái chiếm lại địa bàn ta mới giải phóng, một trung đoàn giữ lộ 4 và một trung đoàn về Củ Chi. Ở Đức Huệ, lực lượng địch rất mỏng, trong khi khu trù mật Quéo Ba bị ta bao vây và ngày càng siết chặt, địch phải tiếp tế cho chi khu Đức Huệ bằng máy bay. Chớp thời cơ, Ban chỉ huy Tỉnh đội điều Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 263 về Đức Huệ tiến công chi khu Quéo Ba. Để thực hiện tiến công mục tiêu quan trọng này, tỉnh sử dụng Tiểu đoàn 1 đánh đồn Đức Lập và Sò Đo ở huyện Đức Hòa để nghi binh kéo địch về hướng này, không cho chúng ứng cứu lẫn nhau, hỗ trợ cho cuộc bao vây cô lập và tấn công khu trù mật Đức Huệ. Trước sự vây ép ngày càng gia tăng của ta, quận trưởng Đức Huệ Lê Đăng Sĩ phải bỏ trốn khỏi Mỹ Quý Tây. Đêm 16/10/1964, quân và dân Đức Huệ với sự hỗ trợ của Tiểu đoàn 263 đã bao vây, tấn công chi khu Đức Huệ, sẵn sàng đánh quân địch bỏ chạy hoặc quân tiếp viện. Cùng lúc ấy ta cũng tấn công địch ở Sò Đo, Đức Lập và nhiều nơi khác ở tỉnh Long An.Trước cuộc tấn công đồng loạt và dũng mãnh của quân và dân ta, địch hết sức hoang mang, đến ngày 18/10/1964, toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền ở khu trù mật Quéo Ba rút chạy. Lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân Đức Huệ đã tràn vào san bằng khu trù mật, thu toàn bộ vũ khí gồm 200 khẩu súng các loại và nhiều đạn dược, giải phóng toàn bộ dân chúng bị địch kềm kẹp lâu nay về nhà làm ăn. Đức Huệ trở thành huyện giải phóng đầu tiên ở Long An và Khu 8.

            Đập tan khu trù mật lớn vào loại điển hình ở Nam Bộ, giải phóng hoàn toàn huyện Đức Huệ là kết quả của quá trình chiến đấu lâu dài, liên tục, là sự kết hợp tuyệt vời của 3 mũi giáp công và nắm bắt thời cơ kịp thời để làm nên một trong những chiến công tiêu biểu nhất của quân dân Long An trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Việc giải phóng huyện Đức Huệ có ý nghĩa quan trọng: Hành lang chiến lược Đức Huệ được khai thông tạo điều kiện cho quân dân Long An vượt lên đánh quỵ Sư đoàn 25 ngụy, mở rộng vùng giải phóng trên phạm vi toàn tỉnh vào giữa cuối năm 1965, làm tiền đề cho cuộc chiến đấu với quân Mỹ trong giai đoạn tiếp sau ./.

                                                                               Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

                            

24/02/2012 1:23 SAĐã ban hànhApproved
VANG MÃI “BẢN GIAO HƯỞNG” PHƯƠNG NAM VANG MÃI “BẢN GIAO HƯỞNG” PHƯƠNG NAM
Khi nước lũ bắt đầu tràn đồng và nông dân nơi đồng bằng sông Cửu tạm gác lại những ngày mùa cũng là lúc quê biển Kiên Giang bắt đầu đón các tỉnh, thành Nam Bộ về dự Liên hoan Đờn ca tài tử (ĐCTT). Như mọi năm, Liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang lần 2 năm 2013 là dịp những tri âm, tri kỷ so lại phím đàn, cất vang điệu hát. Điều này không những bảo tồn loại hình nghệ thuật dân gian mà qua đây, “bản giao hưởng” Phương Nam sẽ ngân mãi điệu đàn réo rắt cùng lời ca ngọt lịm…

6.JPG

TIẾT MỤC THAM DỰ LIÊN HOAN CỦA ĐỘI ĐCTT LONG AN

Tiếng lòng phương Nam

Cùng với 17 đội tham dự liên hoan, Đội ĐCTT tỉnh Long An đem đến cho khán giả một bữa tiệc đơn sơ nhưng đậm nét tao nhã dân gian. Với bối cảnh là buổi sinh hoạt Câu lạc bộ ĐCTT ở phường diễn ra tại nhà của Chủ nhiệm – một gia đình có 3 thế hệ đam mê và chung thủy với ĐCTT, các tải tử đờn, ca đã chuyển tải khá trọn vẹn tiếng lòng của người Phương Nam với quê hương đất nước. Đó là âm điệu vui tươi, khoan khoái khi ca ngợi về tiết nghĩa, chí khí của người Anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực qua tiết mục Hòa đờn ca điệu Lưu thủy trường “Sáng mãi ngọn lửa hồng” mà Nghệ sĩ ưu tú Đoàn Dự đã thể hiện.

Chương trình tham dự liên hoan còn là những tiết mục nói về nỗi lòng người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Với “chất” bi thiết, oán hờn của điệu Phụng cầu, lòng khán giả như tê tái khi nghe tài tử ca Hồng Cúc cất lên tiếng hát buồn “Nghe mưa ngâu là thương cách trở…” hay “Bởi chiến chinh mà bao chinh phụ đợi chinh phu” trong bài “Mưa ngâu”. Ngoài ra, tiếng lòng người Phương Nam trong từng điệu đờn, câu hát còn thể hiện qua những âm vang ngợi ca và sẻ chia nỗi đau của đất nước, người mẹ. Khán giả đã “bắt gặp” điều này qua cái buồn ảo não của điệu Nam ai trong bài “Quê hương và mẹ” và bài Vọng cổ nhịp 32 “Nỗi lòng của mẹ” do Hoàng Oanh, Hồng Cúc trình bày. Ngoài ra,  trong ĐCTT, ngoài song tấu, độc tấu, tiếng đàn, lời ca và các nhạc khí luôn hòa quyện vào nhau như bạn tri kỷ, tri âm. Vì vậy, cùng với các tiết mục Hòa đờn ca đã “trình làng”, Đội ĐCTT Long An vẫn không quên mang đến liên hoan những âm hưởng Hòa tấu điệu xàng xê – một tiết mục mà Nghệ sĩ ưu tú Thiện Vũ, thành viên Ban Giám khảo nhận xét “đúng lớp xề hơi hạ và nghe rất “đã””.

Tuy nhiên, không đợi đến liên hoan ĐCTT thì khúc nhạc lòng mới trỗi lên. Ngược lại, những nỗi niềm tâm sự được gửi gắm vào ĐCTT luôn hiện diện thường xuyên trong đời thường của người dân miền sông nước. Như anh Nguyễn Minh Vương, ngoài tiết mục vọng cổ nhịp 16 “Tâm sự Cao Văn Lầu” tham dự liên hoan, anh còn sáng tác rất nhiều bản ca gắn với cuộc sống hằng ngày. Là nông dân “rặc”, những lúc làm vườn ở Tây Ninh, mở bản đờn đã lưu trong điện thoại, anh lại hát 20 câu Nam Xuân “Nhớ cha” hay vọng cổ Tình mẹ tình quê; Nỗi niềm… “Từ những câu chuyện, hình ảnh, tâm sự của mình trong đời sống, tôi viết những lời ca ấy để nhớ về người thầy đã dạy tôi học nhịp và để nổi nhớ về quê nhà Đức Huệ, bạn bè trải dài theo lời ca… Hơn nữa, hát lúc làm vườn cũng giúp tôi quên mệt nhọc”. Anh Vương tâm sự.

Niềm tin vào lớp trẻ

Nhạc sư Nguyễn Quang Đại đã an giấc nghìn thu nhưng loại hình ĐCTT mà ông khai sáng vẫn được kế thừa, phát huy đến tận hôm nay trên đất Long An. Đặc biệt, “hậu duệ” của nhạc sư hôm nay đã có những gương mặt trẻ xuất hiện tại Liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang. Đó là bé Nguyễn Ngọc Hoàng Oanh – Lớp 10, Trường Trung học phổ thông Tân An vốn say mê ĐCTT từ năm 6 tuổi chỉ vì lý do - “đây là nét đặc sắc văn hóa của dân tộc nghe ngọt bùi, mộc mạc chân quê và dễ đi vào lòng người”. Đã thích thì phải theo nên em đăng ký học ĐCTT để biết nhịp, cách nhấn nhá, luyến láy. Và muốn tiến bộ, ngoài những giờ học trên lớp, Hoàng Oanh còn sắp xếp thời gian tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ ĐCTT ở phường, thành phố Tân An. Suốt mấy năm ròng “đeo đuổi” loại hình nghệ thuật dân gian, niềm vui nhất với Hoàng Oanh chính là những lần “ẫm” giải thưởng tại các cuộc liên hoan. Trong Liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang lần 2 năm 2013, Nghệ sĩ nhân dân Bạch Tuyết đã nhận xét: “Hoàng Oanh dù nhỏ tuổi nhưng giọng ca đầy đặn như người lớn”. Lời nhận xét ấy là tín hiệu vui cho nghệ thuật ĐCTT khi vẫn còn đó những tài tử trẻ như Hoàng Oanh.

Còn với “tay đờn” Tấn Khoa, hơn 40 năm làm bạn với tiếng đờn kìm, đờn cò, những âm thanh réo rắt, du dương khi khoan, khi nhặt ấy như một phần hơi thở trong đời sống của ông. Yêu tiếng đàn, “say” nghệ thuật ĐCTT  nhưng tuổi ngày cao nên mỗi khi nghĩ đến “tương lai” của nghệ thuật dân tộc,  ông lại chạnh buồn. Ông sợ, nếu mai này, tiếng đờn dần lùi vào dĩ vãng thì ĐCTT  cũng sẽ “đuối sức”. Bởi, tiếng đờn là một phần không thể thiếu, tạo nên cảm hứng cho tài tử ca. Ông Khoa bảo rằng: “ Nghệ thuật đờn đã khó nhưng trong ĐCTT, điệu đờn còn khó hơn. Tâm tấu nguời chơi đờn phải lão luyện để thể hiện tính sáng tạo. Ngoài ra, câu rao phải chín chắn và phù hợp với thể điệu. Chính vì cái khó và bản sắc nghệ thuật riêng ấy, tôi e, lớp trẻ bây giờ khó lòng mặn mà với nó”. Ông Khoa bộc bạch.

Nhưng không, ĐCTT sinh ra vốn là “đặc sản” của Nam Bộ nên đâu dễ mất đi. Dù có khó, vẫn có những tài tử đờn quyết tâm tìm hiểu. Và những người con của ông Khoa cùng những cái tên Trung Dung, Quốc Lễ… đã “xuất hiện” ở tuổi đời còn trẻ nhưng “ngón đờn” lại khá điêu luyện. Chính những điệu đờn ấy đã giúp ĐCTT giữ mãi sự tròn trịa cả “hồn” lẫn “sắc” và làm “mát lòng” những người “nặng tình” với loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống. Từ đội ngũ kế thừa giàu sức trẻ và lòng đam mê, nghệ thuật ĐCTT sẽ là bản giao hưởng phương Nam ngân mãi ngàn đời.

BOX:

Kết thúc liên hoan ĐCTT tỉnh Kiên Giang lần thứ 2 năm 2013, đội ĐCTT tỉnh Long An đạt giải B. Ngoài ra, em Hoàng Oanh đạt giải tài tử trẻ có triển vọng. Tiết mục Hòa tấu Xàng xê đạt giải A; tiết mục Vọng cổ Nhịp 16 “Tâm sự Cao Văn Lầu” do Nguyễn Minh Vương trình bày đạt giải A.

                                                                             Bài, ành: THÙY HƯƠNG​


22/10/2014 3:00 CHĐã ban hànhApproved
Làng trống Bình An đón TếtLàng trống Bình An đón Tết

    Thập niên 50 của thế kỷ trước, trống Bình An đã nổi tiếng khắp Nam Bộ và lan xa đến miền Trung... Những ngày chuẩn bị đón tết Nhâm Thìn, không khí lao động ở Bình An rộn rịp hẳn lên vì tín hiệu vui: trống Bình An đã có dịp xuất sang nước ngoài như: Mỹ, Pháp, Úc, Singapore, Trung Quốc, Anh, Campuchia, Hàn Quốc…

    Từ trong nước đến xuất khẩu

    Làng trống Bình An thuộc ấp Bình An xã Bình Lãng, huyện Tân Trụ, Long An. Từ trung tâm huyện, phải đi bộ  băng qua cánh đồng lúa mênh mông hàng trăm hécta chín vàng mơ, đi vào con đường bê tông nhỏ khoảng 1 cây số là đến làng trống. Ông Nguyễn Văn Mến (Năm Mến), một nghệ nhân có thâm niên làm trống cho biết có 20 loại trống, từ trống Sư tử 1,3 triệu đồng  đến 1,5 triệu đồng đến trống Cơm 2,4 triệu đồng, tùy theo kiểu dáng, kích cỡ.

   Ông Năm vừa chỉ các loại trống vừa giải thích cặn kẽ. Đây là loại trống cổ bồng xưa, đít bằng sành, bịt nhựa giống đờn độc huyền, vỗ ra nhiều chữ. Kia là chiếc trống cơm cũ, người ta tiếc rẻ nên thuê bịt lại.

    Năm Mến khoe: “Cái trống khá to do ông cùng nhóm thợ làm ròng rã gần 20 ngày công mới giao cho khách hàng ở tận Cà Mau lên, trị giá 6 triệu đồng. Những loại trống này mỗi tháng làm hàng chục cái là chuyện thường. Cách đây mấy tháng, tôi làm cái trống cao 2,5m; mặt rộng 1,5m; trị giá 25 triệu đồng, mới là cái trống lớn kỷ lục!”

    Chúng tôi nhìn lên tường thấy treo Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng cho ông Năm, một nghệ nhân có nhiều thành tích.

    Năm Mến nhớ lại lời ba ông kể hồi nhỏ, nghề trống ra đời cách đây khoảng 150 năm, do ông cố của ông là Nguyễn Văn Ty khởi xướng. Thời đó, ông Ty có ghe chài chuyên đi mua bán nước mắm từ Long An sang các tỉnh miền Tây.

    Trong quá trình đi buôn, ông Ty phát hiện dọc sông Vàm Cỏ nhiều người làm thịt trâu bỏ da. Thấy vậy, ông mang da trâu về phơi khô rồi mày mò làm trống. Do chưa có kinh nghiệm và thiếu đồ nghề nên trống làm ra tiếng kêu không được thanh và nhỏ xíu. Ngoài gia đình ông Năm Mến, còn những hộ làm trống lâu đời như: Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Văn Tùng…, tất cả đều dòng họ Nguyễn.

     Sau khi ông Ty qua đời, truyền sang ông nội của Năm Mến là Nguyễn Văn Tịnh, sau đó cha ông là Nguyễn Văn Tình, sang đời ông và các con ông: Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn An (đặt tên ghép để nhớ kỷ niệm làng trống Bình An) đã là năm đời làm trống. Riêng ông Năm Mến, làm trống từ năm 16 tuổi đến nay đã 63 xuân.

     Năm Mến cho biết: “Những thợ làm trống mày mò và sáng chế ra phương pháp dùng giàn chò, giàn giáo… để làm công cụ bịt trống; thân trống được làm bằng gỗ Sao rất tốt đảm bảo độ bền cao. Trống được sơn màu đỏ và thiết kế bề ngoài khá đẹp nên rất được ưa chuộng.”

     Làm trống có trên 20 công đoạn. Để làm được trống chất lượng, đảm bảo tiếng kêu tốt và độ bền cao, phải tìm cho được loại da trâu già, vừa mới làm thịt, tuyệt đối không dùng da trâu đã ngâm muối. Sau đó mang da trâu về căng ra phơi khô, lấy cỡ mặt trống, cắt da tròn rồi mới bịt…

     Địa chỉ mua da trâu tươi thường là các lò mổ Phú Thọ (Chợ Lớn), Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh được các nghệ nhân đưa về Long An, dùng gỗ Sao hay Lồng Mứt đốt lửa uốn ngay rồi căng phơi.

     Làng trống Bình An có 26 hộ, hầu hết là nông dân, trong đó có đến 19 hộ ở ấp Bình An, sau đó các anh chị này lập gia đình, đem nghề truyền lại cho các gia đình ở Bình Tịnh, Lạc Tấn và Mỹ Bình.

     Để tồn tại và phát triển, các cơ sở sản xuất trống ở Bình An liên tục thay đổi mẫu mã, hình thức, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Nếu như mấy năm trước, tất cả các công đoạn hầu như chỉ làm bằng phương pháp thủ công truyền thống, hai năm trở lại đây, các nghệ nhân cải tiến từ dụng cụ thủ công chuyển một số công đoạn sang cơ giới hóa và điển khí hóa như: khoan điện, bào, sơn tĩnh điện, chà giấy nhám…

     Ông Năm Mến giải thích thêm: “Tùy theo từng loại trống mà có cách làm da và bịt khác nhau, như trống lân thì làm da dày và bịt thẳng để kêu bong tiếng; trống nhạc lễ thiết kế khi đánh lên nghe tiếng âm dương, cao thấp; rồi trống trường, trống đình, chùa… mỗi loại đều có tiếng kêu riêng biệt”.  Độ bền của trống Bình An kéo dài từ 20- 30 năm mới lủng, sau đó bịt lại mặt và tiếp tục sử dụng.

     Ông Nguyễn Tấn Thành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Lãng, phấn khởi báo tin: “Vừa qua các hộ làm trống được vay 300 triệu đồng từ Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm. Mỗi hộ được vay từ 12 đến 15 triệu đồng trong 2 năm, lãi suất 0,65%/tháng, nếu có nhu cầu sẽ được đáo hạn. Ngoài ra, Sở Khoa học Công nghệ Long An còn hỗ trợ trên 50 triệu đồng đầu tư cơ giới hóa .” 

Ông Năm Mến giới thiệu trống với khách hàng

     Thương hiệu cho làng trống

     Tân Trụ là huyện nghèo nhất tỉnh. Nhiều cơ sở sản xuất trống “ăn nên làm ra” vươn lên khá giả. Như gia đình anh Ba Khía, không có tấc đất cắm dùi, nhờ nghề làm trống mà anh xây được nhà kiên cố và nuôi 4 con học lên đại học. Rồi ông Năm Mến, nuôi 7 người con có cuộc sống ổn định cũng từ nghề trống mà ra. Hộ ông Nguyễn Văn Lương, ông Hai Phú… cũng sống nhờ vào trống. Theo tổng hợp của địa phương, hiện tại đa phần các nghệ nhân làm trống đều có nhà tường khang trang  và mua sắm nhiều phương tiện nghe nhìn, hon da, điện thoại đủ đầy…

     Để nhân rộng nghề làm trống và mở thêm thị trường xuất khẩu, chính quyền địa phương đã phối hợp cùng các cơ sở thành lập Tổ hợp tác sản xuất trống nhằm tăng cường nguồn vốn, trao đổi tay nghề và mở rộng thị trường hướng đến xuất khẩu phát triển bền vững…

     Sắp tới, các ngành chức năng ở huyện Tân Trụ đang xúc tiến xây dựng thương hiệu độc quyền cho “trống Bình An”.

     Ông Nguyễn Kỳ Đức, Phó Chánh văn phòng UBND tỉnh Long An, cho biết ngoài các làng chiếu Bến Lức, Cần Đước và Tân Trụ-Long An hiện nay địa chỉ làng trống Bình An đang được UBND tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn đưa vào danh mục điểm du lịch trong tua chính phục vụ du khách khi đến tham quan Long An.

     Hiện tại, làng trống Bình An đang tất bật vào mùa sản xuất phục vụ nhu cầu tết Nguyên đán. Có điều da trâu tươi tăng lên 70%, với giá từ 14 ngàn đồng tăng lên đến 27 ngàn đồng/ký.

     Dù hút hàng nhưng giá trống bán ra vẫn giữ như cũ hoặc nhích lên chút ít. Giá mỗi cái trống trung bình từ 200 ngàn đồng đến hơn 20 triệu đồng (tùy lớn nhỏ), trống lân có giá 3,5-4 triệu đồng/cái, trống múa sư tử, múa rồng giá hơn 1 triệu đồng/cái, trống chầu, trống trường giá 4,8 triệu đồng/cái. Trừ chi phí cơ sở sản xuất còn lời 10%-20%. Riêng thợ làm trống được trả công 150.000đ/ngày, cao hơn nhiều so với làm những nghề khác.

     Theo ông Nguyễn Văn Ngọt, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Du lịch Long An, sắp tới tỉnh đang có kế hoạch xúc tiến đầu tư, mời gọi các doanh nghiệp liên kết phát triển làng nghề gắn kết với du lịch để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước một sản phẩm độc đáo truyền thống của địa phương.

                                                                                       Bài và ảnh: Hùng Cường
                                                         (Chi hội Văn nghệ dân gian thành phố Cần Thơ)

05/03/2012 1:14 SAĐã ban hànhApproved
CẦN GIUỘC: TỔ CHỨC LỄ DÂNG HƯƠNG KỶ NIỆM 48 NĂM NGÀY HY SINH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THÁI BÌNH NewCẦN GIUỘC: TỔ CHỨC LỄ DÂNG HƯƠNG KỶ NIỆM 48 NĂM NGÀY HY SINH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THÁI BÌNH

Ngày 02/7/2020, UBND thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc tổ chức Lễ dâng hương kỷ niệm 48 năm ngày hy sinh Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - liệt sĩ Nguyễn Thái Bình (02/7/1972 - 02/7/2020). Ông Nguyễn Phước Hùng, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy cùng lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể huyện, thị trấn đến dự.

2-7-2020 Quang canh le dang huong AHLLVTND Nguyen Thai Binh.png

Quang cảnh lễ dâng hương

Tại buổi lễ, các đại biểu ôn lại thân thế, sự nghiệp đồng chí Nguyễn Thái Bình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nguyễn Thái Bình sinh ngày 14/01/1948, trong một gia đình lao động nghèo đông anh em tại huyện Cần Giuộc. Anh từng theo học tại Trường Petrus Ký (Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong ngày nay), Cao đẳng Nông lâm súc trước khi được nhận học bổng du học tại Mỹ năm 1968. Anh được biết đến như là một trong những du học sinh Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ trong phong trào phản chiến ở Mỹ.

Trong suốt 4 năm du học tại Mỹ (1968-1972), Nguyễn Thái Bình đã có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí của Mỹ và lúc nào anh cũng giới thiệu một cách trang trọng "Tôi là người Việt Nam". Anh cũng dẫn đầu nhóm sinh viên Việt Nam tại Mỹ chiếm lĩnh Tòa lãnh sự của chính quyền Sài Gòn tại trụ sở Liên hiệp Quốc ở New York để phát đi những bản tuyên bố lên án đế quốc Mỹ và đòi trả tự do cho nhiều tù nhân trong các phong trào đấu tranh trong nước.

Ngày 19/5/1972, tại Mỹ, anh đã cùng các sinh viên Việt Nam yêu nước khác tổ chức Lễ kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì thế anh bị tước học bổng theo học Cao học tại Đại học Washington và buộc phải về nước. Tại buổi lễ trao học vị của mình, tháng 5/1972, anh đã phát truyền đơn phản chiến làm gián đoạn buổi lễ và tuyên bố rằng: "Chính Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về những tội ác tàn phá ở Việt Nam và Đông Dương". Anh còn viết hai bức thư ngỏ, một cho nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, một cho Tổng thống Mỹ Nixon để tuyên bố rằng: "Nếu tôi bị giết, hàng triệu người Việt Nam sẽ thay tôi chiến đấu cho đến khi chúng tôi chấm dứt cuộc chiến tranh". Thấy không khuất phục được anh, lúc 10 giờ sáng ngày 02/7/1972, trên chuyến phi cơ Boeing 747 mang số 841 đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, kẻ thù đã tìm cách bắn chết anh.

Ghi nhận thành tích đặc biệt xuất sắc của Nguyễn Thái Bình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 21/02/2010, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 2012, tỉnh Long An cho chủ trương xây dựng công viên, tượng đài Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thái Bình, đặt tại xã Tân Kim (nay thuộc thị trấn Cần Giuộc), khu vực ngã ba Nguyễn Thái Bình, quốc lộ 50 và cửa ngõ từ Thành phố Hồ Chí Minh vào trung tâm thị trấn Cần Giuộc. Việc hoàn thành công trình tượng đài tôn vinh Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thái Bình góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau, là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống giáo dục của cộng đồng dân cư./.

Phương Cảnh

03/07/2020 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Di tích Khu lưu niệm Nguyễn ThôngDi tích Khu lưu niệm Nguyễn Thông
  Về xứ thanh long huyện Châu Thành, bạn đứng quên ghé thăm nơi chôn nhau cắt rốn của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông. Từ thành phố Tân An, theo con đường mang tên ông đi về ấp Bình Trị II, xã Phú Ngải Trị khoảng 8 km là bạn đến di tích, nhân dân địa phương thường gọi là “Khu lưu niệm Nguyễn Thông”.

        Về xứ thanh long huyện Châu Thành, bạn đứng quên ghé thăm nơi chôn nhau cắt rốn của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông. Từ thành phố Tân An, theo con đường mang tên ông đi về ấp Bình Trị II, xã Phú Ngải Trị khoảng 8 km là bạn đến di tích, nhân dân địa phương thường gọi là “Khu lưu niệm Nguyễn Thông”.

        Long An thuộc đất Gia Định xưa là vùng đất có bề dày lịch sử-văn hóa, truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, là nơi đã sản sinh ra nhiều nhân vật lịch sử mà cuộc đời đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp lớn lao, có nhiều danh nhân đỗ đạt của cả nước, trở thành niềm tự hào chung cho các thế hệ sau. Nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông là người con ưu tú của đất Long An như thế.

        Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am, sinh năm 1827 trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Bình Thanh, tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, Gia Định (nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An). Ông thi Hương đổ cử nhân năm 22 tuổi, khi thi Hội bài vấy mực nên bị đánh hỏng. Ông bắt đầu cuộc đời quan trường năm 1851 với chức Huấn đạo Phú Phong tỉnh An Giang. Suốt 35 năm làm quan với nhiều chức vụ như  đốc học Vĩnh Long, Bố chánh Quảng Ngãi, An sát Khánh Hòa, Doanh điền sứ Bình Thuận, Tư Nghiệp Quốc Tử Giám…., hoạt động trên nhiều lĩnh vực thủy lợi, kinh tế, sử học, văn học, văn hóa, giáo dục,… Nguyễn Thông  tỏ ra là một nhà lãnh đạo có tài, luôn đấu tranh và đem lại quyền lợi cho nhân dân, một trí thức lớn, một nhà thơ yêu nước thương dân…. Năm 1859 thực dân Pháp đánh thành Gia Định,tro ng khi vua quan triều đình Tự  Đức bất lực, ông không do dự tòng quân vào Nam chiến đấu và trở thành  trợ thủ đắc lực của Thống đốc quân  vụ Tôn Thất Hiệp. Sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ (2.1861) ông về Tân An hoạt động chống Pháp trong phong trào Trương Định cùng với các thủ lĩnh nghĩa quân địa phương như Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị.Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ,ông đề đạt nhiều ý tưởng và kế hoạch độc đáo trong việc đồn khẩn vùng tây bắc Bình Thuận để kháng Pháp lâu dài,nhưng triều đình Huế bạc nhược đã ngăn cản kế hoạch trên.

        Sau nhiều năm hoạt động gian khổ và tâm huyết cùng bao u uất trước vận nước lúc bấy giờ, ngày 27.8.1884 Nguyễn Thông mất tại Ngọa du sào- Phan Thiết (Bình Thuận), nơi sau này các con ông là Nguyễn Quý Anh và Nguyễn Trọng Lội đã tiếp nối truyền thống, thành lập Dục Thanh học hiệu (1) mà người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh) đã ghé dạy học (3.1909) khi trên đường vào Nam tìm đường cứu nước.

        Về mặt trước tác, Nguyễn Thông để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên công độc, Ngọa du sào văn tập, Việt sử cương giám khảo lược.Theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong “Nghiên cứu lịch sử” số 221, Nguyễn Thông còn là tác giả sách “Kỳ Xuyên thi sao” mới tìm thấy ở miền Nam.

Cuộc đời hoạt động và trước tác của Nguyễn Thông để lại đã khẳng định ông là một nhà hoạt động văn hóa lớn, một trí thức lớn đã thể hiện tấm lòng yêu nước một cách trọn vẹn trong thời kỳ lịch sử đầy biến động ở nước ta vào cuối thế kỷ XIX.

Nguyễn Thông (1827-1884)

Bia đá Nguyễn Hanh (thân sinh cụ Nguyễn Thông) do Nguyễn Thông lập năm 1868 tại khu di tích Khu lưu niệm Nguyễn Thông.

 Bia do Sở VH-TT Long An lập tại di tích năm 1984

 Mộ cụ Nguyễn Thông ở thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

   

Gươm lịnh và thước của cụ Nguyễn Thông, do cháu cố là bà Nguyễn Thị Minh Trinh đang lưu giữ và thờ tự tại Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Gian thờ cụ Nguyễn Thông của con cháu tại Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh

        Nguyễn Thông an nghĩ vĩnh viễn trên quê hương thứ hai Bình Thuận, nhưng nơi sinh ra ông, tên ông đã thành tên đường, tên trường học. Khu vườn nhà ông nay là khu lưu niệm. Đó là một quần thể (rộng 543m2) gồm công trình bia lưu niệm (xây dựng năm 1984 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất Nguyễn Thông), nền nhà cũ, mộ phần của bà nội và song thân của Nguyễn Thông bằng đá ong (laterit). Đặc biệt tại đây còn một bia đá cẩm thạch do chính ông tạo lập năm 1868, loại bia một mặt có kiểu dáng và trang trí mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn. Nội dung bia xác định vị trí các ngôi mộ, năm sinh ,năm mất và một bài minh ca ngợi công đức thân sinh ông là Nguyễn Hanh. Ngày nay, “Khu lưu niệm Nguyễn Thông” là địa điểm tham quan, thăm viếng, là địa chỉ về nguồn của học sinh,sinh viên. Bia đá do ông lập là di sản quí ở địa phương, là tư liệu góp phần tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Thông.

        Năm 2001” Khu lưu niệm Nguyễn Thông “ được Bộ văn Hóa & Thông tin công nhận là di tích Quốc gia (Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT ngày 19-01-2001).

        Từ sau khi có Nghị quyết Trung ương V khóa 8 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy, trong những năm qua, tỉnh đã triển khai Dự án trùng tu tôn tạo di tích lịch sử-văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông với tâm huyết sao cho xứng tầm với giá trị của di tích.

        Ngày 26/8/2011, Khu lưu niệm Nguyễn Thông được khởi công trùng tu, xây dựng với các hạng mục: khuôn viên mộ, khuôn viên nhà, bia mộ, san nền. Đây là những hạng mục rất quan trọng trong nhiều hạng mục của dự án nhằm bảo tồn, trùng tu những di tích gốc của khu di tích. Theo kế hoạch, các hạng mục này sẽ được hòan thành trong vòng 90 ngày.

        Với lòng kính trọng và tình cảm sâu sắc đối với thế hệ tiền nhân, việc trùng tu xây dựng Khu lưu niệm Nguyễn Thông việc làm hết sức ý nghĩa trong việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho nhân dân, vừa đáp ứng  nguyện vọng của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà, đặc biệt là của huyện Châu Thành-là nơi sinh ra nhà trí thức yêu nước tiêu biểu của Long An và Nam Bộ thế kỷ XIX. Đây là bước đầu của việc hình thành khu di tích này trong tương lai, sẽ góp phần giáo dục truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc hơn về truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh của cha ông trên đất Long An, mà còn là điểm tham quan học tập, góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn mới ở xã Phú Ngãi Trị đang trên đà phát triển, cùng với các di tích trọng điểm khác ở huyện Châu Thành đang được trùng tu, xây dựng sẽ tạo nên bộ mặt văn hóa của huyện nhà, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương./.

                                                                                     Bài, ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

(1) Cùng với Liên Thành thư xã và Liên Thành thương quán là 3 cơ sở hoạt động yêu nước và tiến bộ ở miền Nam lúc bấy giờ.

02/12/2011 7:31 SAĐã ban hànhApproved
Đoàn Xiếc nhân dân Long An: HÀNH TRÌNH ĐẾN VỚI LIÊN HOAN XIẾC TRẺĐoàn Xiếc nhân dân Long An: HÀNH TRÌNH ĐẾN VỚI LIÊN HOAN XIẾC TRẺ

Những ngày đầu tháng 12 sắp tới, Đoàn Xiếc nhân dân Long An sẽ về thủ đô Hà Nội tham gia cuộc thi tài năng xiếc trẻ 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Đây vừa là niềm vinh dự đối với nghệ thuật xiếc tỉnh nhà vừa là cơ hội để các nghệ sĩ thể hiện tài năng, giao lưu học tập nghệ thuật xiếc với các nước bạn.

Đến với Liên hoan Xiếc trẻ, các nghệ sĩ của Đoàn Xiếc nhân dân Long An sẽ mang đến cho khán giả những phút giây hồi hộp, hấp dẫn qua 5 tiết mục: Đế thống, Tung hứng, Thăng bằng trên chồng ly, Chồng đầu trên đu và Thăng bằng trên thang. Những người "cầm lái" trong các tiết mục này đều là các nghệ sĩ trẻ, có tuổi đời dưới 27. Trẻ tuổi đời, tuổi nghề cũng chưa già dặn nên để các tiết mục đến với liên hoan một cách tốt nhất là một thử thách đối với các nghệ sĩ và đòi hỏi từng người phải tập luyện hăng say, nhuần nhuyễn. Thầy Hà Anh Đông – Giáo viên Trường Trung cấp Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam cho biết "Sau một tháng được mời hướng dẫn tập luyện các tiết mục tham gia liên hoan, các nghệ sĩ của Đoàn có nhiều tiến bộ. Dù các nghệ sĩ có kỹ năng xiếc tốt nhưng kỹ năng trình diễn còn yếu ở những kỹ xảo và nghệ thuật biểu diễn. Nhưng qua tinh thần nhiệt tình, tích cực tập luyện, các hạn chế đã được khắc phục. Bây giờ, các nghệ sĩ đã diễn khá tốt tiết mục của mình".

0316112015.jpg

TIẾT MỤC "THĂNG BẰNG TRÊN CHỒNG LY"

Các tiết mục được chọn tham gia Liên hoan là những tiết mục mà các nghệ sĩ đã từng biểu diễn phục vụ khán giả trong và ngoài tỉnh vào những chuyến lưu diễn. Tuy nhiên, đến với Liên hoan, các tiết mục được nâng cao thêm vài chi tiết khó nên các nghệ sĩ trẻ phải sáng tạo, xử lý nhanh nhạy và tập trung cao khi biểu diễn. Chẳng hạn như tiết mục "Đế thống", nếu trước đây chỉ giữ đế thống thăng bằng trên đầu thì bây giờ được nâng cao với chi tiết bịt mắt. Hay tiết mục " Thăng bằng trên thang", khi biểu diễn phục vụ khán giả, nghệ sĩ trẻ Công Lực chỉ đứng trên đầu thang nhưng khi được chọn tham gia liên hoan, anh phải tập luyện thêm động tác tung hứng trên thang. Nghệ sĩ Công Lực chia sẻ " Mỗi ngày, tôi đều dồn hết tâm sức tập luyện để mang đến Liên hoan tiết mục thật tốt. Để diễn thành thạo các chi tiết nâng cao, bản thân phải nhanh nhạy, linh hoạt trong từng kỹ thuật diễn. Ngoài ra, để tăng độ khó và tạo sự lôi cuốn, người diễn phải biết giao lưu với khán giả trong quá trình biểu diễn".

0216112015.JPG

TIẾT MỤC "CHỒNG ĐẦU TRÊN ĐU"

Bên cạnh đó, khi nhắc đến tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly", những ai đã từng xem Đoàn Xiếc nhân dân Long An biểu diễn sẽ nhớ ngay đến nghệ sĩ trẻ mang tên Thanh Thúy. 10 năm gắn bó với Đoàn Xiếc cũng là ngần ấy thời gian nghệ sĩ Thanh Thúy "thủy chung" với tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly". Tuy nhiên, điều này không làm cho khán giả nhàm chán mà mỗi lần xem nghệ sĩ Thanh Thúy biểu diễn, cảm giác hồi hộp, hứng thú vẫn mới mẻ như lần đầu. Nghệ sĩ Thanh Thúy bộc bạch "khi mới vào Đoàn, tôi được các nghệ sĩ giàu kinh nghiệm, những người thầy trong Đoàn dạy các động tác cơ bản đến khi thành thạo thì tôi diễn tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly"cho đến nay. Dù đây là tiết mục quen thuộc nhưng bản thân chưa bao giờ chủ quan mà luôn tập luyện thường xuyên trong mỗi mùa biểu diễn. Đặc biệt, đến với liên hoan, tôi hy vọng sẽ mang đến cho khán giả một tiết mục đặc sắc với nhiều chi tiết mới".

Thay vì thăng bằng trên 4 tầng ly như trước thì khi tham gia Liên hoan, tiết mục "Thăng bằng trên chồng ly"  được tăng thêm 5 tầng với các động tác mới như tung hứng, quay khăn, nhảy vòng trên chồng ly. Việc giữ thăng bằng đã khó nhưng vừa thăng bằng trên ly, vừa thực hiện thêm các động tác mới nên nghệ sĩ phải nâng cao kỹ năng xiếc và nghệ thuật diễn như cách giữ thăng bằng lâu, lối diễn tự nhiên, nhẹ nhàng thu hút người xem...

Chỉ còn gần một tháng, các nghệ sĩ trẻ của Đoàn Xiếc nhân dân Long An sẽ đến với Liên hoan Xiếc trẻ 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Xin chúc các nghệ sĩ trẻ thành công để đưa nghệ thuật xiếc tỉnh nhà đến với khán giả trong nước và các nước láng giềng!

                                                                                                   Bài, ảnh: THÙY HƯƠNG

16/11/2015 9:00 SAĐã ban hànhApproved
HUYỆN MỘC HÓA TẬP HUẤN BIÊN TẬP VÀ DÀN DỰNG KỊCH BẢN TUYÊN TRUYỀN LƯU ĐỘNG NĂM 2020 HUYỆN MỘC HÓA TẬP HUẤN BIÊN TẬP VÀ DÀN DỰNG KỊCH BẢN TUYÊN TRUYỀN LƯU ĐỘNG NĂM 2020

Vừa qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Truyền thanh huyện Mộc Hóa đã tổ chức lớp tập huấn biên tập và dàn dựng kịch bản tuyên truyền lưu động cho 30 học viên đến từ các xã, thị trấn, các cơ quan, trường học trên địa bàn huyện.

29-6-2020 tap huan thong tin luu dong.png

Tham gia lớp tập huấn, các học viên được cán bộ Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh hướng dẫn các kiến thức cơ bản về biên tập và dàn dựng kịch bản phục vụ cho công tác tuyên truyền lưu động, đặc biệt là mảng phong trào văn nghệ quần chúng ở cấp cơ sở, trong đó công tác tuyên truyền về các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, an sinh xã hội, an ninh quốc phòng… là món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi chương trình biểu diễn phục vụ bà con nhân dân, các buổi họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, tọa đàm.

Qua 5 ngày học tập, các học viên đã được bồi dưỡng các kỹ năng cơ bản, nắm vững được phong cách, đặc điểm, quy luật một chương trình, một kịch bản để tăng cường kỹ năng biểu diễn, tính thẩm mỹ, sự nhạy bén với các loại tiết tấu. Kết quả tập huấn, các học viên đã vượt qua bài kiểm tra và đạt loại khá trở lên./.

Trung tâm VH, TT và TT huyện Mộc Hóa

29/06/2020 10:00 SAĐã ban hànhApproved
PHÚC TRA XÃ VĂN HÓA – XÃ LONG ĐỊNH, TÂN ÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚCPHÚC TRA XÃ VĂN HÓA – XÃ LONG ĐỊNH, TÂN ÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC

 

Thực hiện công văn số 1015/UBND-VX ngày 25/3/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An về việc tổ chức phúc tra xã đạt chuẩn văn hóa, ngày 08/4/2015 Đoàn phúc tra của tỉnh do đồng chí Phạm Văn Trấn – Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch làm Trưởng đoàn đã đến làm việc với Ban Chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (TDĐKXDĐSVH) huyện Cần Đước và 02 xã Long Định, Tân Ân (huyện Cần Đước).

P_20150408_104757_LL.jpg

Đoàn phúc tra tỉnh làm việc với Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa huyện Cần Đước và xã Long Định

Trên cơ sở hồ sơ phát động xây dựng xã văn hóa, báo cáo kết quả thực hiện, bản tự chấm điểm, tài liệu liên quan của địa phương, cơ sở; Đoàn tổ chức phúc tra chấm điểm, công bố điểm và biên bản nhận xét đánh giá. Nhìn chung phong trào TDĐKXDĐSVH và mô hình xây dựng xã văn hóa đã được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Huyện ủy, UBND huyện Cần Đước và sự phấn đấu không ngừng của cả hệ thống chính trị và nhân dân 02 xã đã mang lại những kết quả khả quan góp phần tạo sự chuyển biến rõ rệt bộ mặt ở nông thôn. Cụ thể:

Xã Long Định: Thời gian qua xã đã tập trung vận động xây dựng 10 căn nhà tình thương, 04 nhà đại đoàn kết, sửa chữa 02 căn nhà gia đình chính sách,… góp phần nâng tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố hoặc bán kiên cố đạt tỷ lệ 100% (2760/2760 hộ). Thu nhập bình quân đầu người 47 triệu đồng/người/năm cao hơn bình quân của huyện. Tình hình an ninh chính trị được giữ vững. Phong trào Dân số - Kế hoạch hóa gia đình hàng năm đều đạt loại xuất sắc. Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh, nhà tiêu hợp vệ sinh đạt trên 90%. Có 100 % đạt danh hiệu ấp văn hóa, xây dựng và thực hiện tốt quy ước ấp văn hóa,…

Xã Tân Ân: Tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đời sống của người dân được nâng cao, kinh tế phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt (năm 2011 là 7,31%, năm 2014 là 3,13. Hoạt động khuyến học, khuyến tài được quan tâm và phát triển ngày càng tốt hơn. Nhìn chung, xã Tân Ân đã hoàn thành hầu hết các tiêu chí xây dựng xã văn hóa, nhiều phong trào quần chúng nổi bật, góp phần thúc đẩy kinh tế - văn hóa – xã hội của xã phát triển bền vững.

Căn cứ nội dung tiêu chí chấm điểm, đánh giá theo Quy chế công nhận danh hiệu phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 3082/QĐ-UBND ngày 01/10/2012 của UBND tỉnh; công văn số 3510/UBND-VX ngày 01/10/2012 của UBND tỉnh hướng dẫn thang điểm thi đua – khen thưởng phong trào TDĐKXDĐSVH trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2012-2015, Đoàn phúc tra tỉnh thống nhất chấm điểm cho 02 xã như sau: Xã Long Định 96,5 điểm; xã Tân Ân 99 điểm. Như vậy xã Long Định và xã Tân Ân (huyện Cần Đước) đạt danh hiệu "Xã văn hóa năm 2015". Tuy nhiên, qua phúc tra tại 02 xã cho thấy một vài tiêu chí chưa đạt kết quả như mong muốn và vẫn còn những hạn chế, tồn tại như ở Long Định: Cảnh quan môi trường chưa thật sự xanh, sạch, đẹp (nhất là gần các khu công nghiệp); có 02 ấp chưa xây dựng Nhà Văn hóa – Khu Thể thao; Trung tâm Văn hóa – Thể thao và Học tập cộng đồng chưa được đầu tư xây dựng (còn sử dụng hội trường của UBND xã để hoạt động) nên chưa đảm bảo các hoạt động diễn ra liên tục. Xã Tân Ân: Chất lượng hoạt động các thiết chế văn hóa thể thao xã, ấp chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của người dân,…

Để xã Long Định và xã Tân Ân huyện Cần Đước là xã văn hóa có tính bền vững, đồng chí Phạm Văn Trấn – Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị UBND huyện, Đảng ủy, chính quyền cần quan tâm, phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng xã văn hóa. Bên cạnh đó, 02 xã cần tiếp tục thực hiện và không ngừng phát huy tốt các tiêu chí đã đạt được, kịp thời khắc phục những khó khăn, hạn chế tồn tại để xứng đáng với danh hiệu xã văn hóa./.

                                                                                   Bài, ảnh: TRẦN THỊ HẠNH

                                                                                        (Phòng Xây dựng nếp sống văn hóa và gia đình)

17/04/2015 11:00 SAĐã ban hànhApproved
TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANTÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

THÀNH PHỐ TÂN AN

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

(Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An)

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Thượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đương thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận Công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích kiến trúc nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 Di tích Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 534/QĐ/BT ngày 11/05/1993.

HUYỆN CẦN GIUỘC

CHÙA TÔN THẠNH (Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc)

Chùa Tôn Thạnh tọa lạc tại xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808.

Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người "dân ấp dân lân", nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: "Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ".

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh "rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng" như xưa. Tuy nhiên, ngôi chùa vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thếp vàng. Trong khuôn viên chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Năm 2003, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến và vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ truyền.

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Chùa Tôn Thạnh là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/11/1997 .

RẠCH NÚI

(p Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc)

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400 ± 100 năm cách ngày nay, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ, bao gồm nhiều loại hình công cụ lao động bằng đá, xương, sừng và đồ gốm nhưng không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ: Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khác với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - kiến trúc nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó, di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu (Nguyễn Văn Mỹ - quan đại thần triều Nguyễn).

Di tích Rạch Núi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia Quyết định số 38/1999-QĐBVHTT, ngày 11/06/1999.

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

CHÙA PHƯỚC LÂM

(Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước)

Chùa Phước Lâm – xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An - được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu "bánh ít", có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc hoàng, Thị giả, Thập điện, Thiện ác, Hộ pháp, Kim cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía Đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái Lục Hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đến chùa lễ Phật.

Chùa Phước Lâm đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích quốc gia tại Quyết định số 53/2001/QĐ-BVHTT ngày 28/12/2001.

NHÀ TRĂM CỘT

(Ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước)

Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, tại ấp Trung, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước. Nhà có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: phần phía trước được bày trí theo kiểu ngoại khách - nội tự (ngoài tiếp khách, trong thờ tự), phần phía sau dùng để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột có kiểu thức kiến trúc thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa của vùng đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nhà Trăm Cột đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tại Quyết định số 2890-VH/QĐ ngày 27/09/1997.

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

(Ấp 1, xã Long Hòa, huyện Cần Đước)

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 13 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 3 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm, Thuận Thành và Phước Hậu.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía Nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - ngụy (1966-1967).

Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460 QĐ/VH ngày 28/06/1996.

HUYỆN CHÂU THÀNH

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

(Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành)

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau, được xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, 3 gian, 2 chái. Nhà có dạng hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân "thiên tỉnh" (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BVHTT, ngày 03/08/2007.

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

(Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành)

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Ông sinh ngày 28/5 năm Đinh Hợi tức ngày 21/07/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/08/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông - nhà trí thức yêu nước,  người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

Khu lưu niệm Nguyễn Thông đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 04/2001-QĐ-BVHTT ngày 19/01/2001.

DI TÍCH ĐÌNH TÂN XUÂN

(Thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành)

Đình Tân Xuân là di tích lịch sử văn hóa, một trong những ngôi đình cổ trên đất Long An. Đây là nơi ghi dấu tín ngưỡng thờ thần trong quá trình di dân lập ấp, đồng thời gắn liền sự kiện lịch sử, sự hy sinh oanh liệt của nhà yêu nước Đỗ Tường Tự, người thủ lĩnh cuối cùng của phong trào nông dân khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Tân An.

Hàng năm, vào ngày 15-16/1 âm lịch tại đình diễn ra Lễ hội làm chay rất đặc sắc, quy tụ hàng ngàn người dân tham dự. Lễ hội làm chay có đặc trưng độc đáo là liên kết, tổng hòa nhiều thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng dân gian trên địa bàn như: đình Dương Xuân Hội, chùa Ông (Linh Võ tự), Âm Nhơn miếu (miễu cô hồn), Linh Phước tự, thánh thất Phương Quế Ngọc Đài. Lễ hội quy tụ hầu hết nhân dân các giới và các tôn giáo tham gia hành lễ. Về phần lễ, có những nghi thức cổ truyền đã có từ hơn một thế kỷ qua như: Thỉnh Tiêu Diện đại sĩ từ Linh Phước tự về chùa Ông; thỉnh Phật, thỉnh thầy từ Linh Phước tự về Đình Dương Xuân; cúng tế, đề phan liệt sĩ; cúng cô hồn ở Miếu Âm Nhơn; lễ chiêu u (rước cô hồn ) từ các nơi trong huyện về giàn ông Tiêu; nghi lễ đánh động, thỉnh thầy, thỉnh kinh; nghi lễ phóng đăng, phóng sinh; nghi lễ đốt nến, thả bèo, nghi lễ Chạy kim đàn và xô giàn, tiễn khách. Về phần hội, có những trò chơi dân gian cho nhân dân vui chơi như: Bịt mắt đập nồi, nhảy bao bố, kéo co, thả-bắt vịt…

Di tích đình Tân Xuân được xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 4109/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Lễ hội làm chay cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 4205/QĐ-BVHTT ngày 19/12/2014.

HUYỆN THỦ THỪA

ĐÌNH VĨNH PHONG

(Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa)

Đình Vĩnh Phong tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

Đình Vĩnh Phong được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1811/1998/QĐ-BVHTT  ngày 31/08/1998.

HUYỆN BẾN LỨC

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

(Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức)

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn, bởi vì đây là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm: Ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông. Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn tọa lạc tại ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mệnh cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930-1945). Đồng thời đây là nơi ghi dấu một số hoạt động của các nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

HUYỆN TÂN TRỤ

VÀM NHỰT TẢO

(Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ)

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L'Espérance của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: "Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang". Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: "Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, UBND tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

Vàm Nhựt Tảo đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1460/QĐ-VH ngày 28/6/1996.

HUYỆN ĐỨC HUỆ

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

(Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ)

Các địa điểm thuộc căn cứ Bình Thành còn được gọi là di tích Bình Thành hay Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An, tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An.

Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói rằng, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc" của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

Di tích căn cứ Bình Thành đã được Bộ Văn hóa – Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3518/QĐ-BT ngày 04/12/1998.

HUYỆN ĐỨC HÒA

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

(Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa)

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5.000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/06/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng  7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 04/06/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn, thể hiện lòng tin của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

Ngã Tư Đức Hòa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570/VH-QĐ, ngày 05/09/1989.

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN

 CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

(Ấp Giống Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa)

Nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ là nơi  đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật để thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn vào ngày 06/03/1930.

Chi bộ ra Nghị quyết: "Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy". Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng 3 tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

Khu nhà ông Bộ Thỏ tại ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 3827/QĐ-BVHTTDL  ngày 31/10/2013.

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

(Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa)

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước hay còn gọi khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng Đông Bắc thành phố Tân An, cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách Tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía Đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn Đông Nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

Phế tích kiến trúc Gò Xoài, Gò Đồn, Gò Năm Tước được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 1570-VH/QĐ  ngày 05/09/1989.

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

(Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa)

Di tích An Sơn  được hai nhà khảo cổ người Pháp là L. Malleret và P. Levy phát hiện từ năm 1838 và trải qua 3 lần khai quật lớn vào các năm 1978, 1997, 2004 do các nhà khảo cổ trong và ngoài nước thực hiện. Các cuộc khai quật này đã phát hiện nhiều di tích, di vật đa dạng, phong phú có thể tái hiện sinh động phương thức sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ nơi đây.

Đây là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hoá dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, là một đối tượng quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học ở Long An và Đông Nam Bộ.

Di tích An Sơn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp quốc gia tại Quyết định số 324/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011.

HUYỆN TÂN THẠNH

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN NAM BỘ (1946 – 1949)

(Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh)

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

Di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ (1946-1949) được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 42/2007/QĐ-BVHTT ngày 03/08/2007.

HUYỆN VĨNH HƯNG

GÒ Ô CHÙA

(Ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng)

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc- 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3 m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến 2.000 năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa. Họ đã có mối giao lưu với thế giới bên ngoài như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1.000 năm trước Công nguyên đến 1000 năm sau Công nguyên.

Gò Ô Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp dạng di tích cấp quốc gia theo Quyết định số 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19/01/2004.

                              Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền, PHÒNG NGHIỆP VỤ

                                         BAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TỈNH LONG AN

01/07/2015 4:00 CHĐã ban hànhApproved
Nâng cao chất phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Nâng cao chất phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Thời gian qua, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã mang lại nhiều kết quả đáng kể. Qua đó, văn minh đô thị và diện mạo văn hóa ở nông thôn ngày càng khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước nâng lên rõ rệt. Với những kết quả đã đạt, việc duy trì, nâng cao chất lượng phong trào là cần thiết. Phóng viên Báo Long An có cuộc trao đổi với Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch – Phạm Văn Trấn về việc nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

PV: Xin ông cho biết những hiệu quả từ phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong thời gian qua?                            

Ông Phạm Văn Trấn: Nhìn chung, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”được đông đảo quần chúng nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia. Từ đó việc thực hiện các mô hình văn hóa đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Tính đến nay, toàn tỉnh có 95,1% hộ gia đình văn hóa; 90,5% ấp, khu phố văn hóa; trên 90% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa. Đặc biệt, mô hình xã, phường, thị trấn văn hóa tiếp tục được các cấp, các ngành và các địa phương quan tâm tổ chức thực hiện góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh. Cuối năm 2012 đã phúc tra và công nhận thêm 12 xã, thị trấn, nâng tổng số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa lên 41 đơn vị (đạt 21,6%, so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX nhiệm kỳ 2010-2015 đề ra là 30%). Phong trào đã tạo ra hiệu quả chính trị - xã hội rộng lớn, góp phần nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của người dân, nhất là tạo chuyển biến bộ mặt nông thôn qua việc đầu tư xây dựng nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm,…), tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nông thôn mới. Qua đó, làm chuyển biến nhận thức, nêu cao truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc như: Đoàn kết cộng đồng, tương thân tương ái, tình làng nghĩa xóm, giúp nhau phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, giảm nghèo; xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa lành mạnh, xóa bỏ dần những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan; vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị ở địa phương, cơ sở vững mạnh.

PV: Qua đợt phúc tra công nhận xã, thị trấn văn hóa vừa qua cũng như cả quá trình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, còn những vấn đề nào tồn tại, hạn chế cần khắc phục, thưa ông?

Ông Phạm Văn Trấn: Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nói chung và phong trào xây dựng xã, phường, thị trấn văn hóa nói riêng đã đạt được những kết quả rất phấn khởi trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi những hạn chế, tồn tại khách quan và chủ quan cần khắc phục như:

- Ban Chỉ đạo ở một vài địa phương tuy đã được củng cố, kiện toàn nhưng chưa duy trì hội họp định kỳ; thiếu quan tâm, kiểm tra, đôn đốc, thậm chí có biểu hiện buông lỏng khi đã được công nhận danh hiệu văn hóa, làm suy giảm chất lượng phong trào. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong quá trình triển khai thực hiện phong trào có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, chưa thường xuyên và đồng bộ.

- Công tác triển khai đăng ký thi đua, bình xét công nhận các danh hiệu văn hóa ở một số nơi còn nặng tính hình thức, chạy theo thành tích; việc khen thưởng động viên những tập thể, cá nhân ở cơ sở có thành tích đóng góp cho phong trào chưa được chú ý.

- Công tác thông tin tuyên truyền còn hạn chế, chưa phong phú đa dạng, chưa tạo không khí sôi nổi, thu hút trong nhân dân.

- Kinh phí thực hiện phong trào còn hạn hẹp, chưa đáp ứng yêu cầu; nhiều nơi công tác xã hội hóa chưa được chú trọng, chưa vận động được nguồn lực đóng góp từ nhân dân, vẫn dựa vào ngân sách Nhà nước. Do đó, các công trình, thiết chế phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của người dân còn thiếu thốn, chưa phát huy hết công năng sử dụng.

- Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa của phong trào ở cơ sở, do đó chưa đầu tàu gương mẫu trong quá trình triển khai thực hiện.

PV: Từ đó, xin ông cho biết những giải pháp để tiếp tục nâng chất phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong thời gian tới?

Ông Phạm Văn Trấn: Để sớm khắc phục tình hình trên, UBND tỉnh, Thường trực Ban Chỉ đạo phong trào đã ban hành nhiều công văn về việc tập trung nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và xây dựng gia đình văn hóa, ấp, khu phố văn hóa. Trên cơ sở đó, các ngành, các cấp và các địa phương cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

- Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần tăng cường tập trung lãnh đạo công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là vùng nông thôn. Củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo các cấp, nhất là đối với cơ sở; đảm bảo hoạt động thường xuyên, liên tục và hiệu quả trên cơ sở đề ra quy chế hoạt động cụ thể, có phân công, phân nhiệm rõ ràng. Đồng thời, đẩy mạnh công tác kiểm tra, phúc tra đề nghị công nhận mới và công nhận lại các danh hiệu văn hóa, tránh tình trạng chạy theo thành tích, chạy theo số lượng xem nhẹ chất lượng của phong trào.

- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền chủ trương của Đảng và các quy định của Nhà nước về việc triển khai thực hiện phong trào gắn với xây dựng nông thôn mới đến các cơ quan đơn vị, các ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân, từ đó đề cao ý thức tự nguyện, tự giác của các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng và nâng cao chất lượng danh hiệu văn hóa đã đạt được.

- Ưu tiên đầu tư kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất nhằm phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng biên giới khó khăn. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa văn hóa, thể thao. Khuyến khích các nguồn lực từ nhân dân, các cơ sở ngoài công lập, các thành phần kinh tế tham gia, đóng góp đầu tư phát triển các loại hình hoạt động và xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở.

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo hướng dẫn thực hiện phong trào trên phạm vi toàn tỉnh.

- Tổ chức sơ, tổng kết, phổ biến, nhân rộng, khen thưởng kịp thời các điển hình tiên tiến, tiêu biểu.

- Các sở, ngành, đoàn thể, UBND các cấp căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình cần thực hiện những chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm góp phần nâng cao chất lượng phong trào.

Với những giải pháp vừa nêu cùng sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, sự đồng thuận từ các tầng lớp nhân dân, tin rằng phong trào sẽ tiếp tục gặt hái thành công, mang về những “nhành hoa thắm” trong năm mới Quý Tỵ 2013.

Xin cảm ơn ông!                          

                                                                                     Thực hiện: Thùy Hương   

22/10/2014 9:00 SAĐã ban hànhApproved
Khánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà TrưngKhánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng

Ngày 21/3/2018, Huyện ủy, HĐND, UBND, Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Cần Giuộc phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An long trọng tổ chức Lễ khánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng và khai mạc Lễ Kỳ yên năm 2018.

Đến tham dự lễ có ông Nguyễn Văn Tâm, Trưởng phòng Quản lý văn hóa và ông Nguyễn Tấn Quốc, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa; bà Nguyễn Thị Sáu, Phó Giám đốc Bảo tàng Long An; ông Nguyễn Văn Thiệp, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc; ông Nguyễn Phước Hùng, Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện Cần Giuộc, cùng các đồng chí nguyên lãnh đạo huyện Cần Giuộc qua các thời kỳ và đông đảo bà con nhân dân.

23-3-2018 Ông Nguyễn Văn Thiệp Bí thư Huyện ủy huyện Cần Giuộc phát biểu tại buổi lễ.jpg

Ông Nguyễn Văn Thiệp, Tỉnh ủy Viên, Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc phát biểu tại buổi lễ

Miếu Hai Bà Trưng là ngôi miếu thờ Ngũ Hành của cư dân quanh vùng, khoảng đầu thế kỷ XX, họ Đoàn ở Lộc Trung xây dựng lại và thay đổi đối tượng thờ cúng từ Ngũ Hành sang Hai Bà Trưng để duy trì ngọn lửa đấu tranh của nhân dân đối với thực dân Pháp xâm lược. Với vị trí thuận lợi về địa hình, lại nằm ở trung tâm xã Mỹ Lộc nên khu vực miếu đã được các chiến sĩ ta như: Đại đội 316, lực lượng Y4, Tiểu đoàn Phú Lợi, Tiểu đoàn Đồng Nai,… sử dụng làm địa hình chiến đấu và trú ẩn trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngoài ra, Miếu Hai Bà Trưng còn gắn liền với sự ra đời của tổ chức Thanh niên Tiền Phong Mỹ Lộc cũng như địa điểm tập hợp lực lượng thanh niên nhập ngũ để đưa lên căn cứ ở Ba Thu. Đây cũng là nơi tập hợp của bà con nhân dân trong các cuộc biểu tình chống thực dân, đế quốc đòi quyền dân tộc, dân chủ, dân sinh…

23-3-2018 Toàn cảnh Miếu Hai Bà Trưng ngày khánh thành.jpg

Toàn cảnh Miếu Hai Bà Trưng ngày khánh thành

Có thể nói đây là một trong những cơ sở tín ngưỡng thờ Hai Bà Trưng hiếm hoi trên đất Long An, nêu cao tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc mà Hai Bà Trưng là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo. Với những giá trị về văn hóa, lịch sử, Miếu Hai Bà Trưng đã được UBND tỉnh Long An công nhận là di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 3404/QĐ-UBND ngày 13/10/2014.

23-3-2018 Đại biểu các cấp và bà con nhân dân vui mừng đến tham dự tại lễ khánh thành.jpg

Đại biểu các cấp và bà con nhân dân vui mừng đến tham dự tại lễ khánh thành

   Tuy nhiên, trải qua thăng trầm của thời gian, chiến tranh… Di tích Miếu Hai Bà Trưng bị xuống cấp cần được trùng tu, tôn tạo. Được sự quan tâm của UBND tỉnh Long An, sự quyết tâm của Huyện ủy, UBND huyện Cần Giuộc, sau hơn 01 năm thi công, công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng đã nghiệm thu đưa vào sử dụng. Di tích có tổng diện tích 674 m2 bao gồm các hạng mục công trình như: Nhà chính 01 trệt, 01 lầu với kết cấu mái ngói, nền lát gạch Ceramic, sân đường, nhà vệ sinh,… Công trình do Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện làm chủ đầu tư, tổng mức đầu tư là 1.795.267.000 đồng; trong đó huyện hỗ trợ 1.000.000.000 đồng, xã vận động xã hội hóa 626.701.000 đồng, giá trị còn lại cần vận động thêm là 168.566.000 đồng. Trong thời gian tới, huyện cùng địa phương tiếp tục vận động kinh phí để thực hiện các hạng mục còn lại như: Hàng rào, tráng sân, nhà bếp… Trong tương lai, Miếu Hai Bà Trưng sẽ khang trang hơn xứng tầm với Di tích lịch sử cấp tỉnh.

23-3-2018 Gian thờ chính tại Miếu Hai Bà Trưng.jpg

Gian thờ chính tại Miếu Hai Bà Trưng

23-3-2018 Mâm lễ vật.jpg

Mâm lễ vật

 Lễ khánh thành công trình trùng tu Di tích lịch sử Miếu Hai Bà Trưng và khai mạc Lễ Kỳ yên năm 2018 đã thành công tốt đẹp, thu hút đông đảo người dân đến tham dự, chiêm bái, cầu mong quê hương một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

                                       Hồ Phan Mộng Tuyền (Ban QLDTLSVH)

05/04/2018 2:00 CHĐã ban hànhApproved
Đổi thay ở xã nông thôn mớiĐổi thay ở xã nông thôn mới

Qua 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay, Long An có 50 xã đạt chuẩn nông thôn mới, diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc, kết cấu hạ tầng dần được hoàn thiện, từng bước đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân.

Hiện nay, toàn tỉnh có 104/192 xã được công nhận đạt chuẩn xã, phường, thị trấn văn hóa. Trong đó, không ít xã văn hóa, xã nông thôn mới là những địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến.

XaNongThonMoi1.jpg

Ông Hồ Xuân Hùng (đứng bên trái) nguyên Thứ trưởng Bộ NN và PTNT

 thăm Trường Mầm non xã Tân Lân – huyện Cần Đước

Từ "vùng tối trời" thành "vùng sáng"

Con đường từ thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ về xã Nhựt Ninh như gần hơn khi vừa được đầu tư mở rộng. Bắt đầu từ cầu Triêm Đức, một vùng chuyên canh nuôi tôm trù phú hiện ra trước mắt. Theo Đường tỉnh 822, chúng tôi ghé thăm lại vùng căn cứ cách mạng Đám lá tối trời, tại ấp Thuận Lợi, xã Nhựt Ninh. Tuyến đường đal rộng 5m với chiều dài 2km mang tên Đám lá tối trời vừa được hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Bà Trần Thị Xem, năm nay vừa tròn 70 tuổi cho biết, vùng này trước đây chỉ toàn dừa nước, chiến tranh ác liệt, dưới những tán lá dừa nước không thấy ánh mặt trời trở thành căn cứ cách mạng quan trọng. Hòa bình lập lại, vùng đất này sản xuất lúa không hiệu quả, mỗi năm chỉ được 1 vụ năng suất thấp do chưa có hệ thống đê bao nên thường xuyên nhiễm mặn. Người dân nơi đây anh dũng trong chiến đấu, từng chống lại, đánh tan bao đợt hành quân, bắn phá của kẻ thù mà lẽ nào lại đầu hàng trước thiên nhiên?

Nghĩ rồi làm, thấy việc nuôi tôm bên huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang mang lại thu nhập tương đối khá, một số hộ dân trong vùng thử nghiệm chuyển một phần diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang thả nuôi tôm sú. Sau vài vụ, thấy con tôm thích nghi được với vùng đất này, người dân mở rộng diện tích nuôi. Những cánh rừng dừa nước bạt ngàn ngày nào, những vùng lúa kém hiệu quả dần nhường chỗ cho những vuông tôm. Bà Xem cho biết thêm: "Vụ tôm vừa rồi, với 0,5ha cho thu hoạch gần 3 tấn tôm sú, giá bán 280.000 đồng/kg, gia đình bà có lãi 400 triệu đồng. Còn 3ha chuẩn bị cho thu hoạch, hứa hẹn năng suất cao".

Phó Chủ tịch UBND xã Nhựt Ninh - Lê Văn Biên cho biết: "Sau 3 năm bắt tay vào xây dựng nông thôn mới, xã đạt 16 tiêu chí, thu nhập bình quân đầu người đạt 39 triệu đồng/năm. Đặc biệt, trong 5 ấp thì khu vực ấp Thuận Lợi, người dân có thu nhập cao hơn, ước đạt gần 50 triệu đồng/người/năm nhờ nuôi trồng thủy sản. Từ Đám lá tối trời, nay ấp Thuận Lợi vươn lên thành điểm sáng của xã. Tính chung mỗi năm, toàn xã thả nuôi khoảng 260ha tôm với giống tôm thẻ chân trắng và tôm sú, nhiều hộ gia đình vươn lên trở thành hộ khá giả, có điều kiện tham gia tích cực trong các phong trào do địa phương phát động".

XaNongThonMoi2.jpg

Nuôi tôm mang lại hiệu quả cao cho người dân vùng Nhựt Ninh, Tân Trụ

Làm thay đổi nhận thức người dân

Xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng được công nhận xã văn hóa vào năm 2010 và 4 năm sau trở thành xã biên giới đầu tiên của tỉnh được công nhận nông thôn mới. Điểm nổi bật tại địa phương này chính là từ việc xây dựng xã văn hóa, xã nông thôn mới có tác động tích cực đến nhận thức của người dân.

Theo Chủ tịch UBND xã Khánh Hưng - Bùi Văn Hiệu, ngay sau khi phát động xây dựng nông thôn mới, bằng việc tuyên truyền, vận động, nhận thức của người dân dần thay đổi. Những khó khăn trong vận động người dân hiến đất thực hiện các công trình giao thông, thủy lợi, các công trình phúc lợi xã hội, qua thời gian tuyên truyền, mọi người đều đồng tình hưởng ứng; cá biệt, có nhiều hộ sẵn sàng hiến đất với số lượng lớn như gia đình ông Nguyễn Thế Lai, ấp Bàu Sen hiến 3ha; ông Ngô Văn Phát, ấp Sậy Giăng hiến 5ha; ông Nguyễn Văn Khình, ấp Tà Nu hiến 4ha;...

XaNongThonMoi3.jpg

Công trình đường bê tông đang thi công

Nhưng có lẽ, thay đổi lớn nhất của người dân chính là về tập quán canh tác, sản xuất. Từ việc sản xuất nhỏ, lẻ, giống chất lượng thấp, nay người dân tự nguyện đăng ký tham gia vào cánh đồng lớn, xây dựng vùng lúa chất lượng cao, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật vào sản xuất hướng đến mục tiêu xuất khẩu, mang lại thu nhập ổn định cho nông dân.

Đến nay, toàn tỉnh có số tiêu chí bình quân/xã đạt 15,1 tiêu chí, có 50 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới với thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn ước đạt 31,2 triệu đồng/người/năm. Theo kế hoạch, đến cuối năm 2020, toàn tỉnh phấn đấu có 89 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 53,6% tổng số xã.

Mới đây nhất, tại Hội nghị triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh giai đoạn 2016-2020, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Phạm Văn Cảnh khẳng định, muốn xây dựng thành công nông thôn mới, các cấp chính quyền cần đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, người dân để huy động sức mạnh của toàn dân vào xây dựng nông thôn mới cũng như xây dựng quê hương. Người dân thấu hiểu, chắc chắn xây dựng nông thôn mới sẽ dễ thành công./.

Tổng hợp: Nguyễn Ngọc Phát

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Long An

Nguồn: Kiên Định

Báo Long An Online
Ảnh: Nguyễn Sỹ Xương

11/10/2016 4:00 CHĐã ban hànhApproved
DANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG ANDANH MỤC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN

STT

TÊN DI TÍCH

NỘI DUNG

ĐỊA ĐIỂM

SỐ QUYẾT ĐỊNH; NGÀY CẤP

1

LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC

Nguyễn Huỳnh Đức tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại Giồng Cái Én, làng Tường Khánh, tổng Hưng Nhượng, huyện Kiến Hưng, trấn Định Tường nay là Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Xuất thân trong một gia đình võ tướng đã 3 đời nên ông sớm có tài võ lược và người đường thời thường gọi là Hổ tướng. Năm 1780, ông theo phò Nguyễn Ánh, lập nên nhiều chiến công và trở thành khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong tước Quận công. Ngày mồng 9 tháng chín năm Kỷ Mão (1819), ông mất và được an táng tại quê nhà.

Cách thành phố Tân An 3,5 km về phía Tây Nam, di tích nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức là một tổng thể gồm 5 công trình kiến trúc: 03 cổng, đền thờ và lăng mộ với diện tích 1280 m2. Được xây dựng từ năm 1817, di tích là một công trình kiến trúc cổ của Long An còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Với chất liệu đá ong và vữa tam hợp, di tích chịu ảnh hưởng bởi phong cách, kiểu dáng kiến trúc thời Nguyễn nhưng vẫn mang bản sắc địa phương và đã trở thành điển hình cho lối kiến trúc lăng mộ của tầng lớp quan lại đầu thế kỷ XIX. Cổng và đền thờ được xây dựng sau nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc cổ truyền, có sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và truyền thống trong chất liệu cũng như nghệ thuật. Các chiếu, chỉ, sắc phong và cổ vật quý hiếm trong di tích là những tư liệu vô giá phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thời cận đại.

 

Phường Khánh Hậu, Thành phố Tân An

Số 534QĐ/BT

ngày 11/5/1993

 

2

CHÙA PHƯỚC LÂM

  Chùa Phước Lâm được ông Bùi Văn Minh thành lập năm 1881 để vừa thờ Phật vừa làm từ đường cho dòng họ Bùi. Nhìn về tổng thể, ngôi chùa gồm ba phần: chánh điện - hậu tổ, khu mộ tháp và nhà trù. Chánh điện là một ngôi nhà lớn được xây dựng theo kiểu “bánh ít”, có móng đá xanh, tường gạch, lợp ngói vẩy cá. Toàn bộ cột chùa đều bằng danh mộc hình trụ tròn, được kê trên các chân tán đá xanh, liên kết với nhau bởi hệ thống xiên, vì kèo, sườn mái tạo cho không gian bên trong sự rộng rãi thoáng mát. Nội thất chánh điện chùa Phước Lâm còn giữ được những nét cổ kính dù trải qua nhiều lần trùng tu với hơn 40 tượng Phật, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thị Giả, Thập điện, Diêm Vương, Thiện Ác, Hộ Pháp, Kim Cương và nhiều bộ bao lam, hoành phi liễn đối được sơn son thiếp vàng rực rỡ.

  Cũng như những ngôi chùa khác ở Nam bộ, phía sau chánh điện chùa Phước Lâm là tổ đường. Tổ đường có bàn thờ và di ảnh của các vị trụ trì đã quá vãng, di ảnh và bàn thờ Bùi Công - người lập chùa, và bàn thờ của họ Bùi. Phía đông chánh điện là 4 ngôi mộ tháp cổ khá cổ kính trong đó có tháp bảo đồng của tổ khai sơn Hồng Hiếu và chư vị trụ trì đã quá vãng. Chùa Phước Lâm là tổ đình của hệ phái lục hòa ở Cần Đước. Vào những ngày rằm khá đông thiện nam, tín nữ đều đến chùa lễ Phật.

Xóm Chùa, xã Tân Lân, huyện Cần Đước

 

Số 53/2001-QĐ-BVHTT

ngày 28/12/2001

 

3

NHÀ TRĂM CỘT

  Nhà Trăm Cột được xây dựng vào những năm 1901-1903, có diện tích 882m2, tọa lạc trên một khu vườn rộng 4.044m2, chính diện hướng Tây Bắc. Nhà hoàn toàn bằng gỗ (gỗ đỏ, gỗ mật), mái lợp ngói âm dương, nền nhà bằng đá tảng cao 0,9m, mặt nền lát gạch tàu lục giác. Nhìn trên bình đồ, Nhà Trăm Cột có kiểu chữ quốc, 3 gian, 2 chái. Nhà gồm có hai phần: Phần trước là phần nội tự - ngoại khách (trong thờ tự, ngoài tiếp khách), phần sau là phần để ở và sinh hoạt.

  Theo các nhà nghiên cứu, Nhà Trăm Cột là một kiến trúc có kiểu thức thời Nguyễn, về đại thể mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế nhưng có nhiều nét tiểu dị trong đề tài trang trí, tạo được sự phong phú và đa dạng, phản ánh một giai đoạn lịch sử - văn hóa đất phương Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

 

Ấp Trung, xã Long Hựu, huyện Cần Đước

 

Số 2890-VH/QĐ

ngày 27/9/1997

 

4

CỤM NHÀ CỔ THANH PHÚ LONG

Cụm Nhà cổ Thanh Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An được dòng họ Nguyễn Hữu xây dựng đã hơn 100 năm, mang nét đặc trưng nhà ở dành cho tầng lớp thượng lưu Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX.

Cụm nhà cổ Thanh Phú Long gồm 3 ngôi nhà có cấu trúc tương đối giống nhau. Xây dựng theo kiểu nhà rội, tường gạch, mái ngói, theo kiểu 3 gian 2 chái. Nhà hình chữ khẩu gồm nhà trước và nhà sau nối với nhau bằng 2 nhà cầu, chính giữa có khoảng trống là sân “ thiên tỉnh” (giếng trời). Các ngôi nhà được xây dựng bởi một nhóm thợ từ miền Trung vào. Nghệ thuật trang trí ở Cụm nhà cổ cũng khá phong phú và đa dạng. Cụm nhà cổ Thanh Phú Long  là di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình kiến trúc dân dụng ở và thờ tự.

Những ngôi nhà cổ Thanh Phú Long với niên đại hơn 100 năm có giá trị lớn về kiến trúc, điêu khắc gỗ và  còn lưu giữ khá nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa.

Ấp Thanh Phú, Xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành.

 

Số 43/2007/QĐ-BVHTT

ngày 03/08/2007

 

5

ĐÌNH VĨNH PHONG

Đình Vĩnh Phong được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, là nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa -  người đã có công khai cơ, lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của thị trấn Thủ Thừa ngày nay.

            Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất là năm 2012, Đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Đến với Đình Vĩnh Phong chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân ngày trước, hiểu thêm về những đóng góp to lớn của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta.

 

Thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa

 

Số 1811/1998-QĐ-BVHTT

ngày31/8/1998

 

6

NHÀ VÀ LÒ GẠCH VÕ CÔNG TỒN

Di tích có tên gọi là Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn bởi vì đó là một tổng thể kiến trúc gồm hai điểm:  ngôi nhà của ông Võ Công Tồn và Lò gạch thuộc sở hữu của ông.

Nhà và lò gạch Võ Công Tồn còn là nơi lưu niệm nhà yêu nước Võ Công Tồn - người đã cống hiến rất nhiều công của và cả tính mạng cho Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (1930 - 1945). Nhà Võ Công Tồn là nơi ghi dấu một số hoạt động của nhà yêu nước và lãnh đạo cách mạng như: Tôn Đức Thắng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thị Minh Khai…Lẫm lúa nhà Võ Công Tồn là nơi Bác Tôn mở lớp học truyền bá tư tưởng chống thực dân Pháp vào năm 1928. Ngoài ra, nhà và lò gạch Võ Công Tồn còn là cơ sở tin cậy của Đảng và các phong trào yêu nước trước năm 1945, là nguồn cung cấp tài chính quan trọng cho Đảng và các nhà yêu nước hoạt động trong những ngày đầu Đảng còn non trẻ.

 

Ấp Lò Gạch, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức

 

Số 02/2004/QĐ-BVHTT

ngày 19/01/2004

 

7

NGÃ TƯ RẠCH KIẾN

Di tích Ngã tư Rạch Kiến là địa điểm ghi dấu sự hình thành và phát triển của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến nổi tiếng ở Long An trong kháng chiến chống Mỹ. Phạm vi của Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến được xác định gồm 12 xã giải phóng, trong đó có 10 xã thuộc huyện Cần Đước là Long Hòa, Long Trạch, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Long Định, Long Cang, Mỹ Lệ, Phước Tuy và 2 xã thuộc huyện Cần Giuộc là Phước Lâm và Thuận Thành.

Bằng thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến, dựa trên 3 mũi cơ bản là quân sự, chính trị, binh vận được phối hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn với nhau, ta đã cô lập căn cứ Mỹ và làm cho lực lượng địch ở nơi đây tổn thất nặng nề. Vùng giải phóng phía nam lộ 4 được giữ vững và mở rộng, trở thành hậu phương trực tiếp và là bàn đạp tấn công vào Sài Gòn xuân Mậu thân –1968 của các binh đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang Long An.

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến là một hình thái chiến tranh nhân dân phát triển đến đỉnh cao ở Long An, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ - Ngụy (1966-1967).

 

Ấp I, xã Long Hòa, huyện Cần Đước

 

Số 1460-QĐ/VH

ngày 28/06/1996

 

8

VÀM NHỰT TẢO

Vàm Nhựt Tảo tọa lạc tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An là nơi ghi dấu chiến công đốt cháy tàu L’Esperance của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực có tên là Nguyễn Văn Lịch, còn gọi là Chơn, sinh năm 1838 tại Xóm Nghề, thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu trong phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở Nam Bộ, từng lập nên 2 chiến công xuất sắc là: “Hỏa hồng Nhựt Tảo và Kiếm bạt Kiên Giang”. Ông hy sinh ngày 27/10/1868, khi vừa tròn 30 tuổi, để lại cho đời câu nói bất hủ: “Khi nào Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.

 Để bảo tồn và phát huy giá trị Vàm Nhựt Tảo, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã đầu tư hơn 50 tỷ đồng để thực hiện dự án tôn tạo di tích với các hạng mục chính như: Đền Tưởng niệm, Nhà Trưng bày, Nhà bia, Tượng đài Nguyễn Trung Trực, cổng, hàng rào, đường nội bộ, khu dịch vụ…Với dự án này, vùng sông nước nên thơ Vàm Nhựt Tảo không những có ý nghĩa về lịch sử  mà còn có giá trị về tham quan, du lịch.

 

Xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ

 

Số 1460-QĐ/VH

ngày 28/06/1996

 

9

CHÙA TÔN THẠNH

Chùa Tôn Thạnh ban đầu có tên là chùa Lan Nhã được thiền sư Viên Ngộ sáng lập năm 1808. Trong ba năm (1859-1861) nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã về đất Thanh Ba, lấy chùa Tôn Thạnh làm nơi dạy học, làm thơ và chữa bệnh. Trong trận tập kích đồn Tây Dương tại chợ Trường Bình đêm rằm tháng 11 năm 1861, một trong ba cánh nghĩa quân đã xuất phát từ chùa Tôn Thạnh đốt nhà dạy đạo, chém rơi đầu quan hai Phú Lang Sa. Cảm khái trước tấm lòng vị nghĩa của những người “dân ấp dân lân”, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc nổi tiếng tại chùa Tôn Thạnh. Lịch sử đã lưu danh ngôi chùa này của đất Long An qua những câu văn bất hủ: “Chùa Tôn Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son để lại ánh trăng rằm. Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ”.

Trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, chùa Tôn Thạnh không còn nguyên vẹn cảnh “rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng” như xưa. Tuy nhiên, chùa Tôn Thạnh vẫn giữ được nét cổ xưa qua hệ thống cột kiểu tứ tượng ở Chánh điện, những tượng Phật có từ đầu thế kỷ XIX, và các hoành phi câu đối chữ Hán sơn son thiếp vàng. Bên phải chùa Tôn Thạnh hiện còn hai bia kỷ niệm được xây dựng vào năm 1973 và 1997 để lưu lại dấu tích của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Từ năm 2003 đến nay, chùa Tôn Thạnh đã được trùng kiến theo lối kiến trúc cổ truyền.

 

Xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc

 

Số 2890-VH/QĐ

ngày 27/9/1997

 

10

KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THÔNG

Nguyễn Thông tên thật là Nguyễn Thới Thông, tên chữ là Hi Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am quê ở thôn Bình Thạnh, Tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Ông sinh ngày 28/5 Đinh Hợi tức 21/7/1827, trong một gia đình nhà nho nghèo. Năm 22 tuổi (năm 1849), ông thi hương đỗ cử nhân và bắt đầu đem tài năng của mình phục vụ cho đất nước. Trong 35 năm làm quan dù ở cương vị nào hay ở bất cứ nơi đâu, ông luôn tỏ ra là một nhà tri thức yêu nước thương dân làm việc với ý thức trách nhiệm cao. Ông mất ngày 27/8/1884 tại Phan Thiết, hưởng thọ 57 tuổi.

Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm Nguyễn Thông là địa điểm lưu niệm Nguyễn Thông. Chính mảnh đất này đã bảo lưu những truyền thống tốt đẹp của cha ông truyền lại cho Nguyễn Thông. Di tích gợi ta nhớ về nhà trí thức yêu nước Nguyễn Thông - người con trung hiếu vẹn toàn mà cuộc đời là tấm gương sáng cho hậu thế.

 

Xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành.

 

Số 04/2001-QĐ-BVHTT

ngày 19/01/2001

 

11

CÁC ĐỊA ĐIỂM THUỘC CĂN CỨ BÌNH THÀNH

Di tích Bình Thành còn được gọi là Khu di tích lịch sử cách mạng tỉnh Long An tọa lạc tại xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Đây là vùng đất có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Với vị trí án ngữ hành lang chiến lược giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ, gần với Sài Gòn và dựa lưng vào Vương quốc Campuchia, vùng đất này đã trở thành một căn cứ bưng biền độc đáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trong kháng chiến chống Pháp, khu vực này là căn cứ của Tỉnh ủy Chợ Lớn và Khu 7. Trong thời điểm phong trào cách mạng tỉnh nhà gặp nhiều khó khăn sau Hiệp định Geneve, đây là nơi tập trung những cán bộ chính trị, quân sự ưu tú của Đảng, nơi bảo tồn, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh. Có thể nói, nơi đây chính là chiếc nôi cách mạng - nơi đầu tiên trong khu vực Trung Nam Bộ hình thành lực lượng vũ trang sau Hiệp định Geneve để làm công tác vũ trang tuyên truyền trong điều kiện Trung ương chưa cho phép đấu tranh vũ trang. Tháng 7/1957, Xứ ủy thành lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn. Với kinh nghiệm từ cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Long An đã chọn nơi đây làm căn cứ địa để lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Mỹ. Trong từng thời kỳ với những điều kiện khó khăn và thuận lợi khác nhau, Tỉnh ủy Long An đã linh hoạt, cơ động trong địa bàn huyện Đức Huệ ngày nay, có lúc phải tạm lánh sang Ba Thu, có lúc phát triển về Đức Hòa, Bến Lức và vùng hạ. Tuy nhiên, nơi mà Tỉnh ủy Long An và các cơ quan trực thuộc chọn làm căn cứ hoạt động lâu nhất chính là khu vực giồng Ông Bạn, xã Bình Thành (nay thuộc xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An). Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã kịp thời chỉ đạo, đề ra những chủ trương, nghị quyết, lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Thành tích đáng tự hào với 8 chữ vàng “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc” của nhân dân Long An đã được tạo nên dưới sự lãnh đạo của Đảng từ địa chỉ đỏ này.

 

Xã Bình Hòa Hưng, huyện Đức Huệ

 

Số 42/2007/QĐ-BVHTT,

ngày 03/8/2007

 

12

NGÃ TƯ ĐỨC HÒA

Khu vực ngã tư Đức Hòa là địa điểm ghi dấu cuộc biểu tình chống thực dân Pháp của khoảng 5000 đồng bào quận Đức Hòa vào ngày 04/6/1930 dưới sự lãnh đạo của đồng chí Châu Văn Liêm và đồng chí Võ Văn Tần. Cũng chính nơi đây, thực dân Pháp đã lập đài xử bắn để giết hại nhiều chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quận Đức Hòa vào tháng 7/1941.

Cuộc biểu tình của nhân dân Đức Hòa ngày 4/6/1930 là cuộc biểu tình lớn đầu tiên được chuẩn bị và diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương mà trực tiếp là Tỉnh ủy Chợ Lớn,  thể hiện lòng tin của nhân dân lao động đối với sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Địa điểm xử bắn các chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa là bằng chứng cho tinh thần bất khuất, ý chí giành độc lập tự do của nhân dân Đức Hòa nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung.

 

Thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa

 

Số 1570-VH/QĐ

ngày 05/9/1989

 

13

CĂN CỨ XỨ ỦY VÀ ỦY BAN KHÁNG CHIẾN – HÀNH CHÁNH NAM BỘ (1946 – 1949)

                                                                       

Từ những năm 1946 – 1949, Xứ ủy Nam Bộ, Ủy ban kháng chiến - hành chánh Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Nam Bộ và các cơ quan trực thuộc đã chọn địa bàn xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh làm căn cứ để lãnh đạo chống thực dân Pháp tái xâm lược trên phạm vi toàn Nam Bộ.

Đây chính là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, là nơi lưu niệm quá trình hoạt động của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, những nhà hoạt động chính trị, những nhà lãnh đạo quân đội.

 

Xã Nhơn Hòa Lập, huyện Tân Thạnh

Số 42/2007/QĐ-BVHTT,

ngày 03/8/2007

 

14

ĐỊA ĐIỂM THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN CỦA TỈNH CHỢ LỚN (KHU NHÀ ÔNG BỘ THỎ)

Ngày 06/3/1930, đồng chí Võ Văn Tần đã triệu tập cuộc họp bí mật tại nhà ông Hương bộ Nguyễn Văn Thỏ để thành lập nên chi bộ Đảng Cộng sản làng Đức Hòa - chi bộ đầu tiên của tỉnh Chợ Lớn.

Chi bộ ra Nghị quyết: “Lấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga làm nội dung vận động vực dậy tinh thần quần chúng, đồng thời ráo riết phát triển tổ chức trước tiên ở những nơi có cơ sở quần chúng tốt như: Mỹ Hạnh, Hựu Thạnh, tiến tới thành lập Quận ủy”. Thực hiện tinh thần Nghị quyết này, chỉ trong vòng ba tháng, từ chi bộ đầu tiên ở làng Đức Hòa, tổ chức Đảng ở quận Đức Hòa đã phát triển lên 3 chi bộ với 27 đảng viên. Trên cơ sở ấy, vào tháng 5/1930, Quận ủy Đức Hòa được thành lập do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Thỏ làm Phó Bí thư.

Sự kiện thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên này là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân tỉnh Long An. Từ đây, phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân trong tỉnh đã bước sang thời kỳ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.

 

Ấp Giồng Cám, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa

 

Số 3827/QĐ/BVHTTDL, ngày 31/10/2013

 

15

RẠCH NÚI

Rạch Núi là tên một con rạch nhỏ, là một nhánh sông của sông Rạch Cát, bao quanh một khu vực cao được dân gian gọi là Gò Núi Đất. Trên đỉnh gò có chùa Linh Sơn Tự hay chùa Núi được sư Nguyễn Quới xây dựng năm 1867.

Di tích Rạch Núi có niên đại C14 là 2.400, tương đối muộn so với các di tích cùng thời ở Đông Nam Bộ lại không có đồ đồng, đồ sắt. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ Rạch Núi, trên căn bản thuộc văn hóa Đồng Nai, nhưng có nhiều sắc thái riêng biệt do môi trường tại chỗ quy định. Đó là môi trường sình lầy, nước mặn, khắc với vùng Đông Nam Bộ, do vậy đời sống của chủ nhân Rạch Núi cũng khác với cư dân Đông Nam Bộ.

Di tích khảo cổ - văn hóa – nghệ thuật Rạch Núi là minh chứng sự có mặt từ rất sớm của cư dân bản địa trên Đồng bằng sông Cửu Long với những hiện vật phong phú và có giá trị. Bên cạnh đó di tích còn là minh chứng cho công cuộc phát triển bờ cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam với ngôi mộ của Mỹ Đức Hầu.

Ấp Tây, xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc

Số 38/1999-QĐBVHTT

ngày 11/6/1999

 

16

PHẾ TÍCH KIẾN TRÚC GÒ XOÀI, GÒ ĐỒN, GÒ NĂM TƯỚC

 

Khu di tích khảo cổ học Bình Tả thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thành phốTân An. Cách Tân An 40 km theo lộ trình Tân An - Bến Lức - thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 825 tám trăm mét về phía đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực - tôn giáo của người xưa.

Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối (C14) của chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ, phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (cũng thuộc phạm vi khu di tích Bình Tả): 1.588 ± 65 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa – Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích: Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Preikuk ở mạn đông nam lãnh thổ Vương quốc Campuchia.

 

Xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa

Số 1570-VH/QĐ

ngày 05/9/1989

 

17

GÒ Ô CHÙA

 

Di tích Gò Ô Chùa nằm trên đường tiếp giáp giữa vùng rìa ở phía Bắc và vùng trũng ở phía Nam, thuộc ấp 1, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, có tọa độ 11000,08,, vĩ độ Bắc - 105046,18,, kinh độ Đông, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 3km. Gò cao hơn mặt ruộng xung quanh 3m, dài 450m theo hướng Bắc - Nam, rộng 150m theo hướng Đông - Tây. Bao quanh phía Bắc và phía Tây là rạch Ô Chùa, vốn bắt nguồn từ sông Cái Cỏ ở phía Bắc, là sông phân chia biên giới Việt Nam - Campuchia và sông Long Khốt ở phía Đông.

Di tích đã được khai quật 4 lần bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam và các nhà khảo cổ học Cộng hòa Liên bang Đức.

Kết quả nghiên cứu và khai quật trong thời gian qua đã đưa đến kết luận rằng di chỉ Gò Ô Chùa có quy mô rộng lớn và tầng văn hóa dày, chứng tỏ cộng đồng cư dân cổ đã sống ở đây trong một thời gian dài, có thể đến hai ngàn năm.

Từ các cuộc khai quật và nghiên cứu vừa qua, các nhà khảo cổ học cho rằng nền kinh tế của cộng đồng cư dân cổ ở đây đã khá phát triển và đã có sự phân công lao động chuyên hóa.  Họ đã có mối giao lưu  với thế giới bên ngoài  như vùng Đông Nam Bộ và xa hơn mà các chứng tích là các di vật như nắp vung, bình gốm có miệng nhỏ hoặc táng tục (mộ vò có xương trẻ em ở lớp gần sinh thổ và mộ đất với các di cốt người được chôn duỗi thẳng cùng với đồ tùy táng...). Niên đại của di tích này đoán định khoảng 1000 năm trước công nguyên đến 1000 năm sau công nguyên.

 

ấp I, xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng

Số 02/2004/QD0-BVHTT,

ngày 19/01/2004

 

18

DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC AN SƠN

 

 

Là di tích cư trú và mộ táng có quy mô lớn, tầng văn hóa dày, thời gian cư trú khoảng 1500 năm, có niên đại khoảng 4000-2500 năm cách ngày nay, thuộc thời kỳ tiền sử. Tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ: 15.106m2.

 

Xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa

Số 324/QĐ-BVHTTDL,

ngày 26/01/2011

 

Bài: Phạm Thị Thúy Hồng
Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa
 

06/11/2014 1:31 SAĐã ban hànhApproved
Góp phần tìm hiểu lai lịch Thần được thờ tại Đình Phước LýGóp phần tìm hiểu lai lịch Thần được thờ tại Đình Phước Lý
Đình Phước Lý tọa lạc cách hương lộ 835B khoảng 100m về phía Đông Nam, thuộc địa phận ấp Phước Lý, xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Đình không có sắc thần và được xây dựng từ thời điểm nào, đến nay chưa ai biết được một cách chính xác. Theo các bậc cao niên trong Ban quản trị, ngôi đình đầu tiên được xây dựng trên phần đất do ông Hồ Văn Nhi hiến. Cháu nội ông Hồ Văn Nhi là Hồ Văn Vĩnh đến nay cũng đã ngót 100 tuổi. Vì thế, có thể đoán đình Phước Lý được xây dựng cách nay khoảng 150 năm

        Đối với người Việt Nam, đình làng là một phần không thể thiếu của quê hương đất nước. Mái đình cổ kính rêu phong đã chứng kiến bao sự kiện lịch sử, bao nỗi thăng trầm của một cộng đồng dân cư. Đình làng còn nỗi nhớ niềm mong của những đứa con xa xứ khi có một ngày thả hồn về quê hương bản quán. Ngôi đình hết sức gần gũi nhưng cũng rất thiêng liêng, bởi lẽ đây là nơi bao thế hệ cha ông ta đã đem hết lòng thành thờ cúng vị thần bảo hộ cho thôn xã của mình. Trong quá trình Nam tiến, khi đã ổn định đời sống, người Việt tiến hành dựng chùa thờ Phật và lập đình để thờ thần cùng những vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ dưới những hình thức phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện sống mới. Vì thế, lai lịch các vị thần được thờ trong đình cũng rất đa dạng, bao gồm cả nhân thần và nhiên thần. Ở phương nam, vị thần được thờ ở trong đình đa số là Thành Hoàng bổn cảnh, còn lại là nhân thần, nhưng rất hiếm hoi. Với các vương triều phong kiến, thần Thành Hoàng của làng được xem như là người thay mặt triều đình, thay mặt cho nhà vua để coi sóc 1 vùng đất cụ thể tương đương với một đơn vị hành chánh cơ sở (thôn, phường, lân, ấp). Bởi thế, Thành Hoàng bổn cảnh của một làng thường được vua công nhận bằng một sắc phong mà dân gian quen gọi là sắc thần. Tuy nhiên, Thành Hoàng bổn cảnh là một danh hiệu tượng trưng, nên không có lai lịch cụ thể. Một số ít đình còn lại thờ nhân thần và nhiên thần nhưng đa số đều không có thần phả. Vì thế, những hiểu biết của nhân dân về lai lịch vị thần của làng mình còn rất hạn chế. Đây cũng chính là trường hợp vị thần được thờ tại đình Phước Lý. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đưa ra vài kiến giải để góp phần làm sáng tỏ lai lịch của vị thần nêu trên.

 

 

        Đình Phước Lý tọa lạc cách hương lộ 835B khoảng 100m về phía Đông Nam, thuộc địa phận ấp Phước Lý, xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Đình không có sắc thần và được xây dựng từ thời điểm nào, đến nay chưa ai biết được một cách chính xác. Theo các bậc cao niên trong Ban quản trị, ngôi đình đầu tiên được xây dựng trên phần đất do ông Hồ Văn Nhi hiến. Cháu nội ông Hồ Văn Nhi là Hồ Văn Vĩnh đến nay cũng đã ngót 100 tuổi. Vì thế, có thể đoán đình Phước Lý được xây dựng cách nay khoảng 150 năm. Cho đến nay, đình Phước Lý đã được trùng tu nhiều lần. Ban đầu, đình được xây cất bằng tre lá, quy mô nhỏ. Sau đó vài chục năm, đình được mở rộng với cột gỗ, mái ngói, vách ván. Khoảng năm 1920-1930, nhân dân trong vùng đã đóng góp kinh phí để dựng thêm võ ca và nhà hậu sở. Năm 1950, vách gỗ của chánh điện được thay bằng vách tường, bàn thờ thần nông cũng được xây mới bằng bê tông. Vào những năm 1991-2007, toàn bộ kết cấu gỗ của đình Phước Lý (trừ đòn tay, rui, mè) đều được thay thế bằng bê tông. Tuy nhiên, đình vẫn còn giữ được mái ngói âm dương và kiểu dáng kiến trúc đình làng cổ truyền.

        Hiện tại, trên bình đồ, đình Phước Lý có 3 lớp nhà là: võ ca, chánh điện và hậu sở, sắp xếp theo kiểu chữ tam, mặt chính diện quay về phía Đông Nam. Bên trong chánh điện có bàn thờ thần ở chính giữa, bàn thờ tả ban, hữu ban ở hai bên và bàn thờ Tiên sư, Tiền hiền, Binh đinh. Bàn thờ thần có tôn trí chữ Thần bằng chữ hán, một mũ cánh chuồn màu đỏ và một cặp kiếm. Mũ và kiếm này đã có từ lâu đời nhưng bị hư hỏng do thời gian  nên đã được hương chức các thời kỳ đã thay thế bằng đồ tân tạo. Về lai lịch vị thần được thờ trong đình, các bậc cao niên trong ban quản trị cũng không nắm được rõ ràng. Theo ông bà truyền lại, khu đất xây dựng đình ngày xưa thuộc sở hữu của ông Hồ Văn Nhi, nhưng chưa được canh tác mà mọc đầy cỏ cây hoang dại, nhất là lức và ráng. Hôm nọ, có một người làm ruộng đi ngang qua đây, bị chột bụng mới ghé vào đại tiện. Khi về nhà, người này bị phát bệnh nặng, được thân nhân thuốc men, chạy chữa nhưng không thuyên giảm. Vì thế, gia đình mới rước thầy về đạp đồng xem bệnh. Có người nhập vào xác đồng nói rằng, khu đất hoang nói trên là chỗ thần nhân trú ngụ, người nào dám xúc phạm thì phải chết. Ba ngày sau, người bị bệnh qua đời. Vì thế, hương chức trong làng mới lập miễu thờ thần tại khu đất hoang của ông Hồ Văn Nhi. Ban đầu, dân làng chỉ cúng thần có một lệ vào ngày 16 và 17 tháng giêng âm lịch. Đến lần cúng thứ ba, có một vị hương chức uống rượu vào bỗng nhiên được thần nhập xác, bảo dân làng phải cúng thêm 2 lệ nữa là Tống phong vào ngày 16 tháng 3 và Cầu bông vào ngày 16 tháng mười. Từ ngày đó, mỗi năm dân làng Phước Lý mới cúng thần 3 lệ, cho đến ngày nay.

        Qua lời kể của Ban quản trị đình, tuy mang nhiều yếu tố huyền bí, nhưng chứa đựng những điều cốt lõi như sau:

        - Đình Phước Lý hiện nay, ban đầu là một ngôi miếu thờ một vị thần không rõ lai lịch.

        - Ban đầu, dân làng cúng thần chỉ có một lệ vào ngày 16 và 17 tháng giêng.

        - Sau 3 năm, dân làng cúng thêm 2 lệ nữa là tống phong và cầu bông.

        Như vậy, với xuất phát ban đầu là một ngôi miếu, sau ba năm, miếu này được chuyển chức năng thành đình với 3 lệ cúng thuộc về lễ nghi nông nghiệp là Kỳ yên, Tống phong và Cầu bông. Tới đây, một câu hỏi được đặt ra là tại sao ngôi miếu lại được chuyển thành đình sau 3 năm. Tại sao lai lịch của vị thần thờ trong đình được lưu truyền đầy màu sắc mê tín, trong khi hầu hết những ngôi đình ở Nam Bộ đều thờ Thành Hoàng bổn cảnh hoặc một vị nhân thần, nhiên thần hữu danh nào đó. Dường như hương chức thời đó lo ngại khi phải công bố chính thức danh tánh vị thần được thờ trong đình của mình nên mới thêu dệt xung quanh lai lịch vị này những sắc màu huyền bí. Đây là những nghi vấn  mà chúng ta phải làm rõ trên con đường tìm hiểu lai lịch vị thần được thờ tại đình Phước Lý.

        Trước tiên, vị thần này không phải là Thành Hoàng bổn cảnh mà đình làng ở Long An nói riêng và Nam Bộ nói chung thường thờ. Thông thường, nếu vị thần được thờ có danh tánh hoặc mỹ hiệu vua phong, thì trong lệ cúng hàng năm người chủ tế phải đọc bài niệm hương phụng thỉnh thần (có danh tánh hoặc mỹ hiệu) về nhậm lễ. Trong khi đó, bài văn niệm hương trong lễ Kỳ yên đình Phước Lý do các đời trước truyền lại bằng văn bản không nói đến danh tánh của thần, trong khi các vị thần phối tự trong đình đều được nêu danh rất rõ. Vậy vị thần này là ai?  Qua nghiên cứu hệ thống thờ tự trong chánh điện đình Phước Lý, chúng tôi thấy có hai điều cần quan tâm. Một là bàn thờ thần có tôn trí mũ cánh chuồn và cặp kiếm đã có từ lâu đời (nay làm mới do vật xưa đã hư hỏng). Hai là trong các đối tượng được phối tự trong đình có các vị “Tiền binh đinh hữu công” (tạm hiểu là những binh sĩ có công trước đây). Qua đó, chúng tôi cho rằng vị thần được thờ tại đình Phước Lý là một nhân thần mà sinh tiền từng đảm nhiệm cả chức quan văn lẫn quan võ. Tiếp tục tra cứu những sử liệu có liên quan đến Phước Lý, được biết vào ngày 17/02/1859, thành Gia Định bị thực dân Pháp đánh chiếm, vị tướng giữ thành là Tổng đốc Võ Duy Ninh đã cùng tướng sĩ lui về thôn Phước Lý, huyện Phước Lộc. Ngày hôm sau (18/02/1859), ông đã tuẫn tiết bằng cách thắt cổ bởi không làm tròn trách nhiệm giữ thành mà triều đình giao phó (*). Từ kết quả khảo sát và những sử liệu trên, chúng tôi cho rằng có thể vị thần được thờ tại đình Phước Lý chính là Tổng đốc Võ Duy Ninh. Ngày mất của ông (18/02/1859) quy ra  âm lịch chính là ngày 16 tháng giêng năm KMùi. Ngày này trùng hợp với ngày cúng Kỳ yên của đình Phước Lý. Thời điểm Võ Duy Ninh tuẫn tiết (năm 1859, cách nay đúng 150 năm) cũng trùng khớp với thời điểm ra đời của đình. Còn về những nghi vấn mà phần trên của bài viết đã nêu, chúng tôi xin lý giải bằng những giả thuyết như sau:

        - Khi Võ Duy Ninh tuẫn tiết tại thôn Phước Lý, nhân dân đã dựng lên một ngôi miếu để thờ ông. Mỗi năm miểu chỉ cúng có một lệ vào ngày ông mất (16 tháng giêng).

        - Sau khi cúng ông được 3 năm (1859-1861) thì thực dân Pháp đã công hãm đại đồn Chí Hòa, đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông, trong đó có xã Phước Lý ngày nay. Triều đình Huế phải ký hòa ước Giáp tuất, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, dưới sự cai trị của Pháp, nhân dân Phước Lý không thể công khai thờ cúng ông Võ Duy Ninh và ngôi miếu không còn lý do để tồn tại. Vì thế, từ năm thứ tư (1862), dân làng buộc lòng phải chuyển chức năng của nơi thờ ông Võ Duy Ninh từ miếu sang đình và đặt thêm 2 lệ cúng nữa là Tống phong và Cầu bông để Pháp khỏi nghi ngờ. Tuy nhiên, với lòng kính trọng người đã hy sinh vì nước, nhân dân Phước Lý vẫn bí mật thờ Võ Duy Ninh trong đình dưới hình thức một vị thần không rõ danh tánh. Các hương chức thời đó cũng dựng lên một bức màn huyền bí xung quanh lai lịch vị thần thờ trong đình để che dấu điều bí mật trên. Trải qua thời gian thực dân Pháp đô hộ ngót 1 thế kỷ, danh tánh của Võ Duy Ninh cũng bị quên lãng, các thế hệ sau không thể biết rõ về lai lịch vị thần thờ trong đình.

        Nhân đây, chúng tôi cũng cung cấp vài dòng tiểu sử của ông Võ Duy Ninh để ban đọc tiện theo dõi. Ông có tên tự là Trọng Chí, biệt hiệu là Trúc Nghiêm, sinh năm 1804 tại làng Đại An, xã Hành Phong, tỉnh Quảng Ngãi. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), ông đỗ cử nhân tại trường thi Gia Định và được bổ chức Hành tẩu Bộ Lại. Năm 1847, ông được thăng lên Bố chính Phú Yên. Năm 1852, ông được triều đình điều về làm Tham tri Bộ Lại. Năm 1858, mẹ ông mất. Vì thế, ông về quê cư tang 3 tháng theo quy định của triều đình. Sau khi chịu tang mẹ xong, vào tháng 11-1858, triều đình cử ông vào Nam giữ chức Hộ đốc thành Gia Định. Đầu năm 1859, ông được thăng làm tổng đốc Định Biên (2 tỉnh: Gia Định và Biên Hòa). Ông vừa nhậm chức được 2 ngày thì tàu của thực dân Pháp vào cửa Cần Giờ, nổ súng tấn công thành Gia Định. Ông đã chỉ huy quân sĩ chống giặc gần một tháng trời. Với sức mạnh về vũ khí, giặc Pháp đã phá được các pháo đài dọc sông và công hãm thành Gia Định. Trước tình thế nguy ngập, Võ Duy Ninh  chấn chỉnh đội ngũ và tinh thần binh lính, đồng thời hiệu triệu binh lính các tỉnh Nam Kỳ về cứu viện. Tuy nhiên, trước sức tấn công mãnh liệt của quân Pháp, thành Gia Định đã thất thủ ngày 17/02/1859. Thành mất, Võ Duy Ninh cùng binh sĩ chạy về thôn Phước Lý, huyện Phước Lộc (nay thuộc xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc) rồi tuẫn tiết tại đây vào ngày 18/02/1859.

        Tin thất thủ Gia Định bay về Huế, triều đình chiếu theo luật đã tước bỏ phẩm hàm Tổng đốc của Võ Duy Ninh. Nhờ Khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi khẩn thiết tâu bày, vua Tự Đức mới chấp thuận cho người vào Nam mang hài cốt Võ Duy Ninh về an táng tại xã Chánh Lộ (nay thuộc thành phố Quảng Ngãi). Mười tám năm sau (1867), Võ Duy Ninh mới được triều đình Huế khai phục chức Thị độc.

Trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế đã viết về Võ Duy Ninh như sau:”Ông là vị tướng lĩnh cao cấp hy sinh đầu tiên trong Nam thời giặc Pháp cướp nước ta”.

        Vị thần được thờ ở đình Phước Lý có phải chăng là Tổng đốc Võ Duy Ninh? Muốn khẳng định điều này, cần phải có quá trình nghiên cứu sâu hơn. Nhưng dù cho vị thần này là ai đi nữa thì đình Phước Lý vẫn xứng đáng là một trong những địa điểm ghi dấu quá trình khai hoang lập ấp đầy gian khổ của dân tộc ta hàng trăn năm về trước. Nơi đây còn là chốn linh thiêng của một cộng đồng, nơi bảo lưu các lễ hội truyền thống của dân tộc. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đình Phước Lý chính là việc làm thiết thực để góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

                                                                             Bài và ảnh: Nguyễn Văn Thiện

                                                             


(*) -Chống xâm lăng,  Trần Văn Giàu, trang 79-80, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2001.

-Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục chính biên, tập XXIX, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Cao Huy Giu hiệu đính, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974.

-Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1859-1945), tập I:1858-1896.

 

14/11/2011 1:39 SAĐã ban hànhApproved
Bảo tàng Long An tham gia triển lãm chuyên đề “Gốm Óc Eo Nam Bộ lần thứ I” tại An GiangBảo tàng Long An tham gia triển lãm chuyên đề “Gốm Óc Eo Nam Bộ lần thứ I” tại An Giang

Được sự cho phép của Ủy ban nhân dân tỉnh Long An tại Quyết định số 3452/QĐ-UBND ngày 21/9/2017, Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch (Bảo tàng Long An) tham gia Triển lãm chuyên đề "Gốm Óc Eo Nam Bộ lần thứ I năm 2017" tại An Giang.

Triển lãm khai mạc ngày 29/9//2017 tại Ban Quản lý di tích văn hóa Óc Eo, với sự tham gia của các Bảo tàng, Ban Quản lý di tích của 16 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam (Bảo tàng lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Long An, Bảo tàng Cần Thơ, Bảo tàng Bến Tre, Bảo tàng Tây Ninh, Bảo tàng Đồng Nai, Khu di tích Cát Tiên…), gần 1000 hiện vật gốm các loại. Triển lãm chia làm bốn chuyên đề chính là gốm kiến trúc, gốm sản xuất, gốm tôn giáo và gốm dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

 29-9-2017 Cắt băng khai mại triển lãm gốm Óc Eo.jpg

Cắt băng khai mạc triển lãm gốm Óc Eo

Chuyên đề gốm kiến trúc trưng bày những hiện vật kiến trúc đền tháp ở Óc Eo với đủ kiểu, đủ loại gạch ngói, phù điêu.

Chuyên đề gốm sản xuất nói đến những hiện vật gốm có chức năng dùng trong hoạt động sản xuất của cư dân cổ Phù Nam, những hiện vật này còn thể hiện một cách rõ nét nhất nghề dệt vải, chế tác đồ gốm và nghề kim khí. Một số hiện vật tiêu biểu trong chuyên đề này là khuôn đúc, nồi nấu kim loại, bàn mài, bàn xoa, dọi xe sợi, chì lưới…

29-9-2017 Gốm sản xuất (Dọi xe sợi - Bảo tàng Long An).jpg

Gốm sản xuất (Dọi xe sợi - Bảo tàng Long An)

Chuyên đề gốm tôn giáo tuy có số lượng ít nhưng rất độc đáo với các loại bình, bát bồng, các điêu khắc Phật giáo (tượng phật), các điêu khắc Hidu giáo (Linga, Yoni, bò thần Nandi).

29-9-2017 Gốm Tôn giáo (Yoni - Bảo tàng Long An).jpg

Gốm Tôn giáo (Yoni - Bảo tàng Long An)

Chuyên đề cuối cùng là chuyên đề gốm sinh hoạt chiếm số lượng lớn, phong phú và đa dạng về loại hình đồ đun nấu (nồi, ấm…); đồ đựng thức ăn (chén, bát, đĩa, âu…); đồ dùng sinh hoạt (đèn, chân đèn); đồ dựng (bình, vò, hủ, thố…). Ngoài ra, còn có các đồ trang sức như khuyên tai, hạt chuỗi; đồ chơi trẻ em  như bi gốm, gốm ghè.

29-9-2017 Gốm sinh hoạt (Hủ - Bảo tàng Long An).jpg

Gốm sinh hoạt (Hủ - Bảo tàng Long An)

Gốm không chỉ phản ánh vẻ đẹp, mỹ cảm của một cộng đồng, một thời đại mà nó còn phản ánh sự phát triển, phân tầng xã hội, mối giao lưu của chính cộng đồng ấy trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Gốm vừa là sản phẩm hữu dụng trong văn hóa trong một thời đại cụ thể, vừa mang một hơi thở, một thông điệp của một thời đại đã qua, giúp cho hậu thế có thể hiểu được mọi mặt của đời sống xã hội trong quá khứ./.

Thu Vân (Bảo tàng Long An)

09/10/2017 11:00 SAĐã ban hànhApproved
KỶ NIỆM 145 NĂM NGÀY HY SINH CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰCKỶ NIỆM 145 NĂM NGÀY HY SINH CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

    Ngày 15-10-2013, tại khu Di tích Lịch sử Vàm Nhựt Tảo xã An Nhựt Tân huyện Tân Trụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng UBND huyện Tân Trụ tổ chức kỷ niệm 175 năm sinh và 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Bí thư Tỉnh ủy – Mai Văn Chính cùng lãnh đạo UBND tỉnh, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, các ban ngành đoàn thể và hàng ngàn lượt người dân trong và ngoài tỉnh đến dâng hương, tưởng niệm.

 

Bí thư Tỉnh ủy – Mai Văn Chính cùng lãnh đạo UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh dâng hương
 tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực
 


    Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo là nơi gắn liền với sự kiện  đốt cháy tàu Ésperance Pháp của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực vào tối ngày 10-12-1861. Khu di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia có diện tích trên 6 hécta, gồm:
Đền Tưởng niệm - nơi khách tham quan thắp hương tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; Nhà Trưng bày - nơi trưng bày những hiện vật, hình ảnh, tài liệu khoa học về thân thế và sự nghiệp Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, trong đó tái hiện chiến công lững lẫy “Hỏa hồng Nhựt Tảo”; Nhà bia - nơi khắc ghi văn bia ca ngợi Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực cùng chiến thắng Vàm Nhựt Tảo. Đây không chỉ là nơi ghi nhớ chiến công oanh liệt của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực mà còn đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân Long An; tạo cảnh quan để thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan; tạo địa điểm cho sinh viên, học sinh du khảo về nguồn và thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Lãnh đạo tỉnh tham quan Khu Di tích Lịch sử Vàm Nhựt Tảo

    Lễ kỷ niệm 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là hoạt động tưởng nhớ công ơn với bậc tiền nhân. Qua đây, giáo dục lòng yêu nước, hướng về nguồn cội cho thế hệ hôm nay.

                                                                                                 Bài, ảnh: THÙY HƯƠNG

21/10/2013 9:32 SAĐã ban hànhApproved
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An tổ chức lễ Kỷ niệm 175 năm sinh và 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung TrựcSở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Long An tổ chức lễ Kỷ niệm 175 năm sinh và 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

   

 Đền tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực

    Nhằm tuyên truyền, giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc, bồi dưỡng và phát huy tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự cường dân tộc. Đồng thời tạo điều kiện cho khách thập phương có dịp đến thắp nén hương tưởng niệm anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, qua đó giới thiệu, quảng bá Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo để thu hút khách tham quan du lịch trong và ngoài tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Tân Trụ tổ chức lễ Kỷ niệm 175 năm sinh và 145 năm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo.

 Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ tỉnh Long An

    Chương trình hoạt động:

    Ngày 15/10/2013:

    Đón khách đến viếng Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực và tham quan Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo từ 8 giờ đến 21 giờ.

    Đoàn nghệ thuật Tổng hợp tỉnh Tiền Giang biểu diễn từ 19 giờ.

    Ngày 16/10/2013:

    Đón khách đến viếng Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực và tham quan Khu di tích lịch sử Vàm Nhựt Tảo từ 8 giờ đến 21 giờ.

    Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An biểu diễn từ 19 giờ. 

Tin, ảnh: Nguyễn Văn Chánh

14/10/2013 2:29 SAĐã ban hànhApproved
Nhà yêu nước Võ Công Tồn, người con ưu tú của quê hương Bến LứcNhà yêu nước Võ Công Tồn, người con ưu tú của quê hương Bến Lức

 Chân dung cụ Võ Công Tồn


Võ Công Tồn sinh năm 1891 tại làng Long Hiệp, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn, nay là xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ông có tên khai sinh là Võ Văn Tồn. Cha mẹ ông là người hào hiệp, còn ông lại ưa chuộng công bằng chính trực nên ông được cha thay chữ lót ở họ tên, đổi thành Võ Công Tồn.

Gia đình ông Võ Công Tồn vốn có nguồn gốc từ Phan Thiết, đến đời ông nội của ông thì chuyển vào Nam định cư, khai phá vùng đất mới bên bờ sông Rạch Chanh (nay thuộc thành phố Tân An). Thân sinh của ông Võ Công Tồn là cụ ông Võ Văn Suốt và cụ bà Nguyễn Thị Hâm, mưu sinh bằng nghề hát bội, sau đó định cư, làm ruộng tại ấp Cá Trê (nay là ấp Lò Gạch) và xây dựng lò sản xuất gạch ngói. Nhờ lao động cần cù, việc kinh doanh của thân sinh ông Võ Công Tồn ngày càng phát đạt. Riêng cụ ông Võ Văn Suốt rất được nhân dân tín nhiệm, từng làm đến chức Hương cả. Cụ Cả Suốt còn dùng lẫm lúa của gia đình dạy chữ nho và quốc ngữ để mở mang trí tuệ cho con em trong vùng.

Sống và lớn lên trong một gia đình nề nếp, có truyền thống yêu nước, lại là người con duy nhất nên ông Võ Công Tồn rất được cha mẹ yêu thương, chăm sóc và dạy dỗ kỹ lưỡng. Thuở nhỏ, ông học lớp nhất (Corus Supérieur) ở trường Bến Lức, sau đó học tiếp 6 năm trung học ở Trường nội trú Taberd (Sài Gòn). Vì là con duy nhất nên ông không học tiếp nữa mà trở về phụng dưỡng song thân và lập gia đình.

Là người yêu chuộng công bình, chính trực, Võ Công Tồn sớm nhận rõ nổi nhục mất nước, thân phận của đồng bào… nên ông đề xuất việc mở trường học, bên vực kẻ yếu và được tiếng “dân yêu quan ghét”. Ông thường được dân chúng cử tham gia chức việc trong làng, từ năm 1925 đến 1939, ông lần lượt giữ các chức Hương hào, Xã trưởng, Hương cả. Chính trong thời gian này, lợi dụng thế hoạt động công khai của mình ông đã hết lòng giúp đỡ cách mạng. Với tính tình bặt thiệp, chánh trực, lại hâm mộ thể thao, văn nghệ, thích giao du với nhiều người, ông kết thân với nhiều bạn bè, đồng chí có đạo đức, yêu nước, danh tiếng lan ra khắp Nam Kỳ.

Khi chí sĩ Nguyễn An Ninh về nước và tổ chức các cuộc diễn thuyết ở Vườn Lài về đạo đức, luân lý Đông, Tây; về tư tưởng văn hóa “dân ước, dân quyền, dân đạo”; ông bắt đầu nhận thức về hành động cứu nước theo con đường cách mạng tư sản dân quyền. Năm 1923, ông gia nhập “Thanh niên Cao vọng Đảng, sau này là “Hội kín Nguyễn An Ninh. Ông cũng là một trong những mạnh thường quân ủng hộ tài chính cho Nguyễn An Ninh thành lập và duy trì hoạt động tờ báo La Cloche fêlée (Tiếng chuông rè). Đây là tờ báo tiến bộ công khai, lần đầu tiên đăng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ở Sài Gòn.

Năm 1926, ông cùng Trần Huy Liệu mở cuộc vận động đón tiếp Bùi Quang Chiêu từ Pháp về. Đồng thời, ông cũng tích cực quyên góp tiền, cổ động cho đám tang chí sĩ Phan Chu Trinh và là một trong 12 thành viên của Ban tổ chức tang lễ[1]. Vì việc này, ông bị ghi vào sổ bìa đen của chính quyền thực dân Pháp.. Vì việc này, ông bị ghi vào của chính quyền thực dân Pháp.

Năm 1927, ông tổ chức cho một số thanh niên Gò Đen sang Pháp du học như: Nguyễn Văn Tạo, Phạm Văn Phấn (Cù Là Phấn), Nguyễn Văn Bích, Lại Thành Hưng, Võ Công Phụng (con trai ông),… Đồng thời, ông cũng cổ động, ủng hộ tài chính, tổ chức thành lập chi nhánh “Hội Khuyến học Nam Kỳ” tại Gò Đen và 3 trường học ở Long Hiệp, Long Can, Long Định. Hội có một tủ sách đầy đủ của “Tự lực văn đoàn” và những quyển sách bị chính quyền thực dân cấm lưu hành bấy giờ như của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh. Hàng tháng, Hội tổ chức mời diễn giả từ Sài Gòn - Chợ Lớn đến, diễn thuyết nhiều đề tài, thu hút được nhiều lớp người trong vùng đến nghe. Mục đích của Hội là tổ chức học tập, nâng cao dân trí, tuyên truyền, thức tỉnh tinh thần quốc gia dân tộc cho quần chúng nhân dân. Cũng trong năm này, ông đem phần lớn tài sản của mình để mua một chiếc tàu của Mỹ về sửa chữa, đặt tên là “Đại phúc kinh”, để làm phương tiện vượt biển cho một số thanh niên Nam Bộ sang Quảng Châu (Trung Quốc) tham gia các lớp huấn luyện của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Cuối năm 1927, ông sang Pháp thăm con là Võ Công Phụng đồng thời quan sát tình hình chính trị ở nước ngoài. Tại đây, ông đã có những cuộc tiếp xúc với các chí sĩ yêu nước như Nguyễn Văn Tạo, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và một số kiều bào yêu nước khác. Chuyến đi này có sức ảnh hưởng rất lớn trong việc chuyển hướng tư tưởng yêu nước của ông theo con đường Chủ nghĩa xã hội và cộng sản. Chính quyền Pháp rất lo ngại những cuộc tiếp xúc này, nên sau khi về nước, ông đã bị chính quyền thực dân Pháp tạm giam tại Sài Gòn 25 ngày, nhưng do không có chứng cứ buộc tội và được gia đình lo lót nên đã thả ông sau đó.

Cuối năm 1928, một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng ở Bắc Kỳ được bí mật phái vào Nam để gây dựng cơ sở và thành lập Kỳ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng ở Sài Gòn. Được Nguyễn Phương Thảo (sau này là Trung tướng Nguyễn Bình) vận động, ông tham gia quyên góp và trở thành đại diện của Việt Nam Quốc dân Đảng ở Nam Kỳ, dự kiến sẽ là Trưởng ban tuyên truyền của Kỳ bộ.

 Toàn cảnh nhà cụ Võ Công Tồn,
trước nhà là bia di tích lịch sử quốc gia  vườn - nhà Võ Công Tồn


Tuy nhiên, đến năm 1929, thực dân Pháp truy quét giam cầm hàng loạt thành viên các tổ chức chính trị hoạt động bí mật chống chính quyền thực dân tại Nam Kỳ như Hội kín Nguyễn An Ninh, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, Đảng Tân Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng,… Ông cũng bị bắt và bị đưa ra Tòa đại hình Sài Gòn xét xử cùng với Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo, Hà Thuận Hồng,… Ông bị kết án 5 năm tù[2] vì tội chứa chấp những thành phần “quốc sự”, tuy nhiên do lo lót tiền nên bản án của ông giảm xuống còn 18 tháng và bị đày đi Hà Tiên cùng lượt với Nguyễn An Ninh.

Sau khi ra tù, ông về quê củng cố lại hoạt động kinh doanh lò gạch. Bấy giờ, cơ sở sản xuất gạch ngói của ông có trên 300 công nhân, là cơ sở kinh doanh lớn, có ảnh hưởng lớn đồng thời càng  trở thành cơ sở, chổ dựa đáng tin cậy của Đảng và những người yêu nước. Vì vậy, địa danh  ấp Cá Trê dần bị thay bằng tên mới là ấp Lò Gạch.

Năm 1935, chi bộ Đảng của ấp Lò Gạch ra đời tại lò gạch của ông Võ Công Tồn gồm 03 đồng chí: Nguyễn Văn Chác (ba Trương) – Bí thư, Nguyễn Bá Lộc và Nguyễn Văn Thành. Cũng trong năm này ông ra tranh cử và đắc cử chức Hội đồng địa hạt Chợ Lớn, vì vậy dân chúng còn gọi ông là Hội đồng Tồn. Với địa vị này, ông nhiều lần tìm cách tranh thủ thực hiện “tự do, dân chủ” cho dân chúng Nam Kỳ, ủng hộ Nguyễn An Ninh đăng đàn diễn thuyết về “Quyết định lấy công nông làm nền tảng nhưng có thể bao gồm cả giai cấp tư sản nhằm giành quyền tự quyết dân tộc” và chủ trương “Tiến tới một cuộc đại hội Đông Dương”.

Từ năm 1936-1939, ông nhiều lần ủng hộ vật chất cho Đảng cộng sản hoạt động và là người hoạt động rất tích cực trong Ủy ban Lâm thời Đông dương đại hội. Ông còn là Phó Chủ tịch  Hội cứu trợ nạn đói Bắc Kỳ. Ông được đề cử là một thành viên trong Chính phủ khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ thắng lợi. Mặc dù không phải là đảng viên Đảng Cộng sản nhưng ông luôn suy nghĩ và hoạt động như một người cộng sản.[3]

Tháng 9 năm 1939, Thế chiến thứ hai bùng nổ ở Châu Âu. Ở Đông Dương, nhà cầm quyền Pháp liền tuyên bố thiết quân luật, ráo riết truy lùng, bắt bớ và sát hại các nhà yêu nước và chiến sĩ cách mạng, hòng ngăn ngừa nhân dân Việt vùng lên tự giải phóng mình. Nguyễn An Ninh bị bắt ở ấp Lò Gạch. Một tuần sau, Võ Công Tồn cũng bị bắt về tội chứa chấp Nguyễn An Ninh. Ông bị giam tại Tà Lài cùng với Dương Quang Đông, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Tô Ký,…

Ngày 16 tháng 4 năm 1940, Tòa tiểu hình Sài Gòn tuyên án gần 100 người, trong đó Võ Công Tồn chịu án 4 năm tù, 10 năm biệt xứ, đày ra Côn Đảo. Ông bị giam ở Banh II, là nơi giành riêng cho các chính trị phạm được liệt vào "nguy hiểm nhất" cùng với Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Khắc Sửu, Trần Ngọc Danh,… Do điều kiện lao tù khắc nghiệt, sức kiệt, ông qua đời tại Nhà tù Côn Đảo ngày 16 tháng 6 năm 1942.

Võ Công Tồn là một điền chủ, tư sản, có học thức và tinh thần yêu nước, giác ngộ cách mạng. Ông đã hoạt động tích cực cùng nhiều đồng chí gây dựng cơ sở cách mạng, ủng hộ cuộc đấu tranh của quần chúng chống lại ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và tay sai. Nói về Võ Công Tồn, Giáo sư Trần Văn Giàu phát biểu: “Võ Công Tồn cùng với Nguyễn An Ninh là hình ảnh của “núi Hai Vì” hai tấm gương lớn về hoạt động cách mạng ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX[4]. Do những đóng góp của mình, ngày 4 tháng 6 năm 1986, ông được Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Tên ông được đặt cho một con đường tại tỉnh lỵ Long An (theo quyết định số 2554/QĐ-UB ngày 18/10/1997 của UBND tỉnh Long An). Một số đường phố và trường học tại Long An cũng được mang tên ông. Khu nhà và lò gạch của gia đình ông được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia theo Quyết định 02/2004/QĐ-BVHTT ngày 19 tháng 1 năm 2004.

Xin trích điếu văn của Giáo sư Trần Văn Giàu viết về ông để kết thúc bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của một trí thức yêu nước, người con ưu tú của quê hương Bến Lức anh hùng, nơi không chỉ sản sinh ra nhà yêu nước Võ Công Tồn mà cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của nhiều nhân vật lịch sử khác như Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Văn Tạo, Mai Thị Non… những người con làm rạng danh cho quê hương, tổ quốc.

Một nắm xương tàn chôn ở Hàng Dương

Hai trăm mẫu ruộng vườn,

hai trại cưa, ba lò gạch

Tất cả tiền của sẵn sàng góp vào sự nghiệp dân tộc

Ngồi tù Khám Lớn

bị đày đi Hà Tiên, Tà Lài, Côn Đảo

Tất cả cuộc đời

tận tụy hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam độc lập tự do./.

 

Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

(theo Lý lịch di tích Nhà và Lò gạch Võ Công Tồn)

Ảnh: Văn Ngọc Bích



[1] Tang lễ cử hành ngày 24/3/1926

[2] Phiên tòa diễn ra ngày 14 và 15/7/1930

[3] Võ Công Tồn từ chối vào Đảng bởi: “Tôi ở ngoài Đảng có lợi lớn hơn tôi vào Đảng, bao nhiêu cái chuyện của tụi địch, tôi đem về báo lại với Đảng, Đảng biết hết, như vậy phải có lợi lớn hơn không? Tôi làm Hội đồng, làm được chuyện đó” – Trích bài phát biểu của Dương Quang Đông trong ngày giổ cụ Võ Công Tồn ngày 19/6/1994.

[4] Trích bài phát biểu của Giáo sư Trần Văn Giàu trong hội thảo kỷ yếu của Võ Công Tồn 1995.

 

02/08/2013 8:50 SAĐã ban hànhApproved
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh gặcPhó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh gặc

Nhân kỷ niệm 66 năm ngày Thương binh liệt sỹ, ngày 27/7/2013, Phó Thủ tướng Chính phủ - Vũ Văn Ninh cùng Đoàn công tác Chính phủ đã đến làm việc với tỉnh Long An và thăm các gia đình chính sách ở thành phố Tân An và huyện Châu Thành. Đoàn cũng đã đến thăm và trồng cây lưu niệm tại công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc tại Phường 5, thành phố Tân An.

Sau đây là một số hình ảnh của Đoàn công tác tại khu công viên tượng đài  Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc:

 Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng lãnh đạo tỉnh Long An thăm công viên tượng đài Long An
Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc

 

 Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng lãnh đạo
tỉnh Long An thắp hương tưởng niệm trước
tượng đài Long An Trung dũng kiên cường,
 toàn dân đánh giặc

 

  Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh
trồng cây lưu niệm

Tin: Hồ Phan Mộng Tuyền
Ảnh: Văn Ngọc Bích

05/08/2013 12:10 SAĐã ban hànhApproved
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặcPhó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm công viên tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc

 
          Ông Đặng Văn Xướng - Chủ tịch HĐND tỉnh, ông Đỗ Hữu Lâm - Chủ tịch UBND tỉnh và ông Mai Văn Chính - Bí thư Tỉnh ủy Long An trò chuyện với  Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại  công viên - tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc

Nhân kỷ niệm lần thứ 66 năm ngày thương binh liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2013), ngày 24/7/2013, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội - Nguyễn Thị Kim Ngân cùng lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đến làm việc tại Long An.

 Đoàn đã dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Long An, trồng cây lưu niệm tại công viên - tượng đài Long An Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc, thăm các gia đình chính sách, Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh và làm việc với lãnh đạo tỉnh./.

                                                                                                                               Tin: Hồ Phan Mộng Tuyền
 
                                                                                                                                       Ành: Văn Ngọc Bích

02/08/2013 8:20 SAĐã ban hànhApproved
Người xưa sửa lỗiNgười xưa sửa lỗi

Ca dao Việt Nam có câu:

Thế gian muôn sự  khôn chừa 

Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ. 

Thật vậy, tửu sắc là một trong những lạc thú ở đời dễ làm cho con người hư hỏng nếu quá đà. Riêng về rượu, ai trong đời cũng có lần say sưa nhưng quan trọng hơn hết là biết nhận ra lỗi lầm để sửa chữa. Trong chuyện này, có thể kể lại đây tấm gương của vua Anh Tông thời Trần.

Vua tên  Thuyên, con trưởng vua Nhân Tông, lên ngôi vào tháng 3-1293, lấy niên hiệu là Hưng Long. Khi còn trẻ tuổi, vua thích vi hành, cứ đêm đến, lại lên kiệu ra khỏi cung, cùng mấy chục người thị vệ đi khắp kinh kỳ, gà gáy mới về cung. Có lần vua còn bị bọn vô lại ném gạch trúng vào đầu. Ngoài ra, vua còn thích uống rượu. Năm Hưng Long thứ 7 (1299), Thái Thượng Hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường về kinh thành Thăng Long. Là người có tính tình giản dị, nên đi đâu Thái Thượng Hoàng cũng không không bày xa giá rầm rộ, mà chỉ mang  một toán tinh binh hầu cận, vì thế, triều thần chẳng ai biết cả. Thượng Hoàng về đến nơi, đi thăm khắp các cung điện, từ giờ thìn đến giờ tỵ (từ 7-11 giờ), đến khi cung nhân dâng bữa trưa vẫn không thấy Anh Tông đâu. Thượng Hoàng lấy làm lạ, hỏi cung nhân rằng vua ở đâu thì mới biết Anh Tông uống rượu Xương Bồ say khướt từ hôm qua, đến giờ vẫn chưa tỉnh. Thượng Hoàng sai cung nhân vào trong đại nội đánh thức, nhưng vua vẫn không dậy nổi. Thượng Hoàng thấy thế thì giận lắm, nên dù cho mới vừa về kinh, cũng lập tức quay về phủ Thiên Trường, xuống lệnh cho tất cả các quan ngày mai phải đến Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội.

Đến giờ mùi (khoảng 2-3 giờ chiều), vua tỉnh lại, nghe cung nhân tâu việc Thái Thượng Hoàng về kinh. Vua cả sợ,  triệu các quan vào cung nhưng mọi người đều đã về Thiên Trường. Vua đi  qua chùa Tư Phúc, thấy học sinh Đoàn Nhữ Hài, bèn hỏi:”Sao ngươi lại ở đây?”. Đoàn Nhữ Hài tâu:” Thần vì mãi học, đi lỡ ra đây”. Vua bèn bảo với Đoàn Nhữ Hài:”Trẫm vì say rượu, có tội với Thượng Hoàng, giờ trẫm định đến trước ngài tạ tội, vậy ngươi hãy thảo cho trẫm bài biểu”. Đoàn Nhữ Hài đứng trước mặt vua, chốc lát đã soạn xong bài biểu. Vua xem xong, tờ biểu còn chưa ráo mực, liền ra lệnh dùng thuyền nhẹ, đem theo Đoàn Nhữ Hài, tức tốc về phủ Thiên Trường. Thuyền đi suốt đêm, đến sáng thì đến nơi. Vua sai Đoàn Nhữ Hài dâng biểu tạ tội.

Thượng Hoàng thấy Đoàn Nhữ Hài liền hỏi là ai. Nội nhân trả lời rằng đây là người của Quan Gia (danh từ gọi vua thời Trần), phụng mạng đến dâng biểu. Thượng Hoàng nghe xong im lặng, chẳng nói gì. Đến buổi chiều, mưa to ập đến, Đoàn Nhữ Hài vẫn quỳ dưới cửa cung. Thượng Hoàng thấy thế thương tình nên nhận biểu để xem. Thấy lời lẽ trong biểu vô cùng khẩn thiết, Thượng Hoàng cho vời vua vào và bảo rằng:”Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Nay trẫm còn sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này?”. Vua vô cùng hối hận, dập đầu xin tha tội. Thượng Hoàng nguôi ngoai, xuống chiếu cho Anh Tông vẫn được làm vua và cho các quan về triều như cũ. Thượng Hoàng còn khen Đoàn Nhữ Hài rằng:”Bài biểu ngươi soạn rất hợp lòng trẫm”.

Nhờ cách dạy dỗ nghiêm khắc của Thượng Hoàng Nhân Tông mà vua Anh Tông sau này không bao giờ uống rượu và trở thành một vị minh quân của nhà Trần. Đối với việc dùng người, vua đều xét đoán rất kỹ và tùy tài mà dùng một cách hợp lý. Dưới triều Anh Tông có Nguyễn Quốc Phụ làm nội thư chánh chưởng, cận thần lúc trước của Thượng Hoàng Nhân Tông. Lúc triều đình khuyết chức hành khiển (tể tướng), có lần Thượng Hoàngbảo:” Quốc Phụ được đấy”. Vua thưa rằng :”Nếu lấy ngôi thứ mà bàn, thì được rồi, chỉ hiềm hắn nghiện rượu thôi”. Vì thế, Nguyễn Quốc Phụ vẫn giữ chức cũ cho đến chết. Còn Đoàn Nhữ Hài tuy còn tuổi trẻ nhưng tài cao, vua mạnh dạn phong làm Ngự sử trung tán. Về sau, Đoàn Nhữ Hài đã tỏ rõ năng lực của mình và trở thành một danh thần của triều Trần.

Khi làm vua, có lúc Anh Tông ban quan tước hơi nhiều. Thượng Hoàng Nhân Tông liền bảo: “Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà quan tước nhiều đến thế?”. Từ đó, vua hết sức thận trong khi ban chức tước cho bất kỳ ai. Nguyễn Sĩ Cố, Chu Bộ là cận thần của vua khi còn là Hoàng tử. Nhưng khi vua lên ngôi vẫn không cất nhắc hai người này  vào vị trí quan trọng. Nguyễn Sĩ Cố làm đến Thiên Chương các đại học sĩ, nhưng thực ra chỉ có danh chứ không có quyền hành, còn Chu Bộ cũng chỉ được trông coi mấy bộ cấm binh. Khi Anh Tông đi đánh Chiêm Thành, Chu Bộ chết trận, Nguyễn Sĩ Cố chết trên đường đi. Cả hai đều phục vụ Anh Tông tận tình lâu ngày nhưng vì tài không thể dùng mà vua đặt họ vào chức vị nhàn tản, cho hưởng bộc cao, lộc hậu chứ không trao thực quyền.

Sử chép rằng Anh Tông tính tình khiêm tốn, hòa mục với người trong họ, mọi việc của triều đình đều tự mình quyết đoán. Khi thư rỗi việc nước, ngài để tâm đến việc trước thuật và sửa sang phong hóa. Chính vua là người bỏ lệ  xăm hình rồng vào thân người. Vua có sáng tác tập thơ ngụ chế mang tên Thủy vân tùy bút, nhưng trước khi mất thì hạ lệnh đốt đi.

Anh Tông mất ngày 16 tháng 3 năm Đại Khánh thứ năm (1320), ở ngôi 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng 6 năm, hưởng thọ 45 tuổi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về Anh Tông như sau: “Vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều Trần”

Tấm gương hối lỗi và sửa lỗi của Trần Anh Tông thật đáng để cho hậu thế chúng ta suy gẫm và noi theo.

                                                                                            NGUYỄN VĂN THIỆN

03/07/2013 7:08 SAĐã ban hànhApproved
Bộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh ĐứcBộ ván một ở lăng Kiến Xương Quận công Nguyễn Huỳnh Đức

Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức (1748-1819), người làng Tường Khánh, huyện Kiến Hưng (nay thuộc ấp Dinh, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An) là một đại thần của nhà Nguyễn, từng giữ những chức vụ quan trọng như: Chưởng Tiền quân, Tổng trấn Bắc Thành, Tổng trấn Gia Định Thành...Lăng mộ và đền thờ ông tọa lạc tại xã Khánh Hậu đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia từ năm 1993. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều hiện vật quý giá có niên đại thế kỷ XVIII-XIX vẫn còn được lưu giữ tại di tích , trong đó có bộ Ván Một.

Với chiều dài 3,4m, chiều rộng 1,8m, dày 0,2m được tạo thành từ một khối gỗ duy nhất, có lẽ đây là bộ ván có kích thước lớn nhất Việt Nam còn tồn tại nguyên vẹn cho tới bây giờ. Trong lượng bộ ván cũng chưa có ai cân một cách chính xác. Chỉ biết rằng vào năm 1959, khi đền thờ Kiến Xương quận công được dời đến địa điểm hiện nay, gia tộc phải nhờ một trung đội lính mới khiêng nổi bộ ván. Theo lời kể của gia tộc Nguyễn Huỳnh, bộ Ván Một này là di vật của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, được ông sử dụng hồi còn ở quê nhà, lúc chưa đi theo phò Chúa Nguyễn. Từ đó suy ra, bộ ván này có niên đại muộn nhất cũng vào năm 1780.

Từ khi Quận công Nguyễn Huỳnh Đức mất (9-9AL-1819), đến nay bộ ván được đặt một cách trân trọng tại chính điện đền thờ ngài. Tương truyền, đây là bộ ván linh thiêng, nếu ai có lòng tà vạy, gian tham dám ngồi lên bộ ván thì thế nào cũng bị Quận công Nguyễn Huỳnh Đức quở phạt. Cụ Nguyễn Huỳnh Tân (1878-1954) – cháu đời thứ năm của Quận công Nguyễn Huỳnh Đức có truyền lại cho con cháu một mẩu chuyện thú vị xung quanh bộ Ván Một như sau:

Vào khoảng năm 1880, tại khu vực giáp ranh hai tỉnh Long An và Tiền Giang bây giờ có cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do ông Ong và ông Khả lãnh đạo. Lúc bấy giờ, tên việt gian Trần Bá Lộc đang trấn nhậm vùng Cái Bè đã đem quân đến đàn áp cuộc khởi nghĩa theo lệnh của Tây. Một hôm hắn dẫn lính vào lung sục, tra khảo nhân dân làng Tường Khánh. Khi đi ngang đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, Trần Bá Lộc rẽ vào và leo lên bộ ván ngồi một cách nghinh ngang. Giữa lúc con cháu Quân Công Nguyễn Huỳnh Đức đang lạy chào “quan” thì Trần Bá Lộc đột nhiên té nhào từ trên bộ ván xuống. Lính hầu lật đật khiêng Trần Bá Lộc lên giường nằm. Một lúc sau Trần Bá Lộc tỉnh lại, nét mặt hốt hoảng kể lại rằng:”Ta đương ngồi trên bộ ván thình lình có một bọn năm sáu người tự xưng là bộ hạ của Quan thượng Tiền quân vâng lệnh ngài đến bắt ta đem chém. Ta vùng vẩy, chống cự lại bọn lính hầu nên mới bị té xuống đất”. Ngừng một chút, Trần Bá Lộc nói tiếp:” Mấy chục năm nay ta đánh Nam dẹp Bắc, giết người như chém cỏ, từng đốn tre kẹp con nít, bỏ người vào cối quết chẳng gờm tay. Hôm nay là lần đầu tiên ta phải kiêng sợ bộ ván linh của Quan thượng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức vậy.”

Từ đó về sau, không một ai dám ngồi lên “Bộ Ván Linh” của Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.

Cùng với bộ sưu tập cổ vật tại di tích nghệ thuật Lăng mộ và đền thờ Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, bộ ván một là một hiện vật quý có giá trị lịch sử và niên đại so quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ.

                            

                                                                                             NGUYỄN VĂN THIỆN

03/07/2013 6:58 SAĐã ban hànhApproved
DI TÍCH LỊCH SỬ NHÀ TỔNG THẬNDI TÍCH LỊCH SỬ NHÀ TỔNG THẬN

    Nhà Tổng Thận là tư gia của Cai tổng Trần Khắc Thận, được xây dựng vào năm 1892, hiện tọa lạc tại số 19, đường ngô Quyền, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

    Ông Trần Khắc Thận quê gốc ở Quảng Nam, theo công giáo, di cư vào cù Lao Giêng (Long Xuyên) vào giữa thế kỷ XIX, rồi về sống ở Tân An và làm chức Cai tổng tổng Thạnh Hội Thượng. Ông là người giàu có ở tỉnh Tân An, chỉ sau đại điền chủ Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), nhà của ông xây dựng cạnh chợ Vũng Gù, hướng ra kinh Bảo Định, là một trong những ngôi nhà to đẹp nhất Tân An thời bấy giờ. Năm 1935, do thu kiện vì tranh chấp tài sản gia đình, người con trai thứ ba của ông là Trần Khắc Lang phải bán nhà và điền sản ở Bình Lập(nay là thành phố Tân An) để trả nợ. Từ đó, nhà Tổng Thận thuộc sở hữu của chính quyền thuộc Pháp tỉnh Tân An. Từ năm 1941, phát xít Nhật chiếm đóng nhà Tổng Thận để làm trụ sở Bộ chỉ huy quân đội Thiên Hoàng ở Tân An.

    Sau khi giành chính quyền công khai tại tỉnh lỵ Tân An vào ngày 22/8/1945, Nhà Tổng Thận được chọn làm trụ sở công khai của Tỉnh ủy Tân An.

    Chiều tối ngày 22/8/1945, sau cuộc mít ting mừng Cách mạng tháng Tám thành công, tỉnh ủy Tân An đã tổ chức Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng(có đại biểu các quận A, B, C, D) tại nhà Tổng Thận, do đồng chí Nguyễn Văn Trọng - Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Hội nghị đã quyết nghị những vấn đề quan trọng như: củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng cách mạng, tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng; mở lớp tập huấn du kích, phân công đồng chí Lê Văn Của phụ trách huấn luyện, đồng thời tăng cường vũ trang cho lực lượng du kích và phân công nhân sự tổ chức Đảng và chính quyền.

    Đến khoảng nửa đầu tháng 9/1945, tại nhà Tổng Thận, tỉnh ủy Tân An triệu tập hội nghị lần thứ hai do đồng chí Nguyễn Văn Hoằng- Bí thư Tỉnh ủy – chủ trì. Hội nghị đã bàn nhiều vấn đề quan trọng cần phải giải quyết ngay như: tiến hành hợp nhất các quận ủy: quận ủy A và D trở lại thành quận ủy Châu Thành, quận ủy B và C thành quận ủy Thủ Thừa; thành lập Tổng công đoàn tỉnh Tân An, cử đồng chí Nguyễn Văn Minh phụ trách; Bàn biện pháp củng cố xây dựng chính quyền, xây dựng các đoàn thể bằng việc tổ chức ngay hệ thống chính quyền từ quận đến xã….

    Và hội nghị lần thứ 3 của tỉnh ủy Tân An diễn ra tại nhà Tổng Thận vào cuối tháng 9/1945, do đồng chí Nguyễn Văn Hoằng – Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Nhận định tình hình thực dân Pháp sẽ quay trở lại, hội nghị đề ra những nhiệm vụ cấp bách và bàn kế hoạch chuẩn bị kháng chiến với các nội dung chính:

    Tranh thủ thời gian xây dựng,củng cố hệ thống tổ chức Đảng và chính quyền đều khắp các nơi, cũng như việc phát triển các đoàn thể quần chúng tham gia ủng hộ kháng chiến.

    Lãnh đạo nhân dân thực hiện việc bất hợp tác với Pháp, khẩn trương và tích cực chuẩn bị tản cư và sơ tán lực lượng cần thiết.

    Củng cố các lực lượng du kích, tăng cường luyện tập và sẵn sàng chiến đấu.

    Chọn hướng rút  và căn cứ rút cho các cơ quan đầu não.

    Hội nghị cũng tổ chức lại Tỉnh ủy chính thức gồm các đồng chí:

        Nguyễn Văn Hoằng (Ba Hoằng): Bí thư Tỉnh ủy.

        Nguyễn Văn Trọng (Chín Trọng): Phó bí thư Tỉnh ủy- phụ trách chính quyền.

        Lê Minh Xuân (Năm Xuân): Thường vụ Tỉnh ủy- phụ trách quân sự.

        Lê Văn Của (Mười Râu): Thường vụ Tỉnh ủy-phụ trách quân sự.

    Các Tỉnh ủy viên gồm: Nguyễn Văn Minh, Trần Dân Tâm, Phạm Văn Đã, Phạm Khương, Phạm Văn Trạch, Nguyễn Thanh Tùng, Lê Thị Vũ, Nguyễn Văn Mười.

    Cuối tháng 10/1945, quân Pháp tấn công tỉnh lỵ Tân An. Để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, tỉnh ủy Tân An rút khỏi nhà Tổng Thận về Mộc Hóa.

Sau năm 1975, nhà Tổng Thận thuộc sự quản lý của Ủy ban nhân dân thị xã Tân An. Ngày 12/11/1998, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định số 3148/1998/QĐ.UB, xếp hạng nhà Tổng Thận là di tích lịch sử cấp tỉnh. Năm 2009, nhà Tổng Thận được đầu tư kinh phí trùng tu, tôn tạo để phục vụ công tác giáo dục truyền thống và tham quan du lịch của tỉnh.

    Nhà Tổng Thận có tổng diện tích là 2039m2, trong đó ngôi nhà có diện tích 138.24m2. Hiện di tích có các phòng trưng bày theo chuyên đề: vài nét về Tân An xưa, nhà ở của gia đình thuộc tầng lớp trung lưu ở Tân An xưa, các hoạt động của Tỉnh ủy Tân An trong đó phục dựng cuộc họp lần thứ 3 của Tỉnh ủy Tân An vào cuối tháng 9/1945 chuẩn bị kháng chiến khi thực dân Pháp quay trở lại và dãy phòng giam phát xít Nhật để lại.

    Phòng trưng bày vài nét về Tân An xưa:

    Giới thiệu khái quát quá trình khai hoang lập ấp của cư dân Long An nói chung, cư dân vùng thành phố Tân An nói riêng và lược sử những thay đổi về địa giới hành chánh của vùng đất này. Phòng trưng bày cũng giới thiệu những sinh hoạt kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng,… của cư dân vùng đất Tân An xưa qua hệ thống hình ảnh, bản đồ, tranh vẽ minh họa, như: nhà khách của tỉnh, cầu xe lửa Tân An, nhà ga xe lửa, bệnh viện, ch, công viên, Đình Khánh Hậu, di tích lăng và mộ Đức tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức…. Và biểu bảng giới thiệu tiểu sử những bậc tiền nhân như Nguyễn Cửu Vân - người có công đào kinh Bảo Định khai phá đất Vũng Gù (Tân An), Nguyễn Trung Trực với trận đánh Pháp ngày 10/4/1861 trên sông Bảo Định.

    Nhà ở của gia đình thuộc tầng lớp trung lưu ở Tân An xưa

    Phòng trưng bày gồm hai gian trước và một gian sau và một phòng trên tầng lầu của ngôi nhà, trưng bày những đồ dùng của tầng lớp trung lưu thời xưa như: tủ thờ, lư hương đồng, bàn, ghế, đèn lồng kiến, bộ ấm tách trà và một số vật dùng trang trí kiểu Pháp như sa lông, ghế chạm, đèn chùm, bồn rửa mặt... Nhằm giới thiệu, phản ảnh nét sinh hoạt, phong cách sống của tầng lớp trung lưu ở Tân An nói riêng, Nam Bộ nói chung vào nửa đầu TK XX.

    Phòng trưng bày các hoạt động của Tỉnh ủy Tân An

    Đây là gian trưng bày rất đặc biệt, có thể nói chính là linh hồn của di tích lịch sử Nhà Tổng Thận, bởi nó phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng của tỉnh Tân An. Chính nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc họp của tỉnh ủy Tân An để đề ra những chủ trương, quyết định quan trọng; sắp đặt các công tác Đảng - công tác Đoàn thể, giải quyết nhiều vấn đề cấp bách trong thời kỳ mới giành được chính quyền. Những hoạt động đó của Tỉnh ủy Tân An có giá trị khởi đầu sự lãnh đạo của Đảng một cách hiệu quả ở thời điểm lịch sử đầy khó khăn.

    Dãy ba gian phòng giam phát xít Nhật để lại

    Tháng 7/1941, hàng vạn quân Nhật bắt đầu tràn vào miền Nam Đông Dương, vào Sài Gòn. Hiệp ước Pháp Nhật ký kết vào ngày 9/2/1941 về “phòng thủ chung Đông Dương” thực chất là đặt Đông Dương dưới quyền đô hộ của phát xít Nhật.

Xuống Tân An, lính Nhật chiếm trường Nam – Nữ tiểu học Tỉnh lỵ (nay là trường THPT Hùng Vương, cấp I Võ Thị Sáu), còn bộ chỉ huy chúng đóng ở tại Trại Cưa, Bến Tàu và Nhà Tổng Thận.

    Chiếm đóng Nhà Tổng Thận quân Nhật cho xây dựng thêm bên phía trái ngôi nhà lớn một dãy ba căn làm nơi giam giữ những người yêu nước hoạt động cách mạng. Hiện dãy phòng giam đã được phục dựng nguyên trạng để giới thiệu đến khách tham quan.

    Gần một thế kỷ tồn tại, di tích lịch sử Nhà Tổng Thận là một minh chứng rõ nét nhất về một thời kỳ lịch sử cách mạng của tỉnh Tân An xưa và Long An ngày nay. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân làm nên cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công gắn với xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, ghi dấu nét son riêng rất độc đáo Tân An vinh dự là tỉnh đi đầu trong tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 ở Nam bộ.

Di tích là một địa chỉ đỏ gợi nhớ về những ngày đầu cách mạng tháng 8/1945 thành công tại Tân An. Nhà Tổng Thận là nơi từng chứng kiến nhiều buổi họp quan trọng thể hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ, giải quyết nhiều vấn đề cấp bách ra các quyết định quan trọng đối với một tỉnh vừa khởi nghĩa thành công. Qua đó thấy được những nỗ lực, cố gắng vượt bậc của các bậc cách mạng tiền bối ở Tân An trong việc lãnh đạo một địa phương hòa nhập với phong trào cách mạng của cả nước bước đầu xây dựng chính quyền nhân dân, sẵn sàng chiến đấu khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nhằm bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc.

    Được xây dựng từ thời Pháp thuộc có niên đại cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ngày nay loại kiến trúc kiểu này còn lại rất ít. Công trình này ghi dấu công sức lao động của một tập thể con người trong lịch sử để lại là vốn tài sản văn hóa quý báo, là bằng chứng trung thành xác thực và cụ thể giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn về lịch sử một thời của đất và người Tân An xưa.

    Với những giá trị nêu trên, Nhà Tổng Thận được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ban hành quyết định số 3148/1998/QĐ.UB xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh nhằm phát huy giá trị di tích trong công tác giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng, lịch sử, văn hóa giúp du khách trong và ngoài nước hiểu và yêu hơn vùng đất Long An./. 

               

                                                                                        Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

                                                                                                Ảnh: Văn Ngọc Bích

29/05/2013 7:47 SAĐã ban hànhApproved
Tháng Giêng - mùa lễ hộiTháng Giêng - mùa lễ hội

 

Mỗi năm, cứ sau cái Tết Nguyên Đán là cả nước bắt đầu bước vào mùa lễ hội, mùa của các cơ sở tín ngưỡng dân gian như đình, chùa, miếu, lăng… tổ chức các lễ chính trong năm, mùa của những phong tục, lễ nghi truyền thống giàu tính nhân văn được tổ chức. Bởi thế cho nên dân gian có câu “tháng Giêng là tháng ăn chơi”….

Quả thật vậy, trên địa bàn tỉnh Long An, với con số 13 ngôi đình, 09 ngôi chùa và 08 ngôi đền, miếu được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cùng với con số không nhỏ cơ sở tín ngưỡng còn lại đều có lễ cúng diễn ra trong tháng giêng. Chẳng hạn, ở huyện Châu Thành, hàng năm vào ngày 15-16 tháng giêng, nhân dân trong vùng nô nức kéo nhau đến đình Tân Xuân tọa lạc tại thị trấn Tầm Vu để cúng đình và tham dự Lệ Làm Chay. Lệ Làm Chay hay còn gọi là Lễ Trai Đàn đã có từ hơn 100 năm trước với ý nghĩa cúng tế các chiến sĩ trận vong, anh hùng liệt sĩ, những người đã đóng góp xương máu mình cho Tổ quốc được độc lập tự do. Ngày nay, tính chất Lệ Làm Chay có mở rộng thêm là cúng cô hồn thập loại chúng sinh, đồng bào tử nạn, cầu cho “Quốc thái dân an”, “Phong điều vũ thuận”. Phần hội ngày càng phong phú với nhiều trò chơi dân gian và hiện đại thu hút đông đảo người dân tham dự. Con số vài chục ngàn người tham dự lễ hội Làm Chay đã nói lên được qui mô, sức thu hút và lan tỏa của lễ hội, đồng thời qua đó những giá trị lịch sử, văn hóa, tinh thần cố kết cộng đồng, các giá trị truyền thống tốt đẹp được chuyển tải đến mọi tầng lớp nhân dân. Đây là một trong số ít lễ hội đáp ứng được nhu cầu tham quan học hỏi, giáo dục các giá trị truyền thống, thỏa mãn nhu cầu tâm linh và vui chơi giải trí của nhân dân.

 Tọa lạc tại thị trấn Thủ Thừa, di tích lịch sử cấp quốc gia Đình Vĩnh Phong tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 17-18 tháng giêng âm lịch. Đây là lễ hội dân gian lớn nhất tại huyện Thủ Thừa, mục đích của lệ cúng Kỳ yên là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân dân an cư lạc nghiệp, đem lại an lành cho mọi gia đình. Vì tính cố kết cộng đồng và nhân văn sâu sắc của lễ hội nên tất cả mọi người đều đến chung lo, góp công góp của cho ngày lễ. Đặc biệt, lễ Kỳ yên đình Vĩnh Phong có nghi thức nghinh sắc rất long trọng.

Lễ hội Miếu bà Ngũ hành xã Long Thượng, huyện Cần Đước còn  được gọi là lễ vía Ngũ hành nương nương. Lễ diễn ra vào ngày 17-18 tháng giêng hàng năm, được tổ chức long trọng với các nghi thức và nghệ thuật diễn xướng dân gian như: chầu mời, thỉnh bà, dâng bông, dâng mâm, bán lộc, hát chặp Địa Nàng… Đặc biệt, màn hát chặp Địa Nàng là một tiết mục bóng tuồng hài hước đáng chú ý nhất trong các tiết mục hát bóng rỗi, ý nghĩa, nội dung của tiết mục này là cầu an cho dân chúng, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Lễ vía bà Ngũ hành nương nương hàng năm thu hút vài chục ngàn lượt người từ khắp nơi đến dự.

Và còn nhiều nữa những lễ hội ở các đình khác như  lễ Kỳ yên ở đình Bình Nhựt(xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức) vào ngày 16 tháng giêng, lễ Kỳ yên ở đình Chánh Tân Kim(xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc), đình Phước Lý (xã Phước Lý, huyện Cần Giuộc) diễn ra vào vào ngày 16-17 tháng giêng âm lịch. … Điểm qua một số lễ hội tiêu biểu để thấy rằng hầu hết các lễ Kỳ yên ở các đình đều diễn ra trong tháng giêng.

Với Phật giáo, rằm tháng giêng còn được gọi là Tết Nguyên Tiêu. Trong truyền thống Phật giáo Nam tông đây là lễ hội Cúng Dường Đức Phật đầu năm, cầu mong sự an lành, hạnh phúc, cầu cho quốc thái dân an. Vì thế, trong dịp này đông đảo người dân đến chùa bái Phật, tham dự nhiều nghi thức phật giáo và thực hành nhiều việc thiện… Hình ảnh đông đảo phật tử, nhân dân đến chùa cúng bái, chiêm ngưỡng vào ngày rằm tháng giêng đã trở nên quen thuộc, gần gũi và trở thành nét văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng.

Lễ hội thật sự đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa cộng đồng, thỏa mãn được nhu cầu hưởng thụ, sinh hoạt  văn hóa và tâm linh. Vì thế, mọi người dân, đặc biệt là các cấp, các ngành chức năng hãy cùng nhau chung tay gìn giữ những nét đẹp truyền thống, loại bỏ những tiêu cực, biến tướng, hạn chế và những yếu tố không còn phù hợp… để lễ hội luôn giữ đúng bản sắc vốn có, phát huy những giá trị tốt đẹp, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, để tháng giêng mãi là mùa lễ hội, mùa của niềm vui, anh lành và hạnh phúc!

Bài: Hồ Phan Mộng Tuyền

Ảnh: Lệ làm Chay, Đình Tân Xuân, Vía bà Ngũ hành, lễ Kỳ yên ở đình Chánh Tân Kim, đình Phước Lý, đình Tân Phước Tây, chùa Kim Cang, Tôn Thạnh…

 

 

 

Cúng Kỳ yên ở đình Tân Phước Tây, Tân Trụ

            

Cúng Chiêu U đường bộ                                            Cúng Chiêu U đường sông

 

 

Các trò chơi dân gian trong lễ hội Làm Chay huyện Châu Thành

                                                                 Hồ Phan Mộng Tuyền - Văn Ngọc Bích

29/05/2013 7:15 SAĐã ban hànhApproved
Di chỉ khảo cổ học Lò Gạch được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóaDi chỉ khảo cổ học Lò Gạch được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa

Ngày 2 tháng 04 năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ký Quyết định số 1101/QĐ- UBND, xếp hạng di chỉ khảo cổ học Lò Gạch (xã Vĩnh Trị, huyện Vĩnh Hưng). Đây là một di tích có giá trị lớn về mặt khoa học ở Nam Bộ, Việt Nam.

Di tích khảo cổ học Lò Gạch tọa lạc trên vùng trũng thấp của vùng Đồng Tháp Mười, được phân bố ở bờ phải sông Vàm Cỏ Tây (thuộc đoạn sông gọi tên là Lò Gạch), trên một gò đất cao khoảng 4m so với mặt đất tự nhiên, có diện tích 7.802m2. Địa danh Lò Gạch không rõ có từ bao giờ, chỉ biết rằng nơi đây xưa có nhiều lò gạch, chuyên sản xuất gạch, sành sứ… Có lẽ tên gọi Lò Gạch được lưu truyền từ đó. Trong lòng di tích chứa đựng những bí ẩn về một nền văn hóa cổ từ nhiều ngàn năm trước, được các nhà khảo cổ phát hiện và khám phá qua các lần thám sát và khai quật. Kết quả thám sát Lò Gạch vào năm 2003, năm 2012, và đặc biệt là cuộc khai quật vào năm 2005, đã phát hiện trong lòng di chỉ này 23 cụm gốm với hàng trăm ngàn mảnh gốm và hàng trăm hiện vật khảo cổ, 13 cụm xương và răng động vật cổ, 4 cụm di tích bếp, 2 cụm di tích đống nguyên liệu làm gốm, cụm di tích lò nung gốm. Các nhà khảo cổ nhận định địa điểm này có thể liên quan đến lò nung của một kiểu nung gốm ngoài trời mà cư dân Lò Gạch xưa đã sử dụng trong một thời gian dài, liên tục. Về hiện vật được phát hiện ở đây thì rất phong phú về chất liệu và đa dạng về loại hình. Qua thống kê có đến 378 hiện vật. Trong đó có 153 hiện vật gốm (thuộc loại hình như nồi, lọ, bình, dọi xe sợi…), 40 hiện vật đá (thuộc loại hình rìu, khuôn đúc, bàn mài, vòng tay..) và 176 hiện vật bằng xương, sừng (thuộc loại hình rìu, cuốc, mũi tên, mũi nhọn, bùa đeo, vòng tay…) cùng 9 hiện vật có chất liệu bằng sắt. Những hiện vật trên đã phản ánh phần nào về đời sống sinh hoạt của cộng đồng cư dân Lò Gạch xưa, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động săn bắt, chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp.

Các nhà khảo cổ nhận định Lò Gạch là di chỉ cư trú của cư dân thời đại kim khí (giai đoạn muộn), cách ngày nay 3.000- 2.200 năm. Nơi đây, cộng đồng cư dân cổ đã có quá trình sinh sống lâu dài khoảng 1.000 năm, với những hoạt động kinh tế- văn hóa phong phú, có mối quan hệ với các cộng đồng cư dân cổ khác ở Đông và Tây Nam Bộ. Nghiên cứu và bảo tồn di chỉ Lò Gạch sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ di chỉ và văn hóa cổ đại của Nam Bộ, Việt Nam trong đó có lịch sử cổ đại của tỉnh nhà.

                   Một số hình ảnh liên quan đến di tích khảo cổ học Lò Gạch

Toàn cảnh di tích khảo cổ học Lò Gạch

 

 Rìu - Bàn mài đá

 

Rìu - Bàn mài đá 2

 

Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên

 

Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên 2

 

 Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên 3

 

Rìu - Mũi nhọn - Mũi tên 4

                                                                                                           Đỗ Thị Lan
14/05/2013 2:27 SAĐã ban hànhApproved
Bộ sưu tập hạt chuỗi vỏ nhuyễn thể ở di chỉ khảo cổ học An SơnBộ sưu tập hạt chuỗi vỏ nhuyễn thể ở di chỉ khảo cổ học An Sơn

Di chỉ khảo cổ học An Sơn tọa lạc bên bờ trái sông Vàm Cỏ Đông, cách bờ sông khoảng 280m. Đây là một gò nổi hình bát úp có diện tích khoảng 10.000 m2. Các dấu tích văn hóa cổ được tìm thấy tập trung trên gò và khu vực chân gò phía Đông và Đông Bắc, bao gồm các khu vực cư trú và mộ táng. Di chỉ đã được học giả người Pháp, Henry Parmentier, phát hiện và đào thám sát lần đầu tiên vào năm 1938. Từ sau 1975, Bảo tàng Long An đã cùng với các cơ quan, trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước, phối hợp tổ chức tổng cộng 5 đợt khai quật tại di chỉ này (vào các năm 1978, 1997, 2004, 2007, 2009).

An Sơn là một trong những di chỉ lớn, có tầng văn hóa dày vào bậc nhất ở Nam bộ và cả Việt Nam. Các hố khai quật năm 1978 và 1997 trên đỉnh gò đã làm xuất lộ tầng văn hóa của di chỉ dày gần 5m. Hiện vật tìm thấy ở đây rất đặc sắc và đa dạng, bao gồm: công cụ đá có vai và không vai (rìu, cuốc, đục, dao…); công cụ (mũi nhọn, lưỡi câu, mũi giáo) và đồ trang sức (hạt chuỗi, vòng tay) chất liệu xương sừng; nhiều đồ đựng chất liệu gốm còn nguyên vẹn (bình, nồi, bát, bát mâm bồng, chậu, ly có chân cao…) cùng hàng vạn mảnh gốm vỡ với loại hình, chất liệu và hoa văn trang trí vô cùng phong phú.

Trong số những di vật kể trên thì bộ sưu tập hạt chuỗi bằng vỏ nhuyễn thể là loại một loại hình hiện vật rất đặc trưng của di chỉ An Sơn, được tìm thấy ở hầu hết các đợt khai quật, cả trong tầng văn hóa và trong mộ táng. Đặc biệt, trong đợt khai quật năm 2004, hơn 2000 hạt chuỗi đã được phát hiện trong một ngôi mộ của một người đàn ông, được đeo ở các vị trí cổ, tay trái và tay phải.

          
 Hạt chuỗi phát hiện trong Mộ 1 của đợt khai quật An Sơn năm 2004  Hạt chuỗi hình ống lớn phát hiện ở An Sơn trong đợt khai quật năm 2004 và 2007
Hạt chuỗi hình ống nhỏ phát hiện trong đợt khai quật năm 2004, 2007 và 2009  Hạt chuỗi hình ovan phát hiện trong đợt khai quật năm 2004 
 Hạt chuỗi hình đĩa phát hiện trong các đợt khai quật năm 1997, 2004, 2007 và 2009 Nét tương đồng giữa hạt chuỗi An Sơn và hạt chuỗi tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ học ở Thái Lan 

                                                                                   Bài và ảnh: Trần Thị Kim Quý

14/05/2013 1:30 SAĐã ban hànhApproved
CẦN ĐƯỚC HƯỞNG ỨNG HOẠT ĐỘNG “ÁO DÀI - DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM” CẦN ĐƯỚC HƯỞNG ỨNG HOẠT ĐỘNG “ÁO DÀI - DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM”

Hưởng ứng hoạt động "Áo dài - Di sản văn hóa Việt Nam" do Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động, Liên đoàn Lao động huyện Cần Đước phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện tổ chức phát động, thực hiện tuần lễ mặc áo dài từ ngày 02-06/3/2020.

10.1 Chị em phụ nữ mặc áo dài chào cờ đầu tháng 3.2020.JPG

Tuần lễ mặc áo dài được phát động đến các cấp công đoàn cơ sở và các cấp hội phụ nữ trong huyện gắn với các hoạt động chào mừng kỷ niệm 110 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (08/3/1910 - 08/3/2020), 1980 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và 8 năm Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3/2012 - 20/3/2020). Hoạt động này khuyến khích cán bộ, hội viên, phụ nữ mặc trang phục áo dài trong các hội nghị, sự kiện của quê hương, đất nước và trong các sự kiện của gia đình, cộng đồng; vận động mặc áo dài trong ngày làm việc phù hợp với đặc thù nghề nghiệp, thuận tiện, an toàn lao động nhằm lan tỏa vẻ đẹp của chiếc áo dài truyền thống tại nơi làm việc và nơi sinh sống. Ông Đặng Văn Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện cho biết: "Đây là đợt phát động có ý nghĩa nhằm hưởng ứng chào mừng Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, qua đó khơi dậy truyền thống của phụ nữ Việt Nam, tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ Việt".

10.2 Phụ nữ mặc áo dài truyền thống hưởng ứng hoạt động “Áo dài-di sản văn hóa Việt Nam”_.JPG

Tuần lễ mặc áo dài nhằm khẳng định giá trị của áo dài trong đời sống xã hội, tôn vinh vẻ đẹp và vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Đồng thời khơi dậy niềm tự hào, trách nhiệm giữ gìn và phát huy di sản văn hóa áo dài Việt Nam trong mỗi người dân./.

Cẩm Tú - Hồng Phong  

06/03/2020 5:00 CHĐã ban hànhApproved
1 - 30Next
Ảnh
Video
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH LONG AN
Chịu trách nhiệm chính: Bà Nguyễn Thị Thủy​ - Phó Giám đốc Sở
Địa chỉ: ​Số 03 Võ Văn Tần, Phường 2, Thành phố Tân An
Điện thoại : (072) 3826 452​ ​ * Fax: (072) 3832 042 ​ * Email: nguyenthithuy@longan.gov.vn; svhttdl​​​​@longan.gov.vn​​
​ ​